Nhân Gian Có Màn

Chương 44: Đầu Mối Trong Hồ Sơ

Đăng: 14/09/2026 12:05 3,946 từ 3 lượt đọc

Gió bấc thổi thốc từng cơn buốt giá qua lòng lạch cạn, cuốn theo lớp bụi cát li ti và mùi sương muối nồng nặc của buổi sớm mùa đông.

Tiếng gõ cộc... cộc... từ bên trong cỗ quan tài độc mộc tuy đã ngắt hẳn, nhưng dư âm khô khốc của nó dường như vẫn còn mắc kẹt lại giữa hai vách đá vôi tai mèo sừng sững. Toàn bộ bến Cổ Am rơi vào một bầu không khí tĩnh mịch, ngột ngạt đến nghẹt thở.

Trên bờ đá cao, đám phu dịch và tuần đinh dạt cả về mé sau rặng xoan trơ cành. Mấy chục con người mặt mày xám ngoét như tro bếp, tay lăm lăm xà beng, gậy gộc nhưng đầu gối nhiều người đã mềm nhũn ra, không một ai dám đặt chân xuống lớp bùn lầy thụt thêm nửa bước.

Tào Đốc Lại đứng chết trân bên bờ kè đá hộc. Thanh đoản đao trên tay gã chúc xuống đất. Miệng mở ra rồi khép lại, quai hàm giật từng hồi bạnh ra, nhưng tuyệt nhiên không còn tiếng quát tháo nào bật ra khỏi cuống họng. Cơn sốt ruột vì hai ngàn hộc gạo tô bị một nỗi kinh hoàng vô hình đè nghẹt lại giữa lồng ngực.

Dưới đáy phễu bùn vừa sụt lún, Vương Quang vẫn đứng nguyên tại chỗ.

Gió lạnh quất phần phật vào vạt áo chàm đẫm bùn xám xịt của hắn. Hơi lạnh từ lòng bùn sâu ngấm qua lớp ủng da trâu buốt tận xương tủy, nhưng toàn bộ tâm trí hắn lúc này đều dồn vào cỗ quan tài gỗ lim đen thẫm nằm nghiêng chéo ngay dưới chân.

Lớp bùn nhão xung quanh thành quan tài không hề đứng yên.

Cây cọc thứ ba vừa bị bẩy nghiêng, lớp bùn quanh chân cọc lập tức nứt thêm từng vệt dài ngoằn ngoèo. Những mảng đất mềm trượt xuống từng đợt rào rào, kéo theo cỗ quan tài độc mộc nhích dần về phía miệng hố sụt dưới chân vách đá.

Từ miệng hố ngầm đen ngòm ấy, những bọt khí tanh tưởi vẫn lụp bụp sủi lên, kèm theo những âm thanh ục ục đục ngầu như tiếng bụng đói của một con quái vật ẩn mình trong lòng núi đá vôi.

Vương Quang nhìn mép đất đang rạn nứt dưới chân cỗ quan tài. Hắn hiểu rất rõ địa hình lòng sông: nếu cỗ quan tài dài hơn một trượng này trượt hẳn xuống hang đá ngầm, nó sẽ mắc kẹt ngang miệng họng thoát nước hoặc kéo sập toàn bộ tầng đất xốp xung quanh. Khi đó, cả bãi bồi Cổ Am sẽ sụp đổ theo, cuốn phăng toàn bộ dấu vết vật chất vào lòng nước sâu. Và quan trọng hơn cả, hắn sẽ vĩnh viễn mất đi manh mối duy nhất để tìm ra danh phận của cái xác, trả nợ cho bóng đen mang xích sắt trước khi hạn ba ngày kết thúc.

"Tào Đốc Lại."

Vương Quang cất tiếng. Giọng nói của hắn khàn đặc vì ngấm gió bấc suốt đêm, nhưng đanh đục và ráo hoác, vang lên rõ ràng giữa sự tĩnh lặng của bến sông.

Tào Đốc Lại giật mình đánh thót một cái, ngơ ngác nhìn xuống lòng lạch: "Thầy... Thầy Ký gọi ta?"

"Cỗ quan tài đang trượt dần về phía miệng hố sụt," Vương Quang đưa bàn tay trái chỉ vào những khe nứt đang mở rộng dưới đáy bùn: "Nếu nó lọt vào hang đá vôi, vòm hang có thể sập xuống, bít kín dòng thoát ngầm. Khi ấy đất đá sạt lở sẽ kéo theo cả bờ kè và móng kho của trạm dịch. Tám chiếc thuyền chở gạo ở lạch trên không những không cứu được, mà cả bến này cũng thành bãi đất sụt."

Tào Đốc Lại biến sắc. Gã đưa mắt nhìn lớp bùn đang trôi lở ràn rạt dưới chân cỗ quan tài, mồ hôi trán vã ra ướt đẫm dù gió đông bắc đang thổi buốt da cắt thịt. Nỗi sợ mất đầu vì hỏng gạo tô lập tức lấn át sự hoang mang ma quỷ.

"Ngươi... Ngươi bảo phải làm thế nào?" Tào Đốc Lại lắp bắp, giọng run rẩy.

"Lấy hai cây cọc sắt neo thuyền đóng sâu vào kẽ đá gốc bên bờ kè," Vương Quang ra lệnh dứt khoát, khẩu khí rành mạch như một viên đề lại đang điều phối việc đê điều: "Thòng hai sợi dây chão xơ dừa qua mấu đá, quàng vòng qua hai đầu cỗ quan tài để ghìm chặt lại tại chỗ. Đây là cách neo tạm mà những bến sông lớn vẫn dùng khi giữ thuyền khỏi dòng nước xiết. Tuyệt đối không được kéo giật mạnh, chỉ chằng néo để nó không trôi xuống hố ngầm. Làm ngay!"

Tào Đốc Lại như vớ được cọc, lập tức quay sang đám tuần đinh và phu trạm, quát lớn:

"Nghe thầy Ký bảo chưa? Thằng Sẹo, thằng Cửu! Vác cọc neo thuyền với búa tạ lại đây! Đứa nào lùi bước, ta phạt ba mươi trượng da trâu!"

Trước mệnh lệnh gay gắt của viên Đốc lại và quyền uy của chiếc thẻ sắt Khâm Thiên Giám, bốn tên phu trạm lực lưỡng đành cắn răng trèo xuống bờ kè đá. Bọn họ không dám nhìn thẳng vào cỗ quan tài bọc nhựa đen, chỉ cắm cúi vác hai cây cọc sắt dài sáu thước nện mạnh vào kẽ nứt của phiến đá gốc nhô ra mé bờ.

Choang! Choang!

Tiếng búa tạ giáng xuống đầu cọc sắt vang lên chát chúa. Từng mẩu đá vụn bắn tung tóe. Khi hai cây cọc sắt đã ăn sâu vào đá tảng ngập quá nửa thân, đám phu trạm vội vã quăng hai đầu dây chão xơ dừa to bằng bắp tay xuống lòng phễu bùn.

Vương Quang bước qua lớp bùn lầy thụt ngập đến đầu gối, tự tay đón lấy đầu dây chão.

Mỗi cử động cúi gập người là một lần thanh nẹp đồng đen Chân Thư Bút ở cổ tay phải thúc mạnh vào vết loét. Cơn đau buốt nhói xộc thẳng lên bả vai, khiến hắn phải cắn chặt môi dưới, nén từng hơi thở khè khè qua kẽ răng. Hắn tì chặt cánh tay phải vào mạng sườn để cố định thanh gá kim loại, chỉ dùng những ngón tay thô ráp của bàn tay trái để luồn sợi dây chão qua gầm hai đầu cỗ quan tài độc mộc.

Sợi xơ dừa thô ráp cọ vào da thịt rát bỏng. Bằng sự khéo léo của một kẻ từng ba năm làm đủ thứ việc nặng nhọc ở tàng thư lầu, Vương Quang dùng một tay thắt chặt hai nút néo hình số tám quanh thân gỗ lim, rồi ra hiệu cho đám phu trạm trên bờ kéo căng đầu dây, buộc chặt vào cọc sắt.

Rắc...

Hai sợi dây chão căng lên như dây đàn. Thân cỗ quan tài khổng lồ khẽ rung lên một nhịp rồi đứng khựng lại giữa bãi bùn lún, triệt tiêu hoàn toàn đà trượt về phía miệng hố sụt ngầm.

Làm xong mối buộc cuối cùng, trán Vương Quang đã lấm tấm mồ hôi lạnh quyện với bùn non xám xịt. Hắn chống thanh Thiết Xích Khảo Sát xuống bùn, đứng thẳng người dậy, quay sang nhìn Tào Đốc Lại và Phan Chủ bạ đang đứng co ro trên bờ đá:

"Lên trạm dịch. Lập biên bản phụ bản và mở hồ sơ cũ."

Gian nhà sàn ba gian của Trạm Dịch Cổ Am lúc này lạnh lẽo và tĩnh mịch.

Khói từ chõ than củi ẩm bốc lên mờ mịt, quẩn quanh các vách nứa nứt nẻ rồi len lỏi thoát ra các khe đá vôi trên trần. Trên chiếc bàn mộc dài kê giữa phòng, chiếc đĩa đèn dầu lạc mới được châm lại, ngọn lửa vàng vọt le lói chao đảo theo từng cơn gió lùa, soi rõ ba khuôn mặt hốc hác, căng thẳng tột cùng.

Vương Quang ngồi ở mép bàn bên tả, cẩn thận trải một tờ giấy bản dày màu ngà xỉn lên mặt gỗ nghiến phẳng phiu. Hắn tháo chiếc ống tre bên hông, lấy ra một thỏi mực nho rẻ tiền đã mòn vẹt đầu và chiếc bút lông thô ráp.

Cánh tay phải của hắn đã cứng đờ vì buốt giá và đau nhức, các ngón tay co quắp không thể cầm bút theo lối thông thường. Vương Quang không cố gượng ép cánh tay tàn tật. Hắn dùng bàn tay trái cầm que tre mài mực, chậm rãi miết thỏi mực vào lòng nghiên đá nhỏ. Từng giọt mực đen đặc quánh dần dần hình thành dưới sự kiên nhẫn lạnh lùng của hắn.

Hắn đổi bút sang tay trái.

Ngón tay trỏ và ngón cái của bàn tay trái kẹp chặt cán tre thô ráp. Nét chữ viết bằng tay trái của hắn không thể bay bổng, mềm mại như lối chữ chân phương của đám thư lại kinh thành; từng nét hạ xuống mặt giấy bản đều vuông vức, góc cạnh, cứng cỏi như những vết đục khắc trên bia đá:

“Hành Trình Ty Khảo Sát — Phụ bản Biên bản Hiện trường số 01. Địa điểm: Bến sông Trạm Dịch Cổ Am, ngã ba sông Đáy và sông Cốc. Thời khắc: Đầu giờ Thìn, ngày mười sáu tháng Chạp. Hiện trạng: Việc Đốc Vận ty tự tiện bẩy nghiêng cọc gỗ chữ chi thứ ba khiến nền bùn quanh chân cọc nứt toác, hố sụt ngầm mở rộng và nước lạch rút mạnh vào lòng hang. Dưới chân bãi cọc phát lộ một cỗ quan tài độc mộc dài một trượng hai thước, bọc lớp vỏ cây và nhựa đen, bề mặt khắc ký hiệu ba vòng tròn đồng tâm xuyên rãnh thẳng. Quan tài hiện đã được cố định tạm thời bằng dây chão vào cọc neo đá gốc. Xử lý: Đình chỉ mọi hành vi phá cọc hoặc đào rãnh khơi dòng cho đến khi đối chiếu xong hồ sơ lưu trữ và xác định rõ lai lịch hiện trường...”

Viết xong dòng chữ cuối cùng, Vương Quang đặt chiếc bút lông xuống nghiên đá, đưa mắt nhìn thẳng vào hai người đối diện.

"Mời Tào Đốc Lại và Phan Chủ bạ ký tên, điểm chỉ vào biên bản."

Tào Đốc Lại nhìn những dòng chữ mực đen nhánh còn chưa kịp khô trên mặt giấy bản, quai hàm bạnh ra, sắc mặt hết xanh lại đỏ. Gã hiểu rất rõ: một khi ký tên vào tờ giấy này, toàn bộ trách nhiệm về việc tự ý bẩy cọc làm sụt lở lòng sông sẽ được ghi lại rành rành trong sổ lưu của Khâm Thiên Giám; nhưng nếu gã cự tuyệt, Vương Quang sẽ lập một biên bản riêng khép gã vào tội cản trở công vụ khẩn cấp của triều đình.

Gã nghiến chặt răng, giật lấy chiếc bút lông trên tay Vương Quang, quẹt nguệch ngoạc ba chữ Tào Hữu Đức rồi ấn ngón tay cái dính mực son đỏ chót vào góc trang giấy.

"Ký thì ký!" Tào Đốc Lại ném mạnh cây bút xuống bàn, gằn giọng: "Nhưng ta nói trước: gạo tô của Hộ Bộ kẹt trên thuyền chỉ chờ được đến hết ngày mai! Nếu hết ngày mai mà Khâm Thiên Giám các ngươi không tìm ra cách giữ nước để nâng đáy thuyền, ta sẽ cho người phi ngựa trạm về phủ đường bẩm báo quan Biền sứ mang thuốc súng nổ mìn phá thông luồng! Đến lúc ấy, hậu quả thế nào các ngươi tự đi mà gánh!"

Vương Quang bình thản kéo tờ giấy bản về phía mình, thổi nhẹ cho lớp mực mau khô, rồi xoay đầu nhìn sang Phan Chủ bạ đang ngồi thu lu bên cạnh:

"Phan Chủ bạ, đến lượt ông."

Phan Chủ bạ run rẩy đưa ngón tay gầy guộc chấm vào nghiên mực son, ấn một dấu chỉ đỏ nhạt vào bên cạnh chữ ký của Tào Đốc Lại.

Khi dấu tay vừa in xuống mặt giấy, Vương Quang không thu biên bản lại ngay. Con mắt trái đen nhánh của hắn dừng lại, nhìn chằm chằm vào chiếc tráp sơn then mà viên Chủ bạ vẫn ôm khư khư trong lòng từ đêm qua đến giờ.

"Phan Chủ bạ," Vương Quang cất giọng trầm đục: "Đêm qua ông bảo trong Huyện Chí đời trước có chép phong thanh về hàng cọc 'Yểm Thủy Khẩu' thời Lý. Chiếc tráp sơn then này ông mang từ kho huyện ra, bên trong chứa những gì?"

Phan Chủ bạ giật thót mình, hai cánh tay vội vàng siết chặt lấy chiếc tráp gỗ, lúng búng thoái thác:

"Cái này... Đây chỉ là sổ đinh và địa bạ lưu trữ của các tổng ven sông... Là tài liệu lưu trữ nội bộ của huyện nha, không... không tiện để người ngoài xem xét..."

Vương Quang nhìn thẳng vào mắt viên Chủ bạ già. Hắn không nổi giận, chỉ đưa bàn tay trái tháo tấm thẻ bài sắt đen bọc góc đồng xỉn bên thắt lưng ra, đặt cạch một tiếng lạnh ngắt lên mặt bàn mộc.

"Tài liệu liên quan đến hiện trường khảo sát phải được trích lục," Vương Quang cất giọng phẳng lặng nhưng nặng trịch từng chữ: "Tấm thẻ Hành Trình Ký Lục này đại diện cho quyền khảo sát của Ty Khảo Sát. Nếu ông ngăn cản, ta sẽ ghi nguyên văn việc huyện nha Cổ Am từ chối cung cấp hồ sơ địa bạ vào biên bản phụ bản này, gửi thẳng về phủ đường và Khâm Thiên Giám."

Lời nói của Vương Quang rơi xuống như một tảng đá đè nặng lên ngực viên Chủ bạ.

Hắn không viện dẫn những điều luật đao to búa lớn xa xôi, hắn chỉ dùng chính quy trình giấy tờ công môn để trói chặt đối phương. Ở chốn quan trường địa phương, không có thứ gì đáng sợ hơn việc tên tuổi của mình bị ghi vào một bản tấu trình bất lợi gửi lên các nha môn thượng tầng ở Kinh sư.

Phan Chủ bạ nuốt khan một ngụm nước bọt đắng ngắt. Lão liếc nhìn sang Tào Đốc Lại, thấy viên Đốc lại đang khoanh tay đứng nhìn với vẻ mặt lạnh tanh như muốn kéo kẻ khác cùng xuống bùn, lão biết mình đã không còn đường thoái thác.

Lão già thở dài sườn sượt, run rẩy rút từ trong dải thắt lưng ra một chiếc chìa khóa đồng nhỏ xỉn màu gỉ xanh.

Cạch.

Ổ khóa bật mở. Nắp chiếc tráp sơn then từ từ được nhấc lên.

Một mùi giấy bản mủn nát, mùi lưu huỳnh xông gián và mùi ẩm mốc lâu năm lập tức bốc ra nồng nặc.

Bên trong tráp không có vàng bạc hay văn tự bí mật nào, chỉ có năm cuộn giấy bản dày màu nâu sẫm, mép giấy đã bị mọt và gián nhấm nham nhở từng mảng lớn, được buộc lại bằng những sợi chỉ gai thô đã mục rã. Trên đầu mỗi cuộn giấy có dán một mảnh nhãn điều đỏ đã bạc phếch thành màu hồng nhạt.

Vương Quang đưa bàn tay trái cẩn thận nhấc từng cuộn giấy ra đặt lên mặt bàn:

Cuộn thứ nhất: Sổ Đinh Tổng Cổ Am — Niên hiệu Cảnh Hưng thứ bốn mươi. Cuộn thứ hai: Bản Đồ Bãi Bồi Thủy Trình — Niên hiệu Gia Long thứ ba. Cuộn thứ ba: Địa Bộ Đo Đạc Cửa Sông — Niên hiệu Minh Mạng thứ mười hai.

Hắn lần giở nhanh ba cuộn giấy đầu tiên. Đó chỉ là những bản thống kê thuế đinh, ruộng cấy và các vụ tranh chấp bến bãi thông thường giữa các dòng họ ven sông qua các thời kỳ, hoàn toàn không có dòng nào nhắc tới cọc gỗ hay hiện tượng nước rút cạn.

Đến cuộn thứ tư, tay Vương Quang bỗng khựng lại.

Cuộn giấy này mỏng hơn những cuộn khác, nhưng chất giấy dày và dai hơn hẳn giấy bản thô của huyện nha. Mép giấy còn quét một lớp sáp ong mỏng, rõ ràng từng được làm để chống ẩm khi mang đi đường xa trong các chuyến công vụ dài ngày. Vương Quang chưa dám đoán nó thuộc kho lưu trữ nào, nhưng chắc chắn nó không phải sản phẩm của một huyện lỵ hẻo lánh.

Trên mảnh nhãn điều dán ngoài cuộn giấy, những nét chữ viết bằng mực son đã phai thành màu nâu gạch hiện ra mờ mờ:

“Cổ Am Thủy Mạch Dị Ký — Quyển Lục (Sao lục bản tàng thư phủ đường).”

Vương Quang khẽ nheo con mắt trái. Hắn nhìn sang Phan Chủ bạ: "Bản này chép từ bao giờ?"

Phan Chủ bạ lau mồ hôi trán, giọng thì thào: "Bẩm thầy Ký... Đây là bản chép tay của cụ cố tôi, đời trước từng làm Lại mục ở phủ đường. Khi huyện Cổ Am tách tổng lập huyện sáu mươi năm trước, cụ cố tôi đã lén sao lại bản lưu này từ kho tàng thư của phủ mang về cất giữ, dặn con cháu đời sau hễ làm việc ở trạm dịch hay nha môn Cổ Am thì phải giữ kỹ, tuyệt đối không được để thất lạc..."

Vương Quang không nói thêm lời nào. Hắn cẩn thận gỡ sợi chỉ gai mục nát quấn quanh cuộn giấy, chậm rãi trải phẳng từng đoạn lên mặt bàn gỗ.

Từng hàng chữ thảo chân phương viết bằng thứ mực đen nhánh không phai hiện ra dưới ánh đèn dầu lạc:

“...Năm Khai Tự thứ bẩy, mùa đông tháng Chạp, ngày mười bốn. Ngã ba Cổ Am dòng nước bỗng sôi sùng sục, sương muối phủ kín ba dặm lòng sông, cá tôm chết trắng bãi sỏi. Triều đình hạ chỉ phái đoàn công vụ gồm sáu người, dẫn đầu là Hành Trình Ký Lục họ Doãn, cùng hai viên thợ mộc và ba phu trạm mang công lệnh ngược dòng sông Đáy lên ngã ba Cổ Am khảo sát. Đoàn công vụ mang theo mười tám cây cọc gỗ lim nẹp đồng, đục rãnh dẫn thủy, nện theo trận đồ chữ chi để ghìm giữ mạch ngầm hang đá vôi. Đêm mười lăm tháng Chạp, công trình cắm cọc hoàn tất. Đến giờ Dần ngày mười sáu... sương đen từ đáy sông bốc lên cuồn cuộn. Toàn bộ sáu người trong đoàn công vụ của Ký lục họ Doãn bỗng nhiên mất tích không một dấu vết. Ngựa trạm, hòm xiểng công cụ đều còn nguyên trên bờ đê, nhưng người thì biến mất. Quan phủ đường sau đó cho quân lặn xuống lạch đáy tìm kiếm suốt mười ngày đêm, chỉ vớt được một chiếc ủng da nẹp chỉ và một thanh đoản nhận gãy chuôi. Việc ấy niêm phong hồ sơ, cấm dân đinh qua lại bãi sông vào ban đêm, đặt tên khúc sông là Yểm Thủy Khẩu...”

Ngón tay Vương Quang dừng lại trên mặt giấy bản ố vàng.

Năm Khai Tự thứ bẩy. Đêm mười lăm rạng sáng ngày mười sáu tháng Chạp. Giờ Dần. Đoàn công vụ sáu người của Hành Trình Ký lục họ Doãn mất tích.

Từng mốc thời gian ghi trong cuộn giấy bìa dó cũ kỹ trùng khớp một cách kỳ lạ với những gì đang diễn ra dưới chân bến Cổ Am lúc này.

Một trăm năm mươi năm trước, nơi này từng có một Ký lục mang họ Doãn đến làm công vụ rồi mất tích. Và cỗ quan tài dưới hàng cọc xuất hiện đúng vào rạng sáng ngày mười sáu tháng Chạp.

Trùng hợp ấy quá gần để bỏ qua, nhưng cũng quá ít để gọi thành chứng cứ.

Vương Quang nhìn dòng chữ chép về sáu con người biến mất trong sương đen. Hồ sơ không hề ghi chép họ bị thứ gì bắt đi, cũng không có kết luận nào về ma quỷ cõi âm; người xưa chỉ ghi nhận một sự thật trần trụi: ngựa còn, hòm còn, người biến mất.

Hắn khép hờ con mắt phải mờ xám đang nhức buốt. Một loạt câu hỏi lạnh ngắt dội lên trong đầu hắn:

Liệu cỗ quan tài độc mộc bọc vỏ cây chít dưới đáy bùn kia có chứa thi thể của vị Ký lục họ Doãn năm xưa hay không?

Hay nó chứa một người khác trong đoàn sáu người?

Hay Doãn đã chết ở một nơi khác, và cỗ quan tài này thuộc về một sự kiện hoàn toàn khác mà hồ sơ phủ đường không hề ghi lại?

Thậm chí, câu chuyện về đoàn công vụ sáu người mất tích này... liệu có phải chỉ là một phần sự thật đã bị bàn tay quan trường thời trước cắt gọt, chỉnh sửa để che giấu một tội ác tương tự như vụ dìm người ở bãi Cổ Miễu mười năm trước?

Bốn khả năng ấy đan xen vào nhau như một mớ chỉ gai rối rắm. Nhưng bất kể sự thật là gì, một điều chắc chắn đã hiện rõ: cỗ quan tài dưới đáy sông không phải một hiện tượng ngẫu nhiên, mà là một món nợ cũ từ hơn một thế kỷ trước đang trồi lên mặt đất đòi câu trả lời.

"Lão Trạm thừa," Vương Quang bỗng ngẩng đầu nhìn ông già gác trạm đang ngồi thu lu bên góc cột.

Lão Trạm thừa ngước đôi mắt kèm nhèm, đục ngầu lên nhìn Vương Quang. Bàn tay khẳng khiu như cành củi khô cầm que cời than của lão khẽ run lên một nhịp.

"Ba mươi năm trông nom trạm dịch này," Vương Quang hỏi chậm rãi: "Ông có từng nghe ai trong vùng nhắc đến người nào mang họ Doãn, hay có ngôi mộ nào mang họ Doãn quanh các sườn đồi này không?"

Lão Trạm thừa nuốt khan một cục đờm nghẹn ứ nơi cổ họng, đưa vạt áo chẽn lau khóe mắt rỉ ghèn. Lão ngẫm nghĩ hồi lâu, giọng khàn như tiếng lá khô bị vò nát:

"Bẩm thầy Ký... Ba mươi năm ta ở trạm này, những nhà quanh đồi phần lớn là họ Phan, họ Lê với họ Quách khai hoang lập ấp... Ta chưa từng nghe ai trong vùng mang họ Doãn."

Lão già ngập ngừng một nhịp, đưa mắt liếc nhìn ra ngoài trời đông buốt giá rồi hạ thấp giọng xuống thêm nửa bậc:

"...Nhưng ở mạn ngược sông Cốc cách đây năm dặm, sâu trong hẻm núi Hang Dơi... có một bãi tha ma cũ của phường thợ đẽo đá thời trước. Người ta đồn rằng ở đó có một ngôi mộ gió không tên, trước mộ không cắm bia đá, mà cắm một cây cọc gỗ lim cụt đầu có đục rãnh xoắn ốc..."

Vương Quang khẽ giật mình.

Cọc gỗ lim cụt đầu có đục rãnh xoắn ốc.

Giống hệt hình dạng của hàng cọc gỗ đang cắm chữ chi dưới đáy bùn ngã ba Cổ Am.

Một đầu mối vật lý mới đã xuất hiện.

Vương Quang chậm rãi cuộn tờ giấy bản Cổ Am Thủy Mạch Dị Ký lại, cất vào chiếc tráp sơn then, rồi đứng dậy bước lại gần khung cửa sổ nhìn về phía hẻm núi Hang Dơi mịt mùng trong sương sớm.

Thời gian của hắn chỉ còn lại hai ngày.

0
Ủng hộ tác giả Cương Vương Nếu bạn yêu thích tác phẩm, hãy ủng hộ mình ly cafe nhé <3