Chương 50: Đầu Trưởng Phường Mỏ
Nhân Gian Có Màn
Mục lục
54 chươngCuộn, vuốt hoặc dùng hai nút để xem thêm Đã tải 54/54 chương
Gió bấc rít qua những khe rào cọc gỗ vót nhọn, cuốn theo tàn thuốc cay xè từ chiếc tẩu đồng thau của Quách Hắc Báo phả thẳng vào mặt Vương Quang.
Mùi thuốc lào gắt nồng quyện lẫn mùi vôi nung và hơi đá ướt khiến Chu Bá Cửu đứng bên cạnh phải thụt lùi nửa bước, đưa vạt áo da trâu lên che mũi. Nhưng Vương Quang vẫn ngồi nguyên trên lưng ngựa, con mắt trái đen nhánh không hề chớp, phẳng lặng nhìn xoáy vào đôi mắt một mí ti hí của người đối diện.
Hắn không vội vàng thừa nhận, cũng không phủ nhận.
Trong công môn, kẻ nào mở miệng để lộ thông tin trước khi xác lập được vị thế, kẻ đó tự trao quyền xét hỏi vào tay đối phương. Vương Quang chậm rãi thu tấm thẻ sắt đen vào lòng bàn tay trái, ngón tay cái miết nhẹ lên gờ góc bọc đồng đã sứt sẹo, giọng nói ráo hoác:
"Bến Cổ Am có biến cố gì, Ty Khảo Sát và Ty Đốc Vận dưới ấy khắc có biên bản tấu trình. Quách Đầu trưởng ngồi ở ngã ba Khe Vôi cách ba mươi dặm đường rừng, tin tức xem ra còn nhanh nhạy hơn cả ngựa trạm huyện nha."
Quách Hắc Báo nghe vậy, khóe miệng giật nhẹ một cái dưới hàng râu kẽm xơ xác. Gã không cười, chỉ đưa chiếc tẩu đồng lên môi rít thêm một hơi dài. Đốm than đỏ rực trong nõ tẩu bừng sáng lên rồi lụi tàn, phả ra một luồng khói xám che khuất nửa khuôn mặt vuông vức:
"Thầy Ký không cần dùng lời lẽ công môn để nắn gân ta. Ta chỉ là một kẻ đục đá kiếm cơm thừa lệnh trông coi bến bãi, chẳng có tai mắt nào ở huyện nha cả. Nhưng sông Cốc chảy qua trước cửa trạm này, nước chảy từ lòng núi ra, con cá con tôm dưới đáy bến này cựa quậy thế nào lũ thợ đá bọn ta đều thấy."
Gã hạ chiếc tẩu thuốc xuống, đầu cán đồng dài hai thước gõ nhẹ ba tiếng cộc... cộc... cộc... xuống thanh xà ngang của cổng rào:
"Canh một đêm qua, nước ở ngã ba Khe Vôi này tự nhiên hụt xuống nửa thước mà không có dấu hiệu vỡ đê ở hạ lưu. Đến nửa đêm, thuyền chở đá của phường ta đậu ở khúc lạch trên tự nhiên dập dềnh không yên vì nước ngầm dưới đáy hang vôi trào ngược bọt trắng. Người của ta kéo lưới ở ghềnh đá vớt được ba con lợn chết trôi từ phía bến nung trôi xuống, mõm nhét đầy thứ tro xám bọc nhựa đen."
Ánh mắt Quách Hắc Báo chuyển từ khuôn mặt hốc hác của Vương Quang xuống vết bùn xám pha vôi bám trên đôi ủng da của Chu Bá Cửu và vạt áo chàm của người Ký lục:
"Đến sáng sớm nay, một chiếc thuyền đò rỗng từ mạn hạ lưu chèo vội lên báo tin: Dưới bến Cổ Am nước cạn trơ đáy sỏi, cọc gỗ cắm từ thời Khai Tự bị bới nghiêng, làm lộ ra một cỗ quan tài độc mộc rỉ nước nhờn. Đốc Lại Tào Hữu Đức toan cho châm lửa đốt bến, nhưng có một viên Ký lục tay phải mang nẹp đồng của Khâm Thiên Giám dùng bao cát với vôi sống chèn lại... Thầy Ký thấy đấy, chẳng cần ngựa trạm của phủ đường, tin tức ở cái xó rừng này nó chảy theo dòng nước."
Vương Quang khẽ thở hắt ra một làn hơi buốt giá.
Quách Hắc Báo biết chuyện không phải do thần thông, mà nhờ mạng lưới đò giang và thợ thuyền bến bãi rải dọc ba mươi dặm sông Cốc. Một chiếc thuyền rỗng rời Cổ Am từ lúc trời vừa rạng, xuôi gió bấc chèo ngược lên đây có thể đi nhanh hơn ngựa trạm phải vượt đường đá gập ghềnh.
Và lời kể của gã để lại hai ghi nhận thực địa đáng chú ý:
Nước sông Cốc tại Thạch Tuyền sụt giảm vào cùng đêm cỗ quan tài ở Cổ Am trào nước đỏ. Hiện tượng ở Cổ Am rõ ràng không nhất thiết chỉ bắt đầu từ một điểm bãi bồi.
Thêm vào đó, những xác súc vật nhét tro xám không phải trôi dạt từ một miền xa xôi vô định, mà xuất hiện từ "phía bến nung" nằm ngay trên khúc sông thượng lưu này.
"Đã biết tôi từ Cổ Am lên," Vương Quang cất giọng bình thản, tay trái giơ tấm thẻ sắt ra trước ngực: "Thì Quách Đầu trưởng định để Ký lục của triều đình đứng ngoài cổng rào này để làm việc sao?"
Quách Hắc Báo nhìn tấm thẻ bài thêm vài nhịp thở. Đôi mắt một mí của gã khẽ chớp, rồi gã vung tay ra hiệu cho người gác cổng:
"Mở cổng. Dắt ngựa của thầy Ký vào chuồng, cho hai hộc ngô khô."
Hai cánh cổng rào bằng gỗ vót nhọn kẽo kẹt mở ra.
Vương Quang xoay người bước xuống đất. Bàn chân vừa chạm nền đá hộc, cánh tay phải ép sát mạng sườn lại nhói buốt lên từng cơn. Thanh nẹp đồng đen Chân Thư Bút cấn vào mỏm xương cổ tay khiến hắn phải nghiến chặt quai hàm, cố giữ dáng đi thăng bằng. Chu Bá Cửu vội dắt hai con ngựa đi theo sau, mắt dáo dác nhìn những tảng đá hộc khổng lồ và đám thợ mỏ bặm trợn đang đứng trừng trừng quanh bến.
Bên trong căn nhà gỗ của trạm tuần kiểm tối tăm và sực nức mùi khói lò.
Giữa gian nhà kê chiếc bàn dài ghép bằng những phiến gỗ sến thô mộc dày nửa gang tay, mặt bàn chằng chịt vết rìu đẽo và vết cháy xém. Trên vách nứa treo đầy dây thừng gai, xà beng, búa tạ và vài cánh cung săn thú bọc da trăn.
Một chiếc chõ than đá kê ở góc phòng cháy âm ỉ, tỏa ra thứ hơi nóng ngột ngạt, khét lẹt đặc thù của than mỏ, xua bớt cái buốt giá vùng núi.
Quách Hắc Báo ngồi xuống chiếc ghế đẩu bằng gốc nghiến, tự tay rót một bát nước chè xanh đặc quánh, sủi bọt vàng vào chiếc bát sành sứt mép, đẩy về phía Vương Quang:
"Trạm gác nơi rừng sâu nước độc, không có trà ngon. Thầy Ký uống tạm bát chè tươi cho ấm tì vị."
Vương Quang ngồi xuống đối diện. Cánh tay phải tì lên mặt bàn gỗ làm điểm tựa, bàn tay trái của hắn thò vào túi da trâu, rút chiếc hũ gốm nhỏ bịt nút bần lấy mẫu đêm qua đặt lên mặt bàn.
Bên trong lớp thành gốm, thứ chất lỏng màu nâu đỏ sánh lại dưới đáy hũ.
Đôi mắt một mí của Quách Hắc Báo liếc qua chiếc hũ gốm, con ngươi khẽ co lại, nhưng nét mặt vẫn lì lợm:
"Thầy Ký mang thứ bùn nước ở bến dưới lên đây làm gì?"
"Đây không phải là bùn nước thông thường," Vương Quang nhìn thẳng vào mắt đối phương, giọng rành rọt: "Canh ba đêm qua, thứ nước này rỉ ra từ kẽ nứt cỗ quan tài độc mộc dưới chân cọc chữ chi thứ ba. Một tuần đinh của ty Đốc Vận trượt chân dẫm phải, cẳng chân bị rộp da lột thịt, mép ủng da trâu bị mủn rách."
Hắn dừng lại nửa nhịp, rồi nói tiếp:
"Trong lớp cặn này có những hạt tro màu xám chì. Về màu sắc và độ mịn, nó có vài nét tương đồng với thứ bột nhét trong mõm xác súc vật trôi dạt về Cổ Am sáng hôm qua. Và vừa rồi, chính miệng Quách Đầu trưởng nói: súc vật chết ấy trôi ra từ phía bến nung của khu mỏ này."
Gian nhà gỗ rơi vào sự im lặng nặng nề.
Quách Hắc Báo cầm chiếc tẩu thuốc lên, dùng đầu ngón tay cái to bè gạt tàn thuốc trong nõ, giọng trầm xuống:
"Thầy Ký muốn bảo rằng phường thợ đá họ Quách bọn ta nhét tro vào mõm súc vật rồi thả trôi sông sao?"
"Tôi là Ký lục của Khâm Thiên Giám, tôi chỉ ghi nhận vật chứng thực địa, không võ đoán tội danh," Vương Quang đáp:
"Nhưng hồ sơ lưu trữ của phủ đường chép rằng: Năm Khai Tự thứ bẩy, mười tám cây cọc lim nẹp đồng cắm xuống ngã ba Cổ Am là do thợ mộc và thợ đá Thạch Tuyền xẻ gỗ, đục mộng rồi chuyển xuôi dòng sông Cốc. Người nằm trong cỗ quan tài độc mộc kia bị chân cọc đâm trúng từ thời điểm đó."
Vương Quang đặt ngón tay trỏ tay trái lên nắp chiếc hũ gốm:
"Nay cọc lim ấy bị bẩy nghiêng, chất lỏng dưới đáy trào ra. Cùng lúc đó, trên thượng nguồn Thạch Tuyền lại xuất hiện súc vật chết mang theo thứ tro có dấu hiệu tương tự. Quách Đầu trưởng trông coi bến bãi, nắm lò nung và phường thợ bến này, sự trùng lặp ấy giải thích thế nào?"
Quách Hắc Báo không trả lời ngay.
Gã ngửa đầu ra sau, phả một luồng khói thuốc dài lên mái ngói vảy cá. Hồi lâu sau, ánh mắt gã dừng lại ở chiếc nẹp đồng đen Chân Thư Bút trên cổ tay phải của Vương Quang:
"Cái nẹp đồng trên tay thầy Ký... mối ghép mang cá ở chốt đồng kia ta từng thấy trên vài dụng cụ cũ của Ty Doanh Tạo. Không phải đồ thợ rèn thông thường làm được."
Gã gõ nhẹ tẩu thuốc xuống mặt bàn:
"Một người mang thứ nẹp ấy mà dám một mình một ngựa ngược sông lên tận đây để lật lại chuyện một trăm năm mươi năm trước... Ta nói cho thầy biết một việc: Mười tám cây cọc lim nẹp đồng năm Khai Tự thứ bẩy... đúng là do phường thợ họ Quách đục đẽo từ mỏ Thạch Tuyền này đưa xuống Cổ Am. Nhưng họ Quách bọn ta thời đó chỉ làm theo trát lệnh của quan trên."
Vương Quang nheo con mắt trái:
"Trát lệnh của ai?"
"Phủ đường thời đó hạ trát bắt phường thợ phải giao nộp mười tám thân lim già khai thác từ mỏ đá, đục mộng mang cá và bọc nẹp đồng theo bản vẽ đưa xuống," Quách Hắc Báo trầm giọng:
"Cụ cố ta khi truyền nghề lại có nhắc đến chuyện ấy. Cụ gọi bộ cọc đó là Thủy Lung. Cụ bảo bản vẽ đưa xuống không giống bất kỳ bản vẽ trị thủy nắn dòng nào mà phường ta từng nhận. Mười tám thân lim được đục mộng theo một thế rất lạ, các đầu cọc có rãnh khóa để ghép chặt vào một thứ gì đó nằm ngập dưới nước. Cụ ta chỉ là người làm mộc nhận việc, thấy cọc lạ thì biết thế, chứ không ai cho thợ đá biết bên dưới lòng bùn thực sự có cái gì."
Lời Quách Hắc Báo rơi vào tai Vương Quang như một làn gió lạnh.
Bản vẽ không giống bản vẽ trị thủy thông thường. Các đầu cọc có rãnh khóa để ghép vào một thứ ngập dưới nước.
Điều này lập tức va đập với những trang nhật ký của Doãn Thừa Đức mà hắn vừa đọc đêm qua.
Trong cuốn Thạch Tuyền Nhật Ký, Doãn Thừa Đức viết rằng đoàn công vụ của Khâm Thiên Giám và Công Bộ đinh ninh mình đi thi công công trình Tiết Chế Thủy Đạo, đến khi đóng cọc thứ ba mới vô tình va phải cỗ quan tài độc mộc cổ dưới lòng bùn.
Nhưng trong ký ức truyền nghề của họ Quách, bản vẽ giao xuống cho phường thợ từ trước khi xuất bến đã mang cấu trúc của một bộ khung ghép giữ vật thể dưới nước.
Hai nguồn ghi chép đang cùng chỉ về một sự kiện, nhưng lại kể hai câu chuyện mang mục đích khác nhau.
Một bên tin rằng mình đi nắn dòng rồi gặp tai biến bất ngờ; một bên lại nhớ rằng mình bị ép đóng một bộ cọc có quy thức kỳ dị theo lệnh quan phủ. Không bên nào nắm toàn bộ sự thật, nhưng sự lệch nhau giữa hai bản ghi chứng minh thêm một điều: hồ sơ công môn năm Khai Tự thứ bẩy đã bị cài cắm nhiều lớp toan tính ngay từ ngày đầu khởi sự.
"Vậy còn đoàn công vụ của Khâm Thiên Giám năm ấy?" Vương Quang hỏi.
Quách Hắc Báo lắc đầu:
"Cụ cố ta không biết hết chuyện của quan lại. Cụ chỉ kể rằng đêm hôm đó, bè cọc đóng dở thì dưới bãi sông có biến động sụt lún, nước trào lên làm chết phu phen. Lính trần gian kéo đến phong tỏa đê, đuổi thợ đá họ Quách rút ngược về Thạch Tuyền ngay trong đêm, cấm tiệt không cho bén mảng. Sau đó nghe tin cả đoàn mất tích."
Gã ngừng lại một nhịp, nhìn về phía hẻm núi xa xăm:
"Nếu lời cụ cố ta không nhớ nhầm, sau vụ ấy có một người thợ mộc của đoàn tên là Chu Thụy từng chạy thoát lên Hang Dơi lánh nạn nơi phường thợ đá quen. Cụ cố ta có lén giấu người đó ít ngày rồi dựng một nấm mộ giả để che mắt lính tuần... Còn việc người đời sau tìm thấy gì ở Hang Dơi, cụ ta không hề nhắc tới."
Vương Quang khẽ thở ra.
Những dấu vết ở Hang Dơi — nấm mộ gió, chiếc cọc lim cụt đầu, tấm thẻ gỗ thị mang tên Doãn Thừa Đức — giờ đây đã có thêm một manh mối để lý giải. Chúng không còn là những hiện tượng đơn lẻ trôi nổi giữa rừng sâu. Nhưng một mắt xích quan trọng vẫn còn bỏ ngỏ: Chu Thụy đã mang chiếc hộp đồng lên đó bằng cách nào, và số phận thực sự của những người trong đoàn sau đêm rằm tháng Chạp năm ấy đã kết thúc ra sao?
Câu trả lời vẫn chưa nằm trọn vẹn ở bến Thạch Tuyền này.
"Còn thứ tro trong hũ này thì sao?" Vương Quang đưa tay chỉ vào hũ gốm: "Súc vật nhét tro trôi từ bến nung xuống, ông giải thích thế nào?"
Khuôn mặt Quách Hắc Báo bỗng đanh lại. Đôi mắt một mí của gã lóe lên vẻ thận trọng pha lẫn kiêng dè. Gã đứng dậy, bước lại gần mép cửa sổ nhìn ra bãi đá bến sông, rồi quay lại hạ thấp giọng:
"Thứ tro ấy không phải do phường đá của ta làm ra. Nó đến từ Lò Vôi Cổ ở hẻm Độc Đầu — cách đây ba dặm về phía thượng lưu."
"Lò vôi ấy có lai lịch thế nào?"
"Đó là cụm lò nung cũ bỏ hoang từ thời trước. Nhưng ba tháng trước, có một nhóm người lạ mặt mang theo công văn có dấu đỏ của Hộ Bộ và giấy giới thiệu của phủ đường đến bến này tiếp quản," Quách Hắc Báo nói, giọng chùng xuống:
"Bọn họ trưng dụng lại ba cái lò cổ ở hẻm Độc Đầu. Họ không nung đá vôi làm vữa xây như phường ta. Lò của họ thỉnh thoảng mới nhóm lửa vào ban đêm, tỏa ra mùi khét lẹt rất khó chịu. Họ mang người riêng từ nơi khác tới, cấm thợ mỏ bản địa đến gần khu vực lò."
Gã gõ mạnh cán tẩu thuốc vào bậu cửa sổ:
"Ba đêm trước, người kéo thuyền của ta nhìn thấy mấy bao tải lớn được kéo từ trong hẻm lò ra rồi chở xuống mép bờ sông. Họ không cho ai lại gần xem. Sáng hôm sau thì nước sông Cốc đổi màu, rồi xuất hiện mấy xác súc vật trôi dạt mà thầy Ký nói. Họ làm gì với những bao tải ấy, hay thả thứ gì xuống dòng nước ngầm, ta không biết. Nhưng từ đêm đó, nước sông bắt đầu hụt dần."
Quách Hắc Báo quay lại nhìn thẳng vào Vương Quang:
"Thầy Ký muốn biết thứ tro trong hũ kia từ đâu ra, hay muốn biết vì sao nước sông Đáy cạn kiệt làm kẹt thuyền gạo, thì hỏi ta cũng vô ích. Muốn có chứng cứ thực sự, thầy phải tự mình vào hẻm Độc Đầu mà xem bọn người mang công văn Hộ Bộ kia đang làm cái gì trong những căn lò cũ ấy."
Gió bấc thổi thốc qua khe cửa liếp, làm tàn than đá trong chõ bay lơ lửng giữa gian phòng lạnh ngắt.
Vương Quang cất chiếc hũ gốm trở lại túi da trâu, cài chặt nắp đồng.
Không có âm mưu nào được chứng minh trọn vẹn bằng một lời kể. Nhưng những gì Quách Hắc Báo vừa cung cấp đã vạch ra một hướng đi không thể né tránh:
Một cụm lò vôi cổ được mở lại bởi những người mang công văn triều đình. Những chuyến hàng trong đêm. Những bao tải bí ẩn đưa xuống dòng nước. Và thứ cặn bám trôi dạt có đặc điểm tương đồng với vật chất đang rỉ ra từ cỗ quan tài độc mộc dưới bãi bồi.
Chừng ấy chưa đủ để kết tội bất kỳ ai. Nhưng nó đủ để hắn không thể coi Lò Vôi Cổ ở hẻm Độc Đầu là một xưởng nung đá bình thường.
Vương Quang đứng dậy, bàn tay trái nắm lấy thanh Thiết Xích Khảo Sát bên hông. Cánh tay phải mang nẹp đồng tê buốt sau chặng đường dài, nhưng các khớp xương đã quen dần với sự chịu đựng.
Hắn bước ra cửa, nhìn lên bầu trời tây bắc: Giờ Thân đã điểm. Bóng tối của buổi chiều mùa đông bắt đầu sập xuống những vách núi tai mèo.
Hắn chỉ còn chưa đầy mười bốn canh giờ trước khi hạn định giờ Dần ngày mười tám tháng Chạp khép lại. Hắn phải đến hẻm Độc Đầu trước khi đêm nay tàn.
Thảo luận
Bình luận chương
0 bình luận
Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên bình luận chương này.