Chương 49: Ngược Dòng Sương Muối
Nhân Gian Có Màn
Mục lục
54 chươngCuộn, vuốt hoặc dùng hai nút để xem thêm Đã tải 54/54 chương
Gió bấc rạng sáng ngày mười bảy tháng Chạp thổi thốc qua lòng sông Đáy, cuốn theo từng mảng sương muối đùng đục phủ kín các ngọn núi đá vôi tai mèo.
Trời chưa sáng rõ. Bầu trời bên trên bãi bồi Cổ Am mang một màu xám chì ảm đạm, nặng trịch như một tấm vải liệm ẩm ướt trùm xuống bãi sông.
Dưới lòng lạch cạn, vành đai bao cát sỏi hình cánh cung đã giữ được vũng nước rỉ lại trong một khoảng hẹp chừng năm thước quanh sườn cỗ quan tài. Mấy bao vôi sống xếp chèn phía ngoài còn âm ấm, hơi trắng mỏng luồn qua những thớ vải gai ẩm tỏa ra mùi hăng nồng. Đất sỏi quanh bờ bao se lại, giúp hai sợi dây chão xơ dừa tạm thời không còn bị kéo căng theo những đợt sụt lún nhỏ dưới đáy bùn.
Trên bờ kè đá hộc, tuần đinh và phu trạm nằm ngồi la liệt quanh đống than sưởi đã tàn. Ai nấy mặt mũi xám ngoét, râu tóc bết dính bụi xám và khói thông đen kịt, mệt mỏi rã rời sau một đêm vật lộn giữ chân bến.
Bên trong gian buồng xép trạm dịch, ngọn đèn dầu lạc chỉ còn một chấm bấc đỏ le lói.
Vương Quang ngồi ở góc bàn mộc, dùng bàn tay trái chậm rãi mài thỏi mực nho trên nghiên đá.
Cánh tay phải mang nẹp đồng đen Chân Thư Bút của hắn sau một đêm dầm sương đã cứng đờ. Vết loét ở mỏm xương cổ tay dù đã được bôi mỡ lưu huỳnh nhưng vẫn âm ỉ phát sốt, từng nhịp đập của mạch máu thúc thẳng vào thanh kim loại buốt nhói. Hắn không thể cử động các ngón tay phải; cẳng tay tì chặt vào mép bàn làm điểm tựa, bàn tay trái kẹp lấy cán bút tre.
Hắn trải một tờ giấy bản dày ra mặt gỗ, hạ bút viết:
“Hành Trình Ty Khảo Sát — Phụ bản Biên bản Hiện trường số 02. Thời khắc: Đầu giờ Dần, ngày mười bảy tháng Chạp. Hiện trạng: Canh ba đêm qua, tại vị trí cọc chữ chi thứ ba xuất hiện hiện tượng rỉ nước nhờn màu đỏ nâu làm bỏng rộp da thịt khi tiếp xúc trực tiếp. Một tuần đinh bị tổn thương cẳng chân đã được xử lý sơ bộ. Hiện trường được gia cố tạm thời bằng bờ bao cát sỏi và bao vôi của trạm dịch, giữ ổn định chân nền quanh cỗ quan tài. Biện pháp tiếp theo: Ngoại ngạch Ký lục Vương Quang cùng một phu trạm ngược dòng sông Cốc lên bến Thạch Tuyền để đối chiếu thủy trình thượng lưu và kiểm tra nguồn gốc vật chất trôi dạt. Trong thời gian Ký lục vắng mặt, hiện trường bãi cọc và cỗ quan tài duy trì trạng thái niêm phong nghiêm ngặt...”
Viết xong dòng cuối cùng, Vương Quang đặt chiếc bút lông xuống rãnh nghiên đá, ngẩng đầu nhìn hai người đang đứng đối diện bên bàn.
Tào Hữu Đức khoác hờ chiếc áo nẹp da trâu rách mép, hai mắt đỏ ngầu những tia máu vì thức trắng hai đêm liền. Đứng bên cạnh gã, Phan Khắc Tố vẫn ôm khư khư chiếc tráp then khóa đồng, khuôn mặt già nua lộ vẻ mỏi mệt suy sụp.
"Mời Tào Đốc Lại và Phan Chủ bạ điểm chỉ vào phụ bản số 02," Vương Quang cất giọng khàn đặc.
Tào Hữu Đức nhìn chằm chằm vào tờ giấy bản, hai hàm răng nghiến lại:
"Vương Ký lục, ngươi định rời bến Cổ Am vào lúc này?"
Gã chống hai bàn tay thô ráp xuống mặt bàn mộc, gằn giọng:
"Hôm nay đã là ngày mười bảy. Hai ngàn hộc gạo tô của Hộ Bộ nằm trên tám chiếc thuyền kia đang ngấm hơi ẩm từng khắc. Ngươi bảo tạm dừng phá cọc, ta đã dừng; ngươi bảo đắp bao cát chèn vôi, ta đã cho người làm theo. Giờ ngươi lại đòi ngược lên Thạch Tuyền? Nếu ngươi đi rồi không quay lại, quan Biền sứ phủ đường kéo quân về đây hỏi tội, ai là người đứng mũi chịu sào?"
"Tấm thẻ của Khâm Thiên Giám buộc chặt vào việc khảo sát hiện trường," Vương Quang nhìn thẳng vào viên đốc lại, giọng bình thản:
"Biên bản này ghi rành rành: Tôi lên Thạch Tuyền để phúc tra nguồn nước và dấu tích vật liệu. Nếu tôi bỏ đi không trở lại, tên tôi nằm trên biên bản này, tôi tự nhận lấy tội bỏ nhiệm vụ trước triều đình. Nhưng nếu không lên thượng lưu tìm hiểu xem thứ nước kia từ đâu chảy xuống, chỉ cần chân cọc dưới bãi bùn tiếp tục rỉ thêm một đêm nữa, bờ bao hiện giờ chưa chắc giữ nổi chân nền. Khi ấy nền bùn sạt lở hoàn toàn, ông lấy gì mà giữ thuyền gạo?"
Hắn dùng ngón tay trỏ tay trái gõ nhẹ lên mặt giấy bản:
"Điểm chỉ vào đây. Tôi đi rồi sẽ quay về trước giờ Dần ngày mai. Từ giờ đến lúc tôi trở lại, ty Đốc Vận phải cắt cử người túc trực trên bờ kè đá, không cho bất kỳ ai bước qua bờ bao cát, và tuyệt đối không được tự ý đụng vào cọc neo sắt. Nếu các ông làm vỡ bờ bao hoặc để quan tài trôi dạt, biên bản này sẽ ghi nhận rõ ràng ai là người tự ý phá vỡ hiện trường."
Tào Hữu Đức đứng im nhìn tờ giấy. Gã hiểu người thanh niên áo chàm này đang dùng chính quy trình công văn để ràng buộc trách nhiệm của cả hai phía. Hắn không hề né tránh; hắn tự ghi tên mình vào hạn định, đồng thời cũng khóa chặt tay chân của ty Đốc Vận tại bến sông này.
Gã thở hắt ra một hơi nặng nhọc, giật lấy que mực son trên đĩa, quẹt một vệt đỏ vào góc dưới tờ giấy:
"Được, ta ký. Nhưng ta nói trước: trước giờ Dần sáng mai, nếu ngươi không mang được phương án xử lý luồng lạch về bến Cổ Am, ta buộc phải bẩm báo việc này lên phủ đường."
Phan Khắc Tố khẽ run tay, cũng đưa ngón tay cái chấm son ấn một dấu chỉ mờ nhạt bên cạnh.
Thu tờ biên bản đã ráo mực cất sâu vào túi da trâu, Vương Quang đứng dậy bước ra hiên.
Bên ngoài thềm ván, Chu Bá Cửu đã dắt sẵn hai con ngựa trạm. Gã phu trạm mặc chiếc áo nẹp da trâu cũ, ống chân quấn xà cạp vải thô, bên hông đeo một túi cói nhỏ đựng cơm nắm và bình nước da dê.
"Thầy Ký, chuẩn bị xong cả rồi," Chu Bá Cửu bước lại gần, giọng e dè: "Đường ngược sông Cốc lên Thạch Tuyền khoảng ba mươi dặm, nhiều đoạn đá tai mèo lởm chởm. Đi đứng cẩn thận thì cũng phải quá trưa mới tới nơi."
Lão Trạm thừa già từ góc hiên lom khom bước ra, hai tay bưng một bát sành đựng nước gừng nóng bốc khói đưa cho Vương Quang. Lão nhìn về phía hẻm núi mịt mùng sương muối phía tây bắc, hạ thấp giọng:
"Thầy Ký lên Thạch Tuyền... phải cẩn thận đấy. Trước đây bến mỏ Thạch Tuyền do Ty Doanh Tạo của Công Bộ trực tiếp cử người trông coi. Nhưng từ sau đợt lũ lớn năm Kỷ Mão, việc khai thác quy mô lớn bị đình lại, việc trông coi luồng lạch giao dần về cho nha môn địa phương...
Hiện nay ở bến ấy, Ty Tuần Kiểm chỉ cử lại dịch lên theo định kỳ, còn việc khai thác đá, đốt lò và vận chuyển thuyền bè trên thực tế đều do người của phường thợ đá họ Quách đứng ra quán xuyến. Họ nắm người, nắm thuyền, lại có mối quen biết lâu năm với đám thư lại ở phủ đường... Người lạ mang thẻ bài công môn lên đó, họ sẽ dò xét kỹ lắm."
"Phường thợ đá họ Quách?" Vương Quang đón lấy bát nước gừng bằng tay trái, uống một ngụm ấm giọng: "Họ Quách ấy có quan hệ gì với ba họ khai khẩn ở Cổ Am không?"
"Nghe đâu là cùng gốc gác cả đấy thầy," lão Trạm thừa chép miệng: "Thời trước, họ Phan lo việc điền bạ, họ Lê coi việc bến bãi đò giang, còn họ Quách chuyên nghề thợ mộc và thợ đá. Mười tám cây cọc lim nẹp đồng năm xưa... nghe người già truyền lại thì cũng do thợ đá họ Quách xẻ gỗ, đục mộng từ mỏ Thạch Tuyền chuyển xuôi về Cổ Am."
Vương Quang khẽ gật đầu, đặt chiếc bát sành lại mặt ván hiên.
Thợ đá họ Quách. Cọc gỗ lim có mộng đục từ Thạch Tuyền. Cọc lim cụt đầu cắm trên mộ gió ở Hang Dơi.
Giữa ba địa điểm rõ ràng có một tuyến vật liệu và nhân công gắn kết với nhau từ thời Khai Tự. Nhưng đây chỉ là lời kể truyền khẩu, chưa thể xem là kết luận. Hắn quay sang Chu Bá Cửu:
"Lên ngựa. Đi thôi."
Hai con ngựa trạm sải bước rời khỏi dốc đê Cổ Am, bỏ lại phía sau bãi bồi và cỗ quan tài độc mộc đang nằm im lìm giữa vòng bao cát sỏi.
Con đường mòn men theo nhánh sông Cốc buổi sớm chìm sâu trong sương muối. Lòng sông mùa này cạn đáy trơ ra những dải đá tảng xám xịt phủ rêu khô. Gió bấc lùa qua các khe vách đá vôi tai mèo rít lên từng hồi buốt giá.
Trên lưng ngựa, Vương Quang ngồi hơi gập người, cánh tay trái giữ chặt dây cương.
Mỗi bước chạy của con ngựa dẫm lên đá sỏi lạo xạo là một lần thân thể hắn bị xóc nảy. Cánh tay phải ép chặt vào mạng sườn, nhưng thanh nẹp đồng đen Chân Thư Bút vẫn rung lên theo từng nhịp phi, thúc vào miệng vết loét ở cổ tay. Cơn đau nhức nhối chạy dọc từ cẳng tay lên bả vai rồi dội lên thái dương, làm trán hắn rịn ra một lớp mồ hôi lạnh buốt.
Con mắt phải mờ xám của hắn giật từng chặp.
Tầm nhìn bên sườn phải bị nhòe đi từng mảng. Nhưng khi nhìn xuống mép nước cạn của sông Cốc, hắn nhận thấy dọc theo các hốc đá ven bờ thỉnh thoảng lại xuất hiện những vệt bọt khí màu nâu đỏ bám vào kẽ đá — màu sắc rất giống thứ chất lỏng đang rỉ ra dưới chân cọc Cổ Am.
Nếu thứ nước đỏ nâu kia thực sự theo dòng từ thượng lưu chảy xuống, thì khu mỏ Thạch Tuyền là nơi đầu tiên hắn phải kiểm tra.
Đi chừng mười lăm dặm, vượt qua khúc quanh hiểm trở của hẻm núi Hang Dơi — nơi nấm mộ gió cắm cọc lim cụt đầu vẫn ẩn mình trong vách đá — địa thế sông Cốc bắt đầu dốc đứng hơn.
Lòng sông thu hẹp lại, nước chảy qua các ghềnh đá cuộn bọt trắng xóa. Hai bên bờ bắt đầu xuất hiện những bãi tập kết đá hộc.
Hàng trăm khối đá vôi xám xanh được đục đẽo thô sơ xếp thành từng đống ven sườn đồi. Rải rác quanh các triền đá là những lò nung vôi hình vòm cuốn đã nguội lửa, miệng lò bám đầy muội than và lớp bột trắng mốc meo.
Mùi khói lò cay gắt lẫn với mùi đá nung, mùi dầu luộc gỗ và thứ ngai ngái khó gọi tên từ các bãi phơi đá bốc lên trong không khí lạnh, nồng đượm và khô khốc.
"Thầy Ký, sắp tới bến mỏ rồi," Chu Bá Cửu ghìm ngựa đi chậm lại, đưa tay trỏ về phía trước: "Đoạn này là ngã ba Khe Vôi, nơi thuyền chở đá tập kết."
Hiện ra sau màn sương muối là một bến sông vùng núi khá rộng.
Dọc theo bờ kè ghép bằng đá hộc có gần chục chiếc thuyền đáy bằng bằng gỗ sến thô kệch — loại thuyền chuyên chở đá tảng trên sông cạn. Trên bến, hàng chục phu mỏ đóng khố vải chàm, mình trần đen nhẻm vì bụi than, đang dùng đòn bẩy và dây thừng gai kéo những tảng đá lớn từ sườn đồi xuống mép nước.
Cách bến thuyền chừng ba mươi trượng, án ngữ ngay đầu đường mòn dẫn vào khu mỏ là một căn nhà gỗ lợp ngói vảy cá rêu phong.
Trên cột gỗ trước nhà cắm một lá cờ đuôi nheo màu vàng điều đã bạc màu, thêu bốn chữ Hán đã mờ: Thủy Vận Tuần Kiểm.
Bao quanh ngôi nhà là một hàng rào cọc gỗ vót nhọn. Trước cổng rào, ba bốn người đàn ông vóc dáng vạm vỡ, mặc áo chẽn nẹp da trâu, tay cầm gậy sắt và xà beng đang đứng gác, đưa mắt dò xét người qua lại.
"Đứng lại. Đi đâu đấy?"
Một người đàn ông mặt có vết bỏng vôi loang lổ bước ra chặn trước đầu ngựa của Vương Quang. Gã nhìn manh áo chàm cũ và cánh tay phải bó nẹp đồng bất thường của hắn với vẻ cảnh giác:
"Bến mỏ đang kỳ sửa luồng lạch, cấm đò chở khách. Người ngoài không có giấy tờ thì quay đầu lại."
Chu Bá Cửu toan ghìm cương lùi lại theo thói quen, nhưng Vương Quang vẫn ngồi yên trên lưng ngựa.
Hắn dùng tay trái lấy tấm thẻ sắt đen bọc góc đồng của Khâm Thiên Giám trong túi da ra, chìa về phía trước.
"Ty Khảo Sát," Vương Quang nói, giọng khàn đặc vì gió bụi: "Phụng lệnh khảo sát luồng lạch sông Cốc và đối chiếu khoáng chất bến mỏ. Ai là người phụ trách tuần kiểm ở đây ra tiếp trát."
Nhìn thấy tấm thẻ sắt đen có ấn triện và nghe cách xưng danh bằng giọng điệu lạnh lùng của người thanh niên áo chàm, người đàn ông mặt sẹo khẽ đổi sắc mặt.
Gã liếc nhìn thanh Thiết Xích Khảo Sát bên hông hắn, rồi nhìn lại chiếc nẹp đồng đen ở cổ tay phải. Gã ngập ngừng giây lát rồi quay đầu hướng vào trong căn nhà gỗ gọi lớn:
"Bẩm Quách Đầu trưởng! Dưới bến Cổ Am có người mang thẻ sắt Khâm Thiên Giám lên trạm!"
Bên trong nhà gỗ vang lên tiếng chân bước nặng nề.
Một người đàn ông chừng năm mươi tuổi, thân hình đậm chắc, khoác áo the chần bông mặc lồng bên trong chiếc áo nẹp da trâu bước ra hiên. Khuôn mặt gã vuông vức, đôi mắt một mí hẹp dài, tay cầm chiếc tẩu thuốc bằng đồng thau dài hai thước đang bốc khói.
Gã bước tới cổng rào, dừng lại cách đầu ngựa của Vương Quang vài bước chân.
Đôi mắt một mí của gã lướt qua tấm thẻ sắt đen trên tay Vương Quang, rồi chậm rãi nhìn xuống đôi ủng dính đầy lớp bùn xám pha vôi của Chu Bá Cửu và vết bùn đáy lạch bám trên vạt áo chàm của người Ký lục. Ánh mắt gã hơi khựng lại một nhịp, nét mặt khẽ biến đổi kín đáo.
Gã rít một hơi thuốc dài, phả luồng khói xám vào không khí buốt giá:
"Ta là Quách Hắc Báo, đầu trưởng phường thợ đá Thạch Tuyền. Việc tuần kiểm bến này hiện do ta thay mặt Ty Tuần Kiểm trông coi."
Quách Hắc Báo gõ nhẹ cán tẩu thuốc vào thanh cọc rào gỗ, ánh mắt găm thẳng vào Vương Quang:
"Thầy Ký từ ngã ba Cổ Am lội bùn ngược lên tận đây... có phải vì cỗ quan tài độc mộc và hàng cọc gỗ chữ chi dưới bãi bùn kia đã bị bới lên rồi không?"
Vương Quang khẽ nheo con mắt trái.
Người đứng đầu bến Thạch Tuyền chỉ nhìn vết bùn đáy lạch trên ủng da và tấm thẻ Khâm Thiên Giám, lập tức đã liên hệ thẳng tới cỗ quan tài và hàng cọc dưới bến Cổ Am!
Gió bấc thổi qua triền đá vôi sau lưng gã, cuốn theo mùi khói lò nồng nặc tạt qua cổng rào.
Một cửa ải mới vừa mở ra giữa vùng bến mỏ Thạch Tuyền.
Thảo luận
Bình luận chương
0 bình luận
Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên bình luận chương này.