Chương 35: Hậu Cung Đình Hạ
Nhân Gian Có Màn
Mục lục
54 chươngCuộn, vuốt hoặc dùng hai nút để xem thêm Đã tải 54/54 chương
Tiếng chuông nghẹn đục buông một tiếng cùn cụt rồi chìm hẳn vào làn mưa bụi.
Không có tiếng ngân dài của đồng tốt, chỉ có thứ dư âm lẹt xẹt như lưỡi cưa rỉ rà trên gỗ mục, làm đám bọt bẩn đọng nơi góc sân đình khẽ dạt sang hai bên mép thềm.
Đỗ Văn Cương giật thót người. Bàn chân mang ủng da trâu trượt mạnh trên thềm đá xanh rêu phủ, khiến cả thân hình béo núc của lão lảo đảo chực ngã ngửa. Vương Quang đứng sau nửa bước, vội chìa bàn tay trái ra giữ chặt lấy khuỷu tay áo tơi của tên thư lại.
Cú xoay người đột ngột làm cổ tay phải bị bó chặt của Vương Quang đập khẽ vào sườn; thanh gá bằng đồng đen hình móng ngựa cấn mạnh vào vết loét dưới lớp vải đệm, nhức buốt lên tận khớp vai. Hắn cắn răng nuốt cơn đau, cất giọng rất khẽ:
"Bẩm tiên sinh, không có ai trên gác chuông cả. Gió luồn qua vách nứa đẩy nhẹ chày tre thôi."
Đó là một lời giải thích vụng về, bởi chày gỗ muốn gióng thành tiếng chuông dẫu điếc đặc đến đâu cũng cần một lực vung đủ mạnh. Nhưng lão Đỗ lúc này đang cần bất cứ thứ gì để bấu víu cho sự run rẩy trong bụng; lão vội nuốt đánh ực một búng nước bọt, gật đầu lia lịa:
"Phải... Gió tháng Chạp độc chết mẹ đi được..."
Vương Quang thu tay về, lẳng lặng đưa mắt nhìn vào lòng gian tiền tế.
Ngôi đình làng Hạ buổi sáng nay không còn lạnh lẽo, hoang vắng như hôm qua.
Không gian ngập mùi khói bồ kết nướng cay sè sống mũi, pha lẫn mùi rượu gừng nồng nặc người ta xức quanh các bậu cửa để át đi mùi bùn tanh bốc lên từ con lạch sau đình. Dưới hai hàng cột lim đen nhánh bám muội tro, ba chiếc chiếu cạp điều rách mép được trải vội trên nền gạch vồ ẩm ướt.
Ngồi trên chiếc chiếu giữa là một người đàn ông trạc ngoài năm mươi, khoác áo the đen viền chỉ lam còn mới, đầu đội khăn xếp ngay ngắn. Khuôn mặt gã vuông vức, hai gò má nhô cao, hàng ria mép tỉa gọn che khuất bờ môi mỏng. Bên cạnh gã là chiếc cơi trầu khảm xà cừ và một cọc tiền kẽm mới đúc xâu bằng sợi lạt giang, mặt tiền còn ánh lên sắc đồng thau vàng xỉn.
Đó là Trần Bá Cửu — Lý trưởng làng Hạ, đồng thời là tộc trưởng phân chi thứ ba của họ Trần bãi bồi.
Dưới chân cột cái đằng xa, Cụ Từ đang lom khom ngồi bên chiếc chậu đồng cáu bẩn. Lão già chột mắt không mặc áo the như gã Lý trưởng, chỉ khoác manh áo tơi lá cọ ướt sũng, dùng thanh sắt gỉ cời đám than hồng rồi thỉnh thoảng lại bốc một nhúm lá ngải cứu khô ném vào, làm bốc lên từng làn khói mỏng bay là là mặt đất.
Thấy tiếng ủng da trâu bì bõm bước qua ngưỡng cửa, Trần Bá Cửu không đứng dậy đón tiếp. Gã chỉ chậm rãi nhấc chén nước vối nguội ngắt lên nhấp một ngụm, đôi mắt ti hí đảo qua chiếc áo tơi lá của Đỗ Văn Cương rồi dừng lại rất lâu trên manh áo nâu sờn rách của Vương Quang.
Ánh mắt ấy phẳng lặng, lạnh tanh, chứa sự cảnh giác của kẻ nắm quyền sinh quyền sát ở dải đất phù sa này.
"Thầy Đỗ," Trần Bá Cửu cất giọng trầm đục, khô khốc như tiếng gỗ lim cọ vào nhau: "Mưa gió ngập đê thế này, quan huyện sai thầy xuống có việc gì khẩn cấp? Làng đang chuẩn bị lễ đảo bệnh cho Thành Hoàng, trong đình nhiều uế khí, sợ làm vấy bẩn áo the của thầy."
Thấy người quen chốn hương thôn, nỗi sợ dị tượng trong lòng lão Đỗ lập tức bị thói hách dịch của kẻ mang trát nha môn đè bẹp. Lão chống nạnh, hắng giọng khạc nhổ một bãi đờm xuống góc thềm:
"Lý trưởng Trần biết điều đấy! Nha môn huyện phụng lệnh quan Đốc Vận về đây đối chiếu lại địa bạ bãi Cổ Miễu và bia đinh trong hậu cung. Mười năm trước lụt lội trôi mất nhiều người, sổ sách trên tỉnh đang thanh tra lại toàn hạt. Bảo người nhà đem sổ hương ẩm và chìa khóa hậu cung ra đây!"
Trần Bá Cửu khẽ nhíu mày. Đầu ngón tay trỏ của gã gõ nhẹ lên nắp chiếc cơi trầu:
"Thầy Đỗ nói chuyện lạ đời. Chuyện đinh trôi mười năm trước, huyện nha đã định án từ thời quan trước. Đất bãi bồi đã nhập vào phần công điền, họ Trần chúng tôi gánh tô gánh thuế thay cho người chết, nộp đủ lên huyện hàng năm không thiếu một đồng kẽm. Giờ cọc sắt ngoài bãi mới đóng đêm qua, nước cống Ba Cửa sủi bọt, cá chết trắng bụng cả khúc sông... Các thầy không mang gạo cứu đói, không mang trát trừ dịch, lại đòi lật bia đá người chết làm gì?"
Gã Lý trưởng nói từng chữ rành rọt, mắt liếc thẳng vào chiếc ống tre đeo bên sườn Vương Quang.
Vương Quang đứng nép sau bóng cây cột lim, đầu hơi cúi xuống. Bằng con mắt trái bình thường, hắn quan sát tường tận từng cử động nhỏ của gã họ Trần:
Bàn tay phải của Trần Bá Cửu đang siết chặt chiếc quạt lông ngỗng gác trên đùi; các khớp ngón tay trắng bệch ra vì ghìm lực.
Cọc tiền kẽm mới đúc đặt cạnh mâm xôi không phải tiền hương đăng cúng bái; loại tiền mới tinh này chỉ có ở kho tài vụ của huyện nha hoặc trong túi đám thương lái buôn thóc mạn bến sông.
Họ Trần ở làng Hạ đã đánh hơi thấy chuyện từ trước. Họ không bất ngờ vì trát đối sổ; họ đang chờ xem nha môn cử ai xuống, và cái giá để lấp liếm lần này là bao nhiêu.
"Trần Lý trưởng," lão Đỗ bước tới mép chiếu, hạ giọng xuống nửa tông, điệu bộ đe nẹt bắt đầu chuyển sang vẻ cò kè mặc cả: "Chuyện đất cát của họ Trần các ông, nha môn ai chẳng rõ các ông phải gánh vác việc làng. Nhưng lần này không phải chuyện của riêng Đàm đại nhân... Phía trên còn có quan Đốc Vận! Người ta đòi đối chiếu đủ ba mươi tám cái tên khắc trên bia đá!"
Vừa nghe đến bốn chữ "ba mươi tám cái tên", khóe mắt trái của Trần Bá Cửu giật nảy lên một cái.
Gã liếc nhanh về phía góc cột. Cụ Từ đang ngồi cời than bỗng khựng tay lại giữa chừng, thanh sắt gỉ trong tay lão rơi cạch một tiếng xuống mép chậu đồng, làm tàn lửa bắn tung tóe.
"Bia đá khắc từ mười năm trước, mưa gió rêu phong mòn vẹt cả rồi," Trần Bá Cửu lạnh lùng đáp, giọng gã đanh lại: "Người chết thì đã xanh cỏ dưới đáy sông. Làng Hạ này chỉ biết có ba mươi bảy người trôi sông. Chữ nghĩa trên đá có mờ, thì lòng người còn tỏ."
Dứt lời, gã khẽ dùng ngón tay đẩy cọc tiền kẽm mới đúc sang mép chiếu hoa, hướng thẳng về phía mũi ủng da trâu của lão Đỗ:
"Mưa gió thế này, thầy Đỗ lội bộ vất vả. Chút tiền trầu nước của dân làng biếu thầy sưởi ấm. Cứ vào hậu cung dập lại vài nét chữ tượng trưng, rồi ký vào tờ cam đoan rằng bia đá phong hóa mất chữ, để chúng tôi còn làm lễ yên dân. Được lòng trên, thuận lòng dưới, việc gì phải bới chuyện cũ cho động mạch đất?"
Lão Đỗ nhìn cọc tiền kẽm mới tinh ánh màu đồng thau, đôi mắt ti hí bỗng sáng rực lên. Lão nuốt ực một ngụm nước miếng, bàn chân mang ủng nhích lên nửa tấc.
Đúng lúc lão Đỗ toan mở miệng nhận lời, Vương Quang ở phía sau khẽ lùi lại nửa bước để tránh một vạt mưa tạt qua khe liếp. Cổ tay phải bị nẹp cứng bằng thanh gá kim loại khiến hắn xoay người chậm hơn thường lệ; mép nẹp đồng đen vô tình va vào tảng đá xanh kê chân cột lim.
Keng!
Một tiếng va chạm đanh gọn, lạnh ngắt dội lên giữa gian tiền tế tĩnh mịch.
Âm thanh kim loại chạm đá như một cái tát làm lão Đỗ giật nảy mình. Ký ức về khuôn mặt lạnh như tiền của Lưu Đôn và lời đe dọa chém đầu bêu ở đầu cầu bến Đáy sáng nay lập tức dội ngược về óc lão. Lão Đỗ run rẩy rụt phắt bàn chân lại, mồ hôi dầu túa ra đầm đìa trên trán. Lão liếc xéo về phía Vương Quang, ánh mắt vừa tức tối vì mất món hời, vừa hoảng loạn không biết phải giải quyết thế nào.
Vương Quang hiểu rõ: nếu hắn im lặng để lão Đỗ cầm cọc tiền kẽm đó, lão Đỗ sẽ lập tức ép hắn cạo mòn mặt đá. Và khi tờ trát mang về huyện lỵ thiếu mất cái tên thứ ba mươi tám, kẻ bị đẩy ra đầu đao chịu tội tráo chữ công môn chắc chắn sẽ là một tên chép mướn cùng đinh như hắn, chứ không đời nào là viên thư lại già có ba đời làm việc nha môn.
Hắn không thể đối đầu trực diện với gã Lý trưởng đầy thế lực, nhưng hắn có thể dùng cái bóng của quan Đốc Vận để khóa chặt cả hai người lại.
Vương Quang bước lên nửa bước, hai tay chắp trước bụng, đầu cúi thấp theo đúng tư thế khép nép của kẻ tôi đòi:
"Bẩm Lý trưởng, bẩm Đỗ tiên sinh."
Trần Bá Cửu nheo mắt nhìn hắn, giọng sắc như dao: "Mày là đứa nào? Chỗ việc công của làng, đến lượt một đứa chân đất lên tiếng à?"
"Dạ, con là Vương Quang, chân chép thuê ở tàng thư lầu theo hầu thầy Đỗ gánh ống trát," giọng Vương Quang khàn đặc, trầm đục và nhún nhường: "Con phận hèn không hiểu việc lớn của họ Trần, cũng không dám bàn chuyện trầu nước của các thầy. Chỉ là... sáng sớm nay ở gian tả vu, con thấy trên bàn quan Đốc Vận có đặt sẵn một bản chữ dập từ bia đá làng Hạ, đưa từ chiếc thuyền tuần giang ngoài bãi Cổ Miễu về niêm phong trong ống đồng."
Hắn dừng lại nửa nhịp thở. Đó là một đòn đánh cược. Vương Quang biết Lưu Đôn đã thu giữ bản lưu chiếu cũ và có quân tuần tiễu ngoài bãi sông, nhưng hắn không dám chắc viên quan áo lục đã cho dập bia đá làng này hay chưa. Hắn đang đem cái đầu của mình ra đánh cược vào sự chột dạ của những kẻ có tội.
Hắn tiếp tục nói, giọng đều đều như đang đọc một dòng điều lệ:
"Quan Đốc Vận bảo thầy Đỗ mang trát xuống đối chiếu lại nét chữ cuối cùng trên bia. Nếu tờ trát mang về mà ghi là bia mòn mất chữ — trong khi bản dập đêm qua của phủ đường vẫn còn nguyên nét — thì tức là có kẻ cố tình sửa đổi tang chứng. Lúc ấy, ty Đốc Vận sẽ yêu cầu huyện nha niêm phong toàn bộ hồ sơ đất bãi Cổ Miễu cùng sổ đinh của làng để đối tra từng mẫu ruộng. Thân con rẻ rách chết đâu cũng được, chỉ sợ thầy Đỗ với họ Trần bị lụy phiền khi quân tuần giang kéo về bãi sông giữa lúc dịch cá chết này."
Gian tiền tế bỗng chìm vào một sự im lặng chết chóc.
Khói bồ kết ngột ngạt lơ lửng giữa hai hàng cột lim.
Lão Đỗ nghe đến cụm từ "quân tuần giang niêm phong đất bãi", hai đầu gối lập tức run lẩy bẩy. Lão nhìn cọc tiền kẽm trên chiếu hoa như nhìn thấy một hòn than rực lửa, vội vàng xua tay lia lịa:
"Lý trưởng Trần! Mau... Mau mở cửa hậu cung cho chúng tôi vào làm việc! Quan Đốc Vận đã có bản lưu trong tay rồi, ông đừng có kéo tôi vào chỗ chết! Chậm trễ công vụ thì cả làng ông không gánh nổi đâu!"
Trần Bá Cửu ngồi bất động trên mép chiếu.
Đôi mắt gã ghim chặt vào Vương Quang. Lần này không còn là sự khinh nhờn dành cho một tên chép mướn bần hàn, mà là sự căm độc của một con thú dữ bị chặn mất đường lui. Gã nhận ra tên què quặt này trông có vẻ hèn hạ, nhưng từng câu buông ra đều mượn quyền uy của phủ đường để bẻ gãy ý đồ hối lộ của gã, dồn gã vào thế buộc phải mở cửa.
Một lúc lâu sau, Trần Bá Cửu mới thở hắt ra một hơi nặng nhọc qua kẽ răng, lạnh lùng phất tay áo:
"Được. Muốn xem bia thì cứ vào mà xem. Cụ Từ, dẫn bọn họ vào."
Cụ Từ từ từ chống gậy đứng dậy khỏi chiếc ghế thấp. Lão già chột mắt không nói một lời, chỉ cầm đĩa đèn dầu lạc leo lét trên tay, lầm lũi bước về phía cánh cửa gỗ lim dẫn vào gian hậu cung tăm tối.
Vương Quang cúi đầu lùi lại, để lão Đỗ lật đật bước theo sau gót chân Cụ Từ.
Trước khi bước qua ngưỡng cửa, hốc mắt phải của Vương Quang bỗng nhói buốt lên một nhịp.
Hắn hé mở mi mắt bên phải.
Thế giới qua con mắt phải lập tức phủ lên một màn sắc xám nhờ nhờ của tro tàn. Vương Quang nhìn về phía chiếc chiếu hoa nơi Trần Bá Cửu đang ngồi:
Quanh cọc tiền kẽm mới đúc bỗng lờ mờ một vệt màu vàng đục, bẩn thỉu và nhớp nhúa như nước bùn ao tù. Vệt khí ấy không tỏa ra từ pho tượng Thành Hoàng, mà quấn chặt lấy cọc tiền, rồi bò ngoằn ngoèo trên sàn gạch, kéo dài thành một vệt mỏng luồn qua khe liếp cửa nách, hướng thẳng ra phía con lạch sau đình — nơi dòng nước đang sủi bọt cá chết.
Hắn không biết thứ khí màu vàng đục kia rốt cuộc là lời nguyền, nợ nhân quả hay là dấu tích của một giao kèo đen tối mười năm trước. Hắn chỉ biết chắc chắn một điều: số tiền này gắn liền với con lạch đầy xác cá ngoài kia.
Hắn vội nhắm mắt phải lại, nén cơn đau rát buốt, bước chân qua ngưỡng cửa hậu cung.
Két... Rầm.
Cánh cửa gỗ lim nặng trịch khép lại sau lưng, ngăn cách hoàn toàn ánh sáng lờ nhờ của ban ngày.
Bên trong hậu cung tối tăm và ẩm mốc. Mùi dầu lạc khét lẹt quyện với mùi bùn thối nồng nặc bốc lên từ những khe nứt dưới nền gạch.
Trên hương án chính, pho tượng Thành Hoàng làng bằng đất nện vẫn nghiêng ngả về bên hữu. Nhưng khi ánh đèn dầu của Cụ Từ rọi tới, cả lão Đỗ và Vương Quang đều phải chững lại.
Hôm qua, khi miếng gỗ dâu mục nát ở chân ngai bị lấy đi, Cụ Từ đã nhét tạm một mảnh ngói vỡ bằng đất nung đỏ au vào góc bệ thờ để giữ cho pho tượng không bị đổ. Nhưng lúc này, mảnh ngói đất nung ấy đã bị một sức nặng vô hình nghiền nát vụn thành một đống bột đỏ bầy nhầy, hòa lẫn với thứ dịch xám nhờ nhờ đang rỉ ra từ gầm bệ tượng.
Mất điểm tựa, pho tượng đất lại lún sâu thêm một tấc, đầu tượng chúc xuống, con mắt đắp bằng đất sét đen sì dường như đang trợn trừng nhìn thẳng vào mũi giày của Vương Quang. Vết nứt trên ngực áo tượng đã toác rộng ra thêm một ngón tay, để lộ lớp cốt tre đan bên trong đã mục rỗng.
Cụ Từ đứng bên cạnh, ngọn đèn dầu trên tay lão chao đảo run rẩy. Lão không nhìn tượng, chỉ giơ cánh tay khẳng khiu chỉ về phía góc tường tối tăm nhất:
"Bia đá ở kia. Muốn tìm tên thằng Lập... thì tự lại mà soi."
Vương Quang bước lại gần tấm bia đá xanh hình chữ nhật dựng sát vách đá ong.
Hắn mở nắp chiếc ống tre bên hông, cẩn thận rút tờ trát ba dấu mộc và tờ giấy dập than củi ra đặt lên lưng rùa đá. Bàn tay trái của hắn vuốt phẳng mặt giấy, lần tìm đến hàng chữ cuối cùng khắc sâu dưới lớp rêu đen:
Trần Bá Lập.
Cái tên thứ ba mươi tám.
Nhưng ngay khi đầu ngón tay hắn vừa chạm vào rãnh chữ khắc trên mặt đá lạnh buốt, hốc mắt phải của Vương Quang bỗng giật bắn lên một cơn đau dữ dội như bị kim nung đâm xuyên màng óc.
Hắn cắn chặt răng, mở trừng con mắt phải đang đau buốt nhìn vào tấm bia.
Dưới con mắt phải xám xịt của hắn, những nét khắc chữ Trần Bá Lập trên mặt đá xanh không còn là những nét than củi vô tri.
Từ trong các khe rãnh sâu hoắm của cái tên ấy, một thứ dịch màu đen sẫm, đặc quánh và lạnh ngắt như bùn đáy sông Đáy đang từ từ rỉ ra. Thứ bùn đen ấy ứa ra khỏi mặt đá, chảy tràn xuống mai rùa, rồi nhỏ từng giọt tách... tách buốt giá xuống nền đất nện ẩm ướt của gian hậu cung.
Cái tên thứ ba mươi tám không chỉ bị cạo khỏi sổ sách của trần gian.
Dưới nền đất của ngôi đình này, nó đang rỉ máu đòi nợ.
Thảo luận
Bình luận chương
0 bình luận
Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên bình luận chương này.