Chương 53: Trở Về Trước Giờ Dần
Nhân Gian Có Màn
Mục lục
54 chươngCuộn, vuốt hoặc dùng hai nút để xem thêm Đã tải 54/54 chương
Gió bấc quất rát mặt trên gờ đá hẹp hẻm Độc Đầu.
Ánh đuốc dầu thông phía sau lưng lụi dần khi đoàn thuyền dưới bến bắt đầu tháo dây neo. Tiếng nước vỗ bì bõm vào mạn thuyền kiền kiền hòa lẫn tiếng đòn tre va vào thùng gỗ lách cách chìm dần vào lòng vực thẳm.
Vương Quang không ngoái đầu nhìn lại. Hắn cúi người, bước từng bước dò dẫm trên con đường mòn cheo leo, bàn tay trái nắm chặt cổ tay áo của Chu Bá Cửu để giữ cho gã phu trạm không sẩy chân xuống mép vực. Chiếc đèn bão bọc da bò được thắp lại, ánh lửa vàng vọt tù mù chỉ đủ soi rõ chừng hai bước chân trên nền đá dăm lở lởm chởm.
Cánh tay phải tì cứng vào mạng sườn đã mất dần cảm giác đau rát, thay vào đó là một khối tê dại buốt giá lan dần từ cổ tay lên bả vai. Hơi lạnh của sương núi ngấm qua lớp vải chàm ướt sũng, khiến những cơn run rẩy bất giác giật lên từng chặp nơi sống lưng hắn.
Vượt qua ba dặm đường núi hiểm trở, khi hai người về lại trạm gác ngã ba Khe Vôi thì bóng đêm đã chuyển sang canh tư.
Quách Hắc Báo vẫn ngồi trên chiếc ghế đẩu bằng gốc nghiến bên hiên nhà gỗ, chiếc tẩu đồng thau dài hai thước gõ nhẹ từng nhịp lách cách vào bậu cửa. Thấy bóng hai người từ bóng tối bước ra, đôi mắt một mí của gã khẽ nheo lại. Gã đưa mắt nhìn chiếc túi da trâu bên hông Vương Quang, rồi nhìn lên phía hẻm núi thượng nguồn — nơi vầng sáng đỏ quạch của Lò Vôi Cổ đã tắt ngấm, chỉ còn lại làn khói xám nhạt lờ lờ trôi giữa sương đêm:
"Bọn người áo xám dập lò rồi?"
"Đang nhổ neo rời bến," Vương Quang dừng lại trước cổng rào, giọng khàn đặc.
Quách Hắc Báo rít một hơi thuốc dài, phả luồng khói xám vào gió lạnh:
"Thầy Ký vào đó kiểm giấy mà giữ được mạng trở ra, lại khiến bọn mang ấn Hộ Bộ phải dập lửa lui thuyền ngay trong đêm... Ta đục đá ở bến này ba mươi năm, chưa từng thấy một tên Ký lục nào làm được việc ấy."
"Họ đi vì không muốn biên bản của Khâm Thiên Giám vướng vào chuyến thuyền áp tải," Vương Quang đáp ngắn gọn, không giải thích thêm: "Quách Đầu trưởng cho dắt hai con ngựa trạm ra. Tôi phải về bến Cổ Am ngay."
Quách Hắc Báo gật đầu, vung tay ra hiệu cho tên tuần phu mặt sẹo vào chuồng ngựa. Gã đứng dậy, bước lại gần Vương Quang, hạ thấp giọng:
"Đêm đông đường trơn, sông Cốc mùa này đá ngầm lổn nhổn. Từ đây xuôi về Cổ Am ba mươi dặm, phi ngựa cật lực cũng phải mất hai canh giờ. Giờ Dần sắp đến rồi đấy."
"Tôi đã ký cam kết với ty Đốc Vận," Vương Quang đón lấy dây cương con ngựa trạm bằng tay trái, dẫm chân vào bàn đạp da, gượng sức trèo lên yên: "Trước giờ Dần, tôi phải có mặt ở chân đê."
Quách Hắc Báo đứng im nhìn người thanh niên áo chàm gập lưng trên lưng ngựa, cánh tay phải bó nẹp sắt ép chặt vào bụng. Gã không nói thêm lời nào, chỉ khẽ chắp hai bàn tay thô ráp trước ngực theo lối chào của phường thợ núi, rồi lui lại nhường lối.
Ba mươi dặm đường rừng xuôi sông Cốc trong đêm rét buốt là một cuộc tra tấn thể xác thực sự.
Hai con ngựa trạm phi nước kiệu dọc theo bờ cát sỏi cạn đáy. Gió bấc thổi ngược từ phía đông nam hắt từng luồng hơi nước lạnh ngắt vào mặt. Bụi đá vôi và sương muối bám trắng xóa trên vai áo chàm của Vương Quang.
Cánh tay phải tì chặt vào mạng sườn bị chấn động của mỗi bước ngựa thúc mạnh vào nẹp đồng đen Chân Thư Bút. Miệng vết loét ở cổ tay sau một đêm dầm sương cọ xát dữ dội vào mép kim loại, dịch mủ rỉ ra bết dính vào lớp vải băng, buốt nhói lên từng chập theo nhịp đập của tim. Trán hắn nóng bừng vì cơn sốt âm ỉ bốc lên, nhưng hai hàm răng vẫn nghiến chặt, những ngón tay trái tê cóng ghìm chặt dây cương dẫn đường cho Chu Bá Cửu bám sát phía sau.
Vượt qua khúc quanh Hang Dơi ở dặm thứ mười lăm, bóng tối của vách đá vôi tai mèo lùi dần lại phía sau.
Đến khi tiếng nước sông Đáy vọng rền từ hạ lưu, bầu trời phía đông bắt đầu chuyển dần từ màu mực đặc sang sắc xám tro mờ đục.
Tiếng mõ cầm canh điểm đầu giờ Dần từ chòi đê xa xa dội lại từng nhịp buồn bã:
Cộc... Cộc... Cộc...
Ngày mười tám tháng Chạp đã bắt đầu.
Hai con ngựa trạm mệt lử, mũi phì phò bọt trắng, bước từng bước nặng nhọc leo lên bờ dốc đá dăm dẫn vào bến Cổ Am.
Hiện trường bến sông hiện ra dưới ánh sáng nhờ nhờ của buổi bình minh mùa đông.
Trên đỉnh dốc đê, Tào Hữu Đức khoác áo nẹp da trâu, tay cầm chiếc đèn bão bọc sắt đang đứng chôn chân bên cạnh hai tên tuần đinh mang giáo dài. Khuôn mặt của gã xám xịt vì sương muối, mắt đỏ ngầu, đang chăm chú nhìn về phía con đường rừng độc đạo. Cách đó không xa, một con ngựa trạm khỏe chân đã được thắng yên sẵn, dường như chỉ chờ tiếng mõ giờ Dần dứt là sẽ phóng ngược lên phủ đường để tấu trình việc Ký lục đào nhiệm.
Nhưng khi tiếng vó ngựa lạo xạo dẫm lên đá dăm vang lên ở chân dốc, Tào Hữu Đức giật mình, vội vàng nâng cao ngọn đèn bão.
Vương Quang ghìm ngựa dừng lại ngay trước mặt viên Đốc lại.
Hắn trượt người xuống đất, chân vừa chạm mặt đá suýt nữa khuỵu xuống vì tê dại, nhưng hắn lập tức dùng thanh Thiết Xích Khảo Sát chống xuống đất làm điểm tựa, đứng thẳng người. Manh áo chàm của hắn bám đầy bụi tro xám và sương muối trắng phau, con mắt trái đen nhánh nhìn thẳng vào Tào Hữu Đức, giọng ráo hoác:
"Tôi về đúng giờ Dần. Bến Cổ Am đêm qua thế nào?"
Tào Hữu Đức trố mắt nhìn người thanh niên trước mặt, cánh tay cầm đèn khẽ hạ xuống nửa thước. Gã liếc nhìn con ngựa trạm đang thở dốc của Vương Quang, rồi nhìn sang Chu Bá Cửu mặt mày hốc hác phía sau. Nét bặm trợn trên mặt viên Đốc lại thoáng chùng xuống, gã hậm hực nuốt khan một ngụm nước bọt:
"Ngươi... ngươi thật sự dám quay về."
Gã phất tay áo cho tên lính dắt con ngựa trạm dự bị vào chuồng, rồi quay đầu nhìn xuống lòng lạch cạn:
"Đêm qua yên ắng hơn hôm trước. Nước đỏ rỉ ra từ sườn quan tài bớt dần từ lúc nửa đêm, đến canh tư thì chỉ còn rịn ra từng giọt nhỏ. Vành đai bao cát với vôi sống của ngươi vẫn giữ được chân nền, hai sợi dây chão xơ dừa không bị chùng thêm. Nhưng gạo dưới thuyền thì không đợi được nữa đâu! Sáng nay sương muối dày đặc, hơi ẩm sông Đáy ngấm vào khoang thuyền, nếu trong ngày hôm nay không có nước nâng đáy thuyền để kéo gạo ra sông cái, ta buộc phải cho dỡ hàng lên bãi bồi!"
Vương Quang đưa mắt nhìn xuống lòng lạch.
Vành đai bao cát hình cánh cung vẫn nguyên vẹn. Thứ nước nhờn màu nâu đỏ không còn đùn lên sủi bọt như đêm trước, lớp vôi tôi bao quanh chân nền đã nguội hẳn, đóng thành một mảng vữa xám se cứng.
Từ lúc Lò Vôi Cổ dập lửa, lượng nước nâu đỏ ở Cổ Am cũng giảm theo. Hai việc xảy ra gần như cùng một khoảng thời gian. Mối liên hệ giữa chúng vì thế đáng để ghi vào biên bản, nhưng chưa đủ để kết luận đường nước dưới đất đã thông với nhau.
"Tuyệt đối không được dỡ gạo xuống bãi bồi," Vương Quang lạnh lùng nói: "Bãi cát này đang chịu lực sụt lún ngầm. Hai nghìn hộc gạo dưới bến nếu chất lên bờ kè sẽ làm vỡ tầng đá vôi xốp bên dưới, kéo sập toàn bộ chân đê. Giữ nguyên hiện trạng thuyền chở gạo cho đến giờ Ngọ."
Tào Hữu Đức nhíu mày: "Tại sao lại là giờ Ngọ?"
"Đến giờ Ngọ, nước và nền bãi phải được đo lại một lần nữa," Vương Quang đáp gọn: "Nếu chân nền không dịch thêm, mới tính chuyện chuyển hàng."
Hắn không đợi Tào Hữu Đức kịp cằn nhằn, xoay người bước thẳng về phía dãy nhà sàn trạm dịch:
"Phan Chủ bạ đâu?"
"Lão Phan ở trong gian lưu trữ hồ sơ phía sau trạm từ nửa đêm đến giờ," Tào Hữu Đức làu bàu: "Lão đốt hương khấn vái suốt đêm, lẩm bà lẩm bẩm như kẻ mất hồn."
Gian buồng xép chứa hồ sơ của trạm dịch Cổ Am nằm nép sát vách đá sau dãy nhà sàn.
Nơi đây ẩm thấp và nồng nặc mùi giấy mục, mùi mộc nhĩ khô và mùi hương trầm rẻ tiền cắm trên một chiếc bát sành đặt dưới góc cột. Những chồng sổ bạ cũ kỹ từ thời tiền triều xếp cao ngất ngưởng trên các giá tre ọp ẹp, lớp bụi dày phủ xám xịt từng mép bìa giấy bản.
Phan Khắc Tố ngồi co ro trên chiếc chõng tre con, chiếc tráp then khóa đồng đặt trên đùi, hai bàn tay gầy guộc chắp lại trước ngực run rẩy. Trên bàn mộc trước mặt lão thắp một ngọn đèn dầu nhỏ, vài tờ bản đồ phân ranh luồng lạch bằng giấy dó rách mép trải ra nhưng chưa được mở hết.
Nghe tiếng cửa gỗ mở kẽo kẹt, Phan Khắc Tố giật nảy mình, vội vàng ôm chặt chiếc tráp vào lòng:
"Ai... Ai đấy?"
Vương Quang bước qua ngưỡng cửa, khép cánh liếp nứa lại để ngăn gió lạnh lùa vào. Hắn kéo chiếc ghế đẩu lại gần, ngồi xuống đối diện với viên Chủ bạ già. Cánh tay phải mang nẹp sắt tì nhẹ lên mép bàn, bàn tay trái của hắn thò vào túi da trâu, rút dải vải gai quét sáp đỏ có dấu triện Hộ Bộ — Lương Kho và dòng chữ “Vật liệu áp tải luồng thủy — Chi dụng công trình Cổ Am” đặt nhẹ lên mặt giấy bản.
Phan Khắc Tố đưa đôi mắt kèm nhèm nhìn xuống dải vải gai.
Khi nhìn thấy bốn chữ triện chu sa của Hộ Bộ và dòng chữ viết về công trình Cổ Am, đồng tử của lão khẽ giãn ra, hai bờ môi mỏng run rẩy:
"Thầy Ký... Thứ này... Thứ này thầy lấy ở đâu ra?"
"Ở hẻm Độc Đầu, ta gặp một đoàn người mang theo vật liệu có niêm phong Hộ Bộ," Vương Quang nhìn thẳng vào mắt viên Chủ bạ già, giọng nói phẳng lặng: "Mảnh này rơi lại tại hiện trường. Ta chưa biết công văn ấy thuộc về ai, cũng chưa biết lò vôi được dùng vào việc gì. Nhưng dòng ghi trên đó có nhắc đến công trình Cổ Am."
Phan Khắc Tố nuốt khan một ngụm nước bọt, trán rịn ra một lớp mồ hôi nhờn dính: "Họ... họ còn nói gì nữa không?"
"Dương Hữu Định chỉ nói rằng nếu muốn lần lại chuyện Cổ Am, hãy hỏi về miếu Thủy Khẩu và tập địa bạ cũ của họ Phan. Người đó không nói có câu trả lời, chỉ bảo hồ sơ cũ còn sót lại ở hai nơi ấy."
Cạch!
Hai bàn tay của Phan Khắc Tố run rẩy đánh rơi chiếc tráp then xuống mặt chõng tre.
Khuôn mặt già nua của lão nhợt nhạt hẳn đi, lớp da nhăn nheo xám xịt lại. Lão trố mắt nhìn Vương Quang:
"Thầy Ký... nếu những gì thầy vừa nói là thật, thì chuyện này đã không còn là chuyện cọc nước bình thường nữa."
"Một trăm năm mươi năm trước, ba họ khai khẩn Cổ Am chia nhau trông coi vùng đất này," Vương Quang cất giọng rành rọt: "Họ Lê trông coi đò giang bến bãi, nay chỉ còn lại những khế ước thu hồn dưới cõi âm. Họ Quách nắm phường mộc và thợ đá ở Thạch Tuyền, năm Khai Tự thứ bẩy từng nhận bản vẽ kỳ lạ từ phủ đường để chế tác mười tám thân lim nẹp đồng. Còn họ Phan các người nắm việc phân chia bờ cõi, giữ sổ sách điền bạ huyện nha từ thuở lập làng."
Hắn dừng lại nửa nhịp, rồi nói tiếp:
"Bản Dị Ký kia chỉ chép chuyện sương đen bốc lên rồi đoàn công vụ biến mất. Nhưng những gì ta nhìn thấy ở bãi Cổ Am lại cho thấy mười tám cọc ấy có những rãnh và mối nối không giống một hàng cọc gia cố thông thường. Còn cỗ quan tài dưới bùn đã nằm ở đó từ trước hay xuất hiện cùng công trình năm ấy, hiện vẫn chưa ai chứng minh được. Phan Chủ bạ, trong chiếc tráp này của ông, tập địa bạ gốc của họ Phan chép những gì?"
Phan Khắc Tố ngồi im trên chõng tre.
Gió bấc rít qua khe vách nứa trạm dịch, mang theo tiếng mõ cầm canh xa xăm của buổi sớm mùa đông. Căn phòng im ắng đến mức chỉ còn nghe thấy tiếng thở dốc nghẹn ngào của viên chức già.
Lão đưa bàn tay gầy guộc vuốt ve nẹp đồng của chiếc tráp then, khóe mắt đỏ hoe:
"Bản Dị Ký kia là do phủ đường thời đó ép tổ phụ ta phải chép lại để tấu trình lên kinh sư hòng khép lại vụ án mất tích của đoàn Khâm Thiên Giám... Nhưng địa bạ thực sự của họ Phan thì không thể sửa được. Địa bạ ghi đất thuộc ai, bờ nước chạy thế nào, miếu nằm ở đâu. Còn miếu ấy được sắc phong thế nào, thần khế còn hay mất, đó lại không phải phần mà một quyển địa bạ có thể quyết định."
Phan Khắc Tố thò tay vào cổ áo, rút ra một chiếc chìa khóa đồng nhỏ xíu đeo bằng sợi chỉ đỏ. Lão tra chìa vào ổ khóa của chiếc tráp then, vặn nhẹ một tiếng tách.
Nắp tráp bằng gỗ nghiến mở ra.
Bên trong không có vàng bạc, chỉ có một tập giấy dó dày cộp bọc trong một tấm lụa điều đã mục nát mép. Bên cạnh tập giấy là một tấm thẻ bài bằng đồng thau đã xỉn màu xanh gỉ đồng, mặt trước khắc bốn chữ Hán cổ:
Thủy Khẩu Thần Khế.
Bốn chữ khắc trên mặt thẻ khiến Vương Quang khựng lại.
Hắn nhớ đến câu nói của Lê Toàn dưới bãi bùn đêm mười sáu: Thần quyền phải có địa chứng.
Nếu tấm thẻ này thực sự thuộc về ngôi miếu cũ, nó có thể là một đầu mối. Nhưng hiện tại, cũng chỉ dừng lại ở một đầu mối mà thôi.
Phan Khắc Tố dùng hai tay nâng tập giấy dó lên, đặt trước mặt Vương Quang, giọng run run:
"Dải bãi bồi ngã ba Cổ Am này... vốn không phải là đất vô chủ. Trước khi ba họ bọn ta đến đây khai khẩn, dưới lòng bãi bồi ấy đã có một ngôi miếu thờ thần sông."
Phan dừng lại. Lão nhìn về phía tấm thẻ Thủy Khẩu Thần Khế, đôi môi mỏng khẽ mấp máy:
"Còn cỗ quan tài độc mộc kia... tổ tiên ta chỉ ghi một câu."
Vương Quang ngẩng mắt.
Phan chậm rãi lật sang một trang khác.
"Không được mở."
Thảo luận
Bình luận chương
0 bình luận
Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên bình luận chương này.