Nhân Gian Có Màn

Chương 38: Vào Ngạch

Đăng: 13/09/2026 20:14 2,366 từ 2 lượt đọc

Mưa phùn tháng Chạp xối trôi lớp bùn đỏ trên bậc tam cấp đình làng Hạ, để lại những vệt xám nhờ nhờ loang lổ khắp sân gạch.

Trước cổng đình, chiếc xe trượt chở phạm nhân đóng bằng gỗ nghiến đã chực sẵn bên bờ đê. Trần Bá Cửu cùng Trần Tam bị khóa chung một chiếc gông kép bằng sắt nguội, hai cổ tay bị xích chặt vào thanh xà ngang. Gã cựu Lý trưởng gục đầu sát ngực, vạt áo the đen bết đầy bùn đất nhão nhoẹt, hàm răng va vào nhau run bần bật từng cơn nhưng không dám thốt lên nửa lời kêu oan. Bên cạnh gã, tên cai tuần giang áo lục bị lính trạm trói giật cánh khuỷu, miệng nhét chặt một nùi giẻ rách để ngăn cắn lưỡi.

Lưu Đôn đứng trên bờ đê lộng gió, chiếc áo lụa màu xanh lục phần phật bay. Viên Biền sứ ty Đốc Vận nhận lấy chiếc ống đồng niêm phong tờ bản dập ba mươi tám cái tên từ tay lão Đỗ, cẩn thận đóng dấu sáp đỏ lên nắp rồi đưa mắt nhìn về phía con lạch Ba Cửa.

Nước ngoài lạch đã hạ bớt sau khi rãnh đá sau đình được nạy tung, nhưng dòng chảy vẫn đục ngầu, cuộn từng xoáy tròn nặng trịch quanh chân cọc sắt Trấn Hà Thiết Thỉ cắm lút cán ngoài bãi Cổ Miễu.

"Niêm phong toàn bộ hồ sơ đất bãi Cổ Miễu," Lưu Đôn cất giọng lạnh tanh, truyền lệnh cho viên đề lại đi cùng: "Đình chỉ mọi quyền thu hoa lợi, cày cấy của họ Trần. Lệnh cho huyện nha tạm giữ Đàm Thông phán tại tư thất, niêm phong kho tàng thư chờ đoàn thanh tra của phủ đường về đối tra từng mẫu ruộng. Kẻ nào dám hủy hoại một trang sổ, khép vào tội mưu phản."

"Dạ!"

Đám lính tuần giang đồng thanh đáp một tiếng ráo hoác, tiếng xích sắt va vào nhau lẻng xẻng đanh gọn giữa màn mưa.

Lão Đỗ đứng nép bên bánh xe trạm, hai bàn tay béo múp vẫn còn dính đầy muội than củi đen nhánh. Lão vừa thoát khỏi cái gông sắt của phủ đường nhưng mặt mũi vẫn cắt không còn giọt máu, thi thoảng lại liếc trộm Vương Quang bằng ánh mắt nửa sợ hãi, nửa kiêng dè. Lão nhận ra tên chép mướn què quặt đi cùng mình từ sáng đến giờ không hề run rẩy; từng câu hắn nói ra ở hậu cung đều như nhát đục nện trúng kẽ nứt, kéo cả cơ đồ mười năm của họ Trần sụp đổ dưới chân.

Nhưng Vương Quang không nhìn lão Đỗ, cũng chẳng bận tâm đến ánh mắt của viên thư lại già.

Hắn đang ngồi xổm bên bờ giếng đá sau chái đình, dùng gáo dừa múc từng vạt nước dội lên ống chân và vạt áo nâu rách bươm. Nước giếng mùa đông lạnh thấu xương, buốt nhói vào da thịt, nhưng chỉ có cái lạnh này mới át đi được mùi hôi thối của bùn ngâm xác mục bám chặt trên da.

Con mắt phải của hắn đã bớt nhức buốt, nhưng chỉ cần chớp mạnh một cái, cơn đau vẫn chạy dọc lên thái dương. Vương Quang khép hờ mi mắt, nén nhịp thở chờ lớp màng xám trước mắt lắng dần xuống.

Trong túi áo ngực sát lớp vải lót, mảnh gỗ dâu mục nát đã nguội hẳn, trở lại thành một mẩu gỗ xù xì, vô tri vô giác cấn nhẹ vào xương sườn. Không ai nhìn thấy nó. Vương Quang đưa bàn tay trái lên ấn nhẹ vào ngực áo, xác nhận mẩu gỗ vẫn nằm yên ở vị trí cũ rồi mới thở hắt ra một hơi dài, kéo vạt áo rách che kín lại.

"Vương Quang."

Một tiếng gọi trầm đục, khô khốc vang lên sau lưng.

Vương Quang khựng người lại, đặt gáo dừa xuống thành giếng rồi chậm rãi đứng dậy, xoay người lại cúi đầu thật thấp:

"Bẩm tiên sinh."

Kẻ áo đen đã đứng đó tự lúc nào. Không có tiếng chân dẫm trên cỏ ướt, không có tiếng thở. Dưới vành nón sẫm màu che khuất nửa khuôn mặt, đôi mắt sâu hoắm như đáy giếng cạn của người đó đang nhìn thẳng vào hắn.

"Ba năm làm chân chép mướn ở tàng thư lầu huyện nha. Một kẻ không chức, không phẩm, sống bằng vài đồng tiền công mỗi tháng."

Kẻ áo đen ngừng lại một nhịp. Ánh mắt hắn lướt xuống cánh tay phải đang nẹp đồng của Vương Quang, rồi dừng ở con mắt phải vẫn còn phủ một lớp màng xám mờ:

"Còn chuyện khế ước cõi chết… mới xảy ra chưa bao lâu."

Vương Quang không đáp.

Cổ tay dưới lớp nẹp đồng âm ỉ đau. Chỗ da thịt tiếp giáp với thanh gá vẫn còn một vết loét chưa khô miệng, thỉnh thoảng rỉ ra thứ dịch đỏ vàng dính nhớp vào lớp vải lót. Con mắt phải cũng chẳng bao giờ thật sự hết buốt. Cơn đau chốc chốc lại giật giật nơi hốc mắt, khiến hắn đang chép chữ cũng phải ngưng bút nghiến răng chờ nó qua. Thân thể này vẫn là một gánh nặng lạ lẫm mà hắn đang phải cắn răng học cách chịu đựng từng ngày.

Kẻ áo đen tiếp tục, giọng phẳng lặng không mang theo cảm xúc:

"Tai họa mới qua mà ngươi đã dám lội vào hậu cung sụt lở, nhìn ra vết cạo trên giấy bản, nhìn ra vết thương trên tay kẻ giết người, lại biết lúc nào nên mở miệng trước mặt quan Đốc Vận."

Vương Quang cúi gập người sâu hơn, hai bàn tay chắp trước bụng, hạ giọng run run:

"Dạ... Con phận hèn sợ chết. Chỉ cố tìm đường sống trước họng đao của họ Trần."

"Ngươi sợ chết, nhưng ngươi biết nhìn khoảng trống của người khác," kẻ áo đen ngắt lời. Hắn bước lại gần nửa bước, tà áo đen phẳng phiu không dính lấy một hạt bùn: "Một kẻ như ngươi, mang thương tật cõi âm chưa lành trên mặt, tay mang nẹp đồng công môn, lại biết những chuyện lẽ ra phải nằm dưới đáy sông... Nếu để ngươi tiếp tục cầm bút chép mướn ở phố huyện, ngươi nghĩ mình sống sót được mấy ngày?"

Lưng Vương Quang lạnh toát.

Hắn hiểu rõ lời người áo đen. Đàm Thông phán ngã ngựa, họ Trần bãi bồi bị tước đất, nhưng mạng lưới ăn chia bổng lộc mười năm qua đâu chỉ có bấy nhiêu người. Một khi quan Đốc Vận rút quân, một kẻ cùng đinh không tấc sắt trong tay như hắn sẽ chết đuối ở một khúc sông nào đó vào một đêm mưa bấc, và người ta sẽ lại ghi vào sổ một dòng: trượt chân ngã nước.

"Xin tiên sinh chỉ cho con một con đường sống," Vương Quang cắn răng, dập đầu thấp xuống ngang thềm đá.

Kẻ áo đen im lặng chừng một nhịp thở. Từ trong tay áo rộng, hắn rút ra một vật, đặt lên thành giếng đá bên cạnh chiếc gáo dừa.

Cạch.

Một tiếng kim loại chạm đá đanh gọn vang lên.

Đó là một tấm thẻ bài bằng sắt đen tuyền, bốn góc bọc đồng thau đã ngả màu xỉn, mặt trên khắc chìm bốn chữ Hán vuông vức: Hành Trình Ký Lục. Phía dưới góc thẻ bài đóng một dấu triện tròn nhỏ hình mây cuộn — ấn ký độc môn của Khâm Thiên Giám.

Cùng với tấm thẻ sắt là một bọc vải chàm dày dặn, bên trong đựng một bộ áo dài vải sợi đôi màu chàm sẫm, một đôi ủng đi đường bằng da trâu nẹp chỉ gai chắc chắn, một lọ sáp mỡ lợn trộn bột lưu huỳnh dùng để bôi vết loét ở cổ tay, và một túi tiền nhỏ bên trong cộm lên mười nén bạc trạm dịch.

"Ngoại ngạch Hành Trình Ký Lục," kẻ áo đen cất giọng: "Hưởng lệ cấp ngang mức Tòng Bát Phẩm của ty khảo sát, nhưng không nhập phẩm. Từ giờ khắc này, tên ngươi được biên vào sổ theo dõi của Khâm Thiên Giám. Có lương bạc hàng tháng, có thuốc bôi tay, có ủng đi đường. Đi đến các dịch trạm hoặc nha môn địa phương, xuất thẻ này ra, bọn chủ bạ, tuần đinh không được tùy tiện bắt bớ, tra khảo."

Vương Quang nhìn tấm thẻ sắt đen và bọc y phục tươm tất trên mặt đá, lồng ngực đập thình thịch. Đó là thứ đãi ngộ mà một kẻ chép mướn cả đời không dám mơ tới. Nhưng hắn không vội vã đưa tay đón lấy; hắn hiểu trên đời này không có bữa cơm nào miễn phí, nhất là cơm của triều đình.

"Tiên sinh... Con phải làm những gì?"

"Đi theo sau hòm thư bản," kẻ áo đen lạnh lùng đáp: "Ở đâu có đất sụt, cống nghẽn, chuông nứt, miếu hoang rỉ máu... Ngươi phải có mặt để ghi chép lại hiện trường. Những thứ quan huyện không dám nhìn, ngươi phải nhìn. Những thứ sử quan không dám chép, ngươi phải chép."

Người áo đen hơi cúi đầu xuống, giọng trầm hẳn như tiếng sắt cọ vào đá:

"Không được tự ý rời địa hạt được phân công. Không được tiết lộ một chữ trong hồ sơ ra ngoài. Hôn phối, tậu đất, nhập hộ hoặc giao thiệp với thế gia bản thổ đều phải khai báo. Bất cứ lúc nào có trát gọi, dẫu nửa đêm mưa lũ cũng phải lập tức lên đường. Làm lộ cơ mật, hình luật của Khâm Thiên Giám không dùng trượng gỗ của huyện nha đâu... Nó dùng đinh sắt đóng qua cổ họng."

Một bản khế ước bán mình.

Nếu như tai họa ở bến sông cách đây chưa lâu đã dùng khế ước cõi chết trói chặt thân xác hắn vào một nửa phần âm tật, thì giờ đây, tấm thẻ bài sắt đen này chính là một khế ước thứ hai — trói chặt toàn bộ danh phận và mạng sống của hắn vào cỗ máy khổng lồ tàn khốc của triều đình.

Một bên trói thân xác. Một bên trói thân phận.

Cả hai đều không cho hắn quyền lựa chọn. Nhưng một chiếc lồng sắt có cơm ăn, có thuốc bôi vết loét và có thẻ lệnh che đầu vẫn tốt hơn ngàn lần việc bị người ta vùi xác dưới bùn sông Đáy.

Vương Quang quỳ một chân xuống nền đất ướt, đưa hai tay đón lấy tấm thẻ sắt đen lạnh buốt:

"Kẻ hèn Vương Quang... Xin phụng mệnh công môn."

Kẻ áo đen không nói thêm lời nào. Hắn xoay người bước thẳng ra bờ đê, tà áo đen lướt qua màn mưa phùn, nhảy lên lưng con ngựa trạm lông xám rồi giật dây cương phi nước kiệu về phía con đường cái quan dẫn lên tỉnh thành.

Nửa khắc sau.

Vương Quang bước ra khỏi gian chái đình làng Hạ.

Hắn đã cởi bỏ manh áo nâu rách bươm dính đầy bùn đất bãi bồi, khoác lên mình bộ áo dài vải sợi dày màu chàm sẫm nẹp chỉ đen. Dưới chân, đôi ủng da trâu ôm khít lấy bắp chân, dẫm lên lớp bùn lầy lội không còn thấy buốt giá như trước. Thanh gá đồng đen trên cổ tay phải đã được bôi một lớp mỡ lưu huỳnh cay nồng, quấn lại bằng dải vải chàm sạch sẽ.

Động tác của hắn vẫn còn vụng về. Mỗi lần đưa tay phải lên, cổ tay đều phải lựa một góc nhất định để vết loét chưa lành không cọ mạnh vào thanh gá kim loại. Tấm thẻ bài sắt đen Hành Trình Ký Lục giắt chặt bên thắt lưng da, cộm lên một sức nặng lạnh tanh, cứng cỏi.

Lão Đỗ từ xa nhìn thấy hắn bước ra trong bộ dạng mới thì ngây người ra, đôi mắt ti hí đảo lia lịa. Vẻ hách dịch thường ngày biến mất hoàn toàn, thay vào đó là sự lúng túng, gượng gạo của kẻ dưới thấy người mang thẻ lệnh lạ:

"Thầy... Thầy Ký... Xe trạm sắp chuyển bánh rồi, quan Đốc Vận bảo thầy lên xe về huyện..."

Vương Quang nhìn lão Đỗ, khuôn mặt phẳng lặng không chút kiêu ngạo, chỉ khẽ gật đầu:

"Làm phiền Đỗ tiên sinh."

Hắn bước lên cỗ xe trạm bốn ngựa kéo đang đợi bên mép đê. Cỗ xe gỗ nặng nề chuyển bánh, tiếng bánh xe nghiến trên đá sỏi và tiếng roi da quất vào không khí vang lên vút... chát xé toạc màn mưa phùn ảm đạm.

Ngồi bên trong thùng xe lót rơm khô ấm áp, Vương Quang vén tấm rèm cói nhìn ra ngoài qua ô cửa nhỏ.

Con đê làng Hạ lùi dần lại phía sau.

Qua làn sương mù dày đặc của buổi chiều đông, mái đình làng Hạ chỉ còn là một vệt đen thẫm mờ ảo ven sông.

Trên xà nóc gian tiền tế, quả chuông đồng cổ xưa vẫn treo lơ lửng giữa trời lạnh. Vết nứt hình răng cưa trên vành chuông vẫn há hốc miệng đón gió bấc rít qua, không hề khép lại.

Dòng sông Đáy vẫn cuộn đỏ phù sa, mang theo những bí mật chưa bao giờ được giải tỏa dưới đáy bãi Cổ Miễu trôi xuôi ra biển lớn.

Vương Quang buông tấm rèm cói xuống, ngả lưng vào vách gỗ xe trạm, khẽ nhắm hai mắt lại.

Bàn tay trái của hắn siết chặt lấy tấm thẻ sắt đen bên hông, còn ngực áo vẫn âm ỉ hơi ấm của mảnh gỗ dâu mục nát.

Màn dạo đầu nơi bãi bồi đã chính thức khép lại.

Cỗ xe trạm mang theo kẻ chép mướn què quặt lăn bánh trên con đường thiên lý gập ghềnh, mở toang cánh cửa bước vào màn sương mù dày đặc của tam giới.

0
Ủng hộ tác giả Cương Vương Nếu bạn yêu thích tác phẩm, hãy ủng hộ mình ly cafe nhé <3