Chương 36: Món Nợ Dưới Đáy Bùn
Nhân Gian Có Màn
Mục lục
54 chươngCuộn, vuốt hoặc dùng hai nút để xem thêm Đã tải 54/54 chương
Giọt nước màu đen sẫm rỉ ra từ rãnh khắc của cái tên Trần Bá Lập rơi xuống lưng rùa đá.
Tách.
Tiếng động nhỏ như một giọt gianh mùa đông rớt trên tàu chuối héo, nhưng giữa gian hậu cung ngột ngạt, nó vang lên đanh gọn đến rợn người. Giọt bùn loang ra trên lớp rêu ẩm, bốc lên làn hơi lạnh buốt xộc thẳng vào cánh mũi Vương Quang. Đó là thứ mùi hăng nồng của vôi ngâm nước lâu ngày quyện với mùi tanh lợm giọng của bùn ao tù — thứ mùi hắn đã ngửi thấy ở hố móng ngoài bãi Cổ Miễu và cửa cống Ba Cửa lúc sớm.
"Mày... Mày đứng ngây ra đấy làm gì?"
Tiếng lão Đỗ run rẩy cất lên từ phía sau. Lão thư lại già thở phì phò, tay lôi trong bọc áo tơi ra miếng xốp bọc vải thô dùng để dập mực. Dưới ánh sáng hạt đỗ leo lét từ đĩa đèn dầu lạc trên tay Cụ Từ, đôi mắt trần tục của lão không thấy được giọt dịch đen rỉ ra; lão chỉ thấy những nét khắc bám rêu trơn tuột:
"Dập mực mau lên! Dập ba mươi bảy cái tên phía trên thôi! Chừa cái tên cuối cùng ra, rồi bảo Cụ Từ điểm chỉ xác nhận bia nứt mòn chữ! Mau lên kẻo tao chết cóng ở cái xó này mất!"
Lão Đỗ sốt ruột chìa bàn tay béo múp ra, toan giật lấy tờ giấy bản trên lưng rùa đá.
Nhưng khi đầu ngón tay lão vừa cách mặt bia nửa gang, lão bỗng khựng lại. Một luồng khí lạnh ngắt từ phiến đá xanh bốc lên xộc thẳng vào lòng bàn tay, buốt nhói như chạm vào tảng băng ngâm dưới đáy giếng sâu. Lão Đỗ rụt phắt tay về, hai hàm răng va vào nhau kêu cầm cập:
"Quái lạ... Sao cái bia đá này lạnh như có ma rà vào thế này?"
Vương Quang không đáp lời. Bàn tay trái của hắn vẫn giữ chặt mép tờ trát ba dấu mộc. Con mắt phải của hắn giật từng cơn nhức buốt, những sợi gân đỏ quanh mi mắt căng phồng lên.
Dưới con mắt phải mờ xám của hắn, thứ bùn đen không chỉ rỉ ra từ một cái tên.
Nó đang từ từ rịn qua rãnh đá, nhỏ từng giọt xuống chân bệ rùa rồi men theo những khe nứt li ti trên sàn gạch vồ, bò ngoằn ngoèo về phía chân ngai thờ Thành Hoàng làng. Mỗi tấc đất thứ nước đen ấy trườn qua, lớp vữa tam hợp cổ xưa trát chân tường đá ong lại bở bục ra từng mảng, rơi lả tả xuống nền đất ẩm ướt.
Vương Quang quay đầu lại nhìn Cụ Từ.
Lão già chột mắt đứng chết trân bên chiếc cột nách, ngọn đèn dầu trên tay chao đảo kịch liệt, hắt những vệt sáng run rẩy lên khuôn mặt nhăn nheo như vỏ cây thông mục. Bàn tay khẳng khiu của lão đang bấu chặt vào thanh sắt gỉ cời than, đầu ngón tay trắng bệch ra vì ghìm lực.
"Cụ Từ," giọng Vương Quang trầm đục, khô khốc vang lên trong bóng tối: "Trần Bá Lập... Mười năm trước không phải chết đuối ngoài bãi sông, đúng không?"
Một câu hỏi rơi xuống như hòn đá ném vào lòng giếng cạn.
Lão Đỗ giật nảy mình, quắc mắt nhìn Vương Quang: "Mày... Mày ăn nói càn dỡ gì thế hả? Sổ bộ huyện ghi rõ rành rành ba mươi bảy người trôi sông trong trận vỡ đê năm Cảnh Hưng..."
"Sổ bộ chỉ ghi ba mươi bảy người, nhưng trên bia đá này lại có ba mươi tám tên," Vương Quang cắt ngang lời lão Đỗ. Hắn không to tiếng, nhưng âm điệu nhát gừng, phẳng lặng của hắn mang theo sự dứt khoát của kẻ đã quen lần mò từng vết cạo trên giấy bản: "Tên thằng Lập bị cạo sạch khỏi sổ đinh huyện lỵ, đất bãi bồi của nó nhập vào công điền để người ta thu hoa lợi mười năm nay. Nhưng trên mặt bia đá này, nét khắc tên nó sâu hơn ba mươi bảy cái tên còn lại nửa phân, rãnh chữ không hề có vệt mài sửa."
Hắn bước lên một bước, con mắt trái bình thường nhìn chăm chú vào vẻ mặt đang run rẩy của ông lão coi đình:
"Người chết trôi sông thì xác dạt ra cửa biển, lập đàn chiêu hồn ghi tên lên bia để thờ vọng. Nhưng cái tên này rỉ bùn đen... Hắn không chết ngoài dòng nước xiết. Đêm ấy, ở cống Ba Cửa có chuyện gì?"
Bàn tay Cụ Từ rung lên bần bật, thanh sắt gỉ rơi cạch một tiếng xuống sàn gạch.
Con mắt độc nhất của lão già chột từ từ ngước lên, đục ngầu và hoảng loạn. Đôi môi thâm sì, móm mém của lão giật giật, mãi mới bật ra được một tràng cười khàn đặc, lẹt xẹt và khô khốc như tiếng rễ tre bị nghiền nát dưới cối đá:
"Mày... Mày có mắt âm... Mày thấy rồi..."
"Cụ Từ! Ông lẩm cẩm cái gì thế?" Lão Đỗ sợ đến mức nhảy lùi lại một bước, lưng dán chặt vào cánh cửa gỗ lim: "Mau bảo nó dập bia rồi ra ngoài!"
"Ra cái gì mà ra? Chạy đằng nào được nữa!" Cụ Từ bỗng nghẹn giọng, hai bàn tay khô đét vò chặt lấy vạt áo tơi lá, lồng ngực phập phồng kiệt sức: "Mười năm trước... Đêm rằm tháng Chạp mưa thối đất thối cát... Đoạn đê làng Hạ vỡ toác một quãng mười trượng. Nước sông Đáy chực cuốn phăng cả cơ ngơi, ruộng bãi... Người ta bảo dòng nước ngầm dưới đáy lạch đang trở mình dữ quá, phải có người chịu thế mạng nằm xuống chân cống thì đất mới chịu yên. Thằng Lập là đinh côi cút, không cha không mẹ, không một tấc đất cắm dùi..."
Lão già đưa con mắt đục ngầu nhìn về phía góc tường tối, giọng đay nghiến trong hơi thở khè khè:
"Đêm ấy người ta chuốc say nó... Trói nó lại rồi dìm xuống hố móng chân cống Ba Cửa. Người ta đổ thứ gì trắng đục xuống đó... Tao chỉ biết từ sáng hôm sau, miệng cống nồng nặc mùi vôi đến không ai đứng nổi. Sau đêm ấy, đê giữ được, đất bãi bồi đổi chủ. Tên thằng Lập biến mất khỏi sổ huyện... Tao là người coi đình, đêm ấy tao lén đục tên nó vào đáy tấm bia này. Tao chỉ nghĩ... Để tên nó ở đây, họa may Thành Hoàng còn nhớ làng này từng có một người tên Lập."
Rắc!
Một tiếng nứt khô khốc vang lên từ hương án chính cắt ngang lời lão già.
Cả ba người giật thót mình nhìn lại.
Dưới ánh đèn dầu lay lắt, pho tượng Thành Hoàng làng bằng đất nện bỗng rùng mình một cái. Vết nứt trên ngực áo tượng không còn là đường rạn chân chim; nó toác rộng ra bằng cả bàn tay, để lộ lớp cốt tre đan bên trong đã gãy vụn, đen sì vì ẩm mục.
Từ trong lồng ngực rỗng tuếch của pho tượng đất, một thứ bùn nhão màu xám xịt bắt đầu rỉ ra, chảy ròng ròng xuống mặt hương án, làm tắt ngấm mấy nén hương ngải cứu Cụ Từ cắm lúc sáng.
Ở góc chân ngai thờ, đống vụn ngói đỏ bầy nhầy lúc nãy đã bị dòng nước ngầm đen đúa cuốn trôi hoàn toàn. Không còn vật kê đệm, pho tượng đất nặng hàng trăm cân đổ ụp về phía trước, đầu tượng nện rầm một tiếng xuống mặt bàn gỗ, vỡ toác làm hai nửa.
Mùi bùn hôi nồng nặc bốc lên ngùn ngụt, tràn ngập gian phòng kín.
Cạch.
Cánh cửa gỗ lim ngăn cách giữa hậu cung và tiền tế bỗng nhiên bị đẩy mạnh ra.
Trần Bá Cửu bước vào, theo sau là hai tên tuần đinh và một người đàn ông lực lưỡng trạc ngoài ba mươi tuổi — Trần Tam, em họ gã Lý trưởng. Trên tay Trần Tam lăm lăm một chiếc câu liêm sắt tra cán tre dài.
Vương Quang khẽ liếc mắt sang. Hắn nhận ra bàn tay phải cầm cán câu liêm của Trần Tam đang quấn một mảnh vải thô cáu bẩn. Khi bắt gặp ánh mắt lạnh ngắt của Vương Quang nhìn xuống tay mình, Trần Tam khẽ giật mình một cái, vô thức kéo vạt vải thô phủ xuống mu bàn tay toan giấu ra sau lưng. Nhưng động tác ấy đã chậm một nhịp; Vương Quang vẫn kịp nhìn thấy mép sợi chỉ ngũ sắc bện bằng chỉ dâu tước nhỏ thò ra khỏi nếp vải, mép chỉ hãy còn vương vệt máu khô thâm sì.
Khác với vẻ hoảng loạn của đám phu phen, Trần Bá Cửu đứng yên ở ngưỡng cửa, nét mặt phẳng lặng đến đáng sợ, chỉ có đôi mắt ti hí là ánh lên những tia lạnh lẽo như thép nguội:
"Cụ Từ già rồi, lẫn cớ nói mê nói sảng. Thầy Đỗ là người của huyện nha, chẳng lẽ cũng ngồi nghe mấy chuyện ma quỷ vô căn cứ ấy?"
Gã bước qua ngưỡng cửa, không liếc nhìn pho tượng Thành Hoàng vừa vỡ, chỉ nhìn vào Vương Quang rồi quay sang Trần Tam:
"Khóa cửa đình lại. Ngoài đê nước đang tràn, cá chết tắc nghẽn cả cống. Lúc này không ai được tự ý bước chân ra ngoài làm kinh động dân làng."
Trần Tam lập tức gạt cánh cửa gỗ lim khép lại, then cài bằng gỗ nghiến sập xuống cạch một tiếng khô khốc.
Trần Bá Cửu chống đầu gậy tre bịt sắt xuống mặt sàn gạch vồ, giọng gã trầm đục, ráo hoác:
"Thầy Đỗ, công việc của nha môn thì làm cho tròn. Tấm bia này mười năm dầm mưa dãi nắng, chữ nghĩa mòn vẹt là chuyện bình thường của đất bãi bồi. Cầm lấy miếng vải dập mực, dập đúng ba mươi bảy cái tên rồi ký vào giấy xác nhận bia phong hóa mất chữ. Xong việc, dân làng Hạ chúng tôi có thuyền đưa thầy về huyện an toàn."
Gã dừng lại nửa nhịp, đuôi mắt liếc nhìn vũng bùn đen đang rỉ ra từ chân bia:
"Đất đang sụt dưới chân mà thầy Đỗ còn muốn đào chuyện người chết mười năm trước lên. Nếu đêm nay có ai chết thêm, liệu thầy định ghi vào sổ là nước cuốn hay là do cái miệng mình gây ra?"
Lão Đỗ sợ đến mức mềm oặt cả người, lí nhí trong miệng: "Lý... Lý trưởng... Chuyện này quan Đốc Vận..."
"Quan Đốc Vận ở ngoài bãi sông, còn cái đình này là đất của họ Trần," Trần Bá Cửu lạnh lùng ngắt lời.
Vương Quang đứng nép sát vách đá ong. Hắn không nhìn vào mũi câu liêm sắt của Trần Tam, cũng không cất lời đôi co vô ích.
Hắn nhìn xuống dòng bùn đen dưới chân.
Vương Quang không biết dưới lớp đất kia có gì. Hắn chỉ biết ba chuyện đang xảy ra cùng lúc: nước ở Ba Cửa đổi hướng, cây cọc sắt ngoài bãi Cổ Miễu đã đóng xuống, và nền hậu cung đang bị đẩy từ dưới lên. Nếu phải đoán, hắn chỉ dám nghĩ nhát cọc kia đã khiến dòng nước tìm sang một đường khác. Còn đường nước ấy đi qua đâu, dưới lớp đất có thứ gì, hắn không biết.
Ngôi đình này sắp sập.
"Trần Lý trưởng," Vương Quang khẽ lên tiếng. Giọng hắn trầm khàn, đều đều không gợn sóng: "Cọc sắt của quan Đốc Vận nện ngoài bãi sông đã làm nước đổi dòng rồi. Nước ngầm dưới cống đang dội vào móng hậu cung. Ông có ép cạo bia đá lúc này, nước dưới nền cũng không ngừng dâng lên đâu."
Trần Bá Cửu nheo mắt, gằn giọng: "Mày dọa ai..."
Chữ "ai" chưa kịp dứt khỏi miệng gã, thì từ sâu dưới lòng đất, một tiếng nổ trầm đục ục... ục... vang lên như tiếng sấm nghẹn dưới đáy chum.
Mặt sàn gạch vồ dưới chân năm người đột ngột rung chuyển dữ dội!
Rắc! Rầm!
Một mảng gạch lớn sát góc tường phía đông lún sụt xuống nửa thước. Nước bùn màu xám xịt trộn lẫn với thứ bột trắng sủi tăm từ dưới khe đất phun trào lên, bắn tung tóe vào vạt áo the của Trần Bá Cửu và ủng của lão Đỗ. Mùi bùn thối nồng nặc và hơi lạnh thấu xương lập tức tràn ngập gian phòng.
Hai tên tuần đinh đứng giữ cửa hoảng hốt kêu lên: "Bác Cửu! Nền đình lún rồi! Nước ngoài sân đang tràn qua bậc tam cấp!"
Trần Bá Cửu loạng choạng trượt chân trên lớp bùn nhão, cây gậy sắt trong tay va vào vách đá ong kêu chan chát. Trần Tam vội buông một tay đỡ lấy anh họ, để lộ hẳn vệt vải quấn bết máu khô nơi cổ tay phải.
Mặt tấm bia đá xanh rung lên bần bật. Những mảng rêu cổ thụ bám quanh các rãnh chữ rã ra, rơi lả tả xuống dòng nước đục.
Và ngay lúc ấy, trong túi áo ngực của Vương Quang, mảnh gỗ dâu mục nát nhặt từ chân ngai Thành Hoàng hôm qua bỗng tỏa ra một luồng nhiệt âm ỉ. Nó nóng ran lên áp sát vào xương sườn hắn, như một đốm than vùi trong tro lạnh.
Vương Quang không hiểu vì sao mảnh gỗ lại nóng lên. Hắn chỉ thấy dưới con mắt phải của mình, khi luồng nhiệt ấy lan tỏa, vệt bùn đen đang cuộn trào quanh bệ rùa đá dường như khựng lại một nhịp, không phun trào dữ dội như trước nữa.
Trần Bá Cửu mặt mày tái mét, không còn giữ được vẻ điềm tĩnh nữa. Gã lảo đảo toan giật then cửa vùng chạy ra ngoài tiền tế: "Mở cửa! Mở cửa mau!"
Nhưng đúng vào khoảnh khắc then cài gỗ nghiến vừa được giật ra, một tiếng động đanh gọn bỗng dội vào từ phía sân đình.
Cộp... cộp... cộp...
Đó là tiếng vó ngựa nện trên mặt đường đất bùn đỏ.
Tiếng vó ngựa không dồn dập, không vội vã. Từng nhịp nện xuống mặt đất chậm rãi, nặng trịch và đanh thép, xuyên qua cả màn mưa phùn tháng Chạp và tiếng nước réo sôi sùng sục dưới nền gạch vỡ.
Không ai hiểu vì sao, nhưng tiếng vó ngựa ngoài sân vừa vọng vào, cả đám người đang giẫm đạp trong hậu cung bỗng nhiên im bặt. Người cưỡi con ngựa trạm lông xám kia dừng lại bên gốc nhãn già, mang theo một thứ uy thế lạnh lùng, trật tự của công quyền tối cao mà phường hào tộc xó quê không dám coi thường.
Vương Quang dựa lưng vào vách đá ong, con mắt phải đau buốt nhìn qua khung cửa vừa mở toang.
Giữa màn mưa phùn xám xịt của sân đình làng Hạ, bóng người khoác áo bào đen tuyền trơn nhẵn chậm rãi bước xuống thềm đá. Bên hông người đó, chiếc đĩa kim loại tròn trịa bằng đồng thau — Định Mạch Đồng Bàn — khẽ lay động, phản chiếu một tia sáng lạnh tanh, sắc lẹm như lưỡi dao cạo giấy.
Kẻ giữ mực đen của triều đình đã đến.
Thảo luận
Bình luận chương
0 bình luận
Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên bình luận chương này.