Chương 54: Thần Khế Cổ Miếu
Nhân Gian Có Màn
Mục lục
54 chươngCuộn, vuốt hoặc dùng hai nút để xem thêm Đã tải 54/54 chương
Ngọn đèn dầu lạc trên bàn mộc chao nghiêng khi luồng gió bấc luồn qua kẽ liếp nứa, hắt bóng hai người gập ghềnh lên vách đất ẩm mốc.
Dưới ánh sáng vàng vọt, ba chữ Hán cổ viết bằng thứ mực nho đã ngả màu nâu đất hiện rõ nơi góc trang giấy dó:
Bất khả khải. (Không được mở).
Nét mực thô dày, dường như được vội vã thêm vào bằng một ngọn bút lông cùn, không mang phong cách mực thước của viên lại dịch coi việc điền bạ. Dưới ba chữ ấy không có dấu triện quan phương, cũng không có lạc khoản ghi ngày tháng.
Vương Quang cúi người, con mắt trái nheo lại quan sát thớ giấy bản.
Nét mực đã ăn sâu vào sợi dó mục, cho thấy dòng chữ không phải mới được thêm vào gần đây. Nhưng nó được viết cùng lúc với trang địa bạ, hay được bổ sung sau đó không lâu, hắn chưa thể xác định.
"Ai viết dòng này?" Vương Quang hỏi, giọng phẳng lặng.
Phan Khắc Tố lắc đầu chầm chậm, hai bàn tay già nua vẫn run rẩy đặt trên mép chõng tre:
"Không rõ. Trong gia phả họ Phan, việc ghi chép điền bạ truyền qua bốn đời. Bản địa bạ này do cụ tổ Phan Khắc Thuần lập vào những năm đầu lập làng, trước thời Khai Tự chừng ba mươi năm. Cụ chỉ dặn lại con cháu: Dải bãi bồi ngã ba sông là nơi tụ thủy, cắm mốc lập thôn chỉ được lấy từ bờ kè đá trở lên, tuyệt đối không được đào sâu xuống tầng sỏi đáy lạch."
Lão đưa ngón tay trỏ khô khốc chỉ vào sơ đồ vẽ bằng mực đen trên trang giấy:
"Thầy Ký nhìn chỗ này. Ranh giới điền bạ của ba họ ngày ấy chừa ra một khoảng trống hình cánh quạt ngay tại ngã ba sông Đáy và sông Cốc. Phần đất ấy trong sổ không ghi tên đinh bộ, không đánh thuế tô, chỉ đề ba chữ: Thủy Khẩu Xứ."
Phan Khắc Tố gọi đó là phần đất "có chủ ngầm". Vương Quang không sửa lời lão, nhưng trong đầu chỉ ghi lại theo cách của một Ký lục: một khu vực bị bỏ trống trong hồ sơ quản lý đất đai của huyện nha.
Hắn đưa bàn tay trái nhấc tấm thẻ đồng thau Thủy Khẩu Thần Khế lên.
Mặt kim loại lạnh ngắt, phủ một lớp gỉ đồng màu xanh lục xỉn. Tấm thẻ dài chừng bốn tấc, rộng hai ngón tay, dày dặn và khá nặng. Bốn chữ Thủy Khẩu Thần Khế được khắc chìm theo lối chữ triện cổ. Hắn lật mặt sau tấm thẻ: không có niên hiệu triều đình, không có ấn triện của Lễ Bộ hay cơ quan phong sắc trần gian, mà chỉ có một hình khắc phù hiệu ba con sóng cuộn gối đầu lên một khối đá hình thang.
Bốn chữ Thủy Khẩu Thần Khế khiến hắn nhớ đến câu nói của Lê Toàn dưới bãi bùn đêm mười sáu: Thần quyền phải có địa chứng.
Nhưng tấm thẻ này là khế ước của ai, do ai lập, được ai thừa nhận, hắn hoàn toàn không biết. Không có sắc phong của Lễ Bộ, nó càng không thể tự mình chứng minh ngôi miếu từng thuộc quyền quản lý chính thức của triều đình.
"Họ Lê và họ Quách trong địa bạ này ghi nhận ra sao?" Vương Quang hỏi.
Phan Khắc Tố chép miệng thở dài:
"Họ Quách thì từ xưa vẫn giữ nghề mộc và đục đá trên mỏ Thạch Tuyền, chỉ có chân hàng chở đá xuôi bến. Còn họ Lê từng giữ việc bến bãi đò giang, nhưng sau nhiều đời đã thất tán. Trong địa bạ cũ chỉ còn vài tên người, vài khoảnh đất bỏ hoang và những giấy chuyển nhượng không còn đủ đầu mối để tra cứu nữa."
"Còn ngôi miếu Thủy Khẩu hiện giờ thế nào?"
"Hoang phế mười năm nay rồi thầy," Phan Khắc Tố nói nhỏ: "Nó nằm ở sườn đồi phía sau bờ kè đá, cách trạm dịch chừng nửa dặm đường mòn. Trước đây dân vạn chài và phu trạm vẫn qua lại thắp hương cầu an khi xuôi bè qua bãi sỏi. Nhưng từ sau trận lũ lớn năm Kỷ Mão làm sập nửa gian hậu cung, người ta đồn trong miếu có khí lạ bốc lên, ai vào cúng bái về cũng phát sốt lạnh. Dần dà không ai dám bén mảng, hương hỏa dứt hẳn."
Lại là mốc thời gian năm Kỷ Mão.
Vương Quang khép tập địa bạ lại bằng bàn tay trái, nhìn viên Chủ bạ già:
"Tấm thẻ này và tập địa bạ, tôi mượn đến giờ Ngọ."
Phan Khắc Tố biến sắc, giơ hai tay toan giữ lấy chiếc tráp: "Thầy Ký! Đây là đồ gia truyền..."
"Phan Chủ bạ," Vương Quang cất giọng ráo hoác: "Tào Hữu Đức đang chực chờ giờ Ngọ để dỡ gạo xuống bãi bồi. Nếu bãi sỏi sụt lở, cả huyện nha lẫn phủ đường sẽ biến nơi này thành án trường điều tra sạt lở luồng thủy. Đến lúc ấy, cuốn sổ này nằm trong tráp hay bị lính lệ thu giữ làm tang vật, tự ông hiểu rõ."
Phan Khắc Tố sững sờ. Đôi bàn tay run rẩy của lão chầm chậm buông thõng xuống chõng tre. Lão hiểu người thanh niên mang áo chàm này nói không sai; một khi đê kè biến động, mọi thứ che giấu suốt mấy đời sẽ bị bới tung dưới công văn điều tra.
Lão nuốt khan, gật đầu:
"Thầy... thầy cầm đi. Nhưng nhớ lấy: Dưới lòng bãi bồi ngã ba sông... tốt nhất đừng để ai bới sâu thêm nữa."
Vương Quang không đáp. Hắn cẩn thận bọc tập địa bạ và tấm thẻ đồng vào tấm lụa điều, nhét sâu vào túi da trâu bên hông, cài chặt khóa quai.
Rời khỏi gian buồng xép của trạm dịch, trời đã sáng rõ nhưng bầu trời vẫn trùm một màu xám chì ảm đạm.
Sương muối tan dần thành những giọt nước lạnh bám đầy trên bờ kè đá hộc. Dưới lòng lạch cạn, nước chỉ còn rịn ra từng vệt nhỏ quanh chân cọc gỗ lim thứ ba, vành đai bao cát vôi đêm trước vẫn giữ được chân nền. Tào Hữu Đức đang đứng trên bờ đê quát tháo tuần đinh kiểm tra độ ẩm các khoang thuyền gạo.
Vương Quang không bước xuống bãi bùn. Hắn rảo bước men theo con đường mòn ngược lên sườn đồi phía bắc.
Cánh tay phải tì chặt vào mạng sườn. Sau nửa ngày dầm sương và phi ngựa, cơn sốt nơi mỏm xương cổ tay đã chuyển thành một mảng sưng nóng cục bộ, làn da quanh thanh nẹp đồng căng tức nhức nhối. Con mắt phải mờ xám giật từng chặp khiến tầm nhìn bên sườn núi bị nhòe đi. Mỗi bước chân giẫm lên đất nhão là một lần khớp xương dội buốt, khiến hắn phải dừng lại tựa vào gốc cây thở dốc, rồi mới dùng thanh Thiết Xích Khảo Sát bên tay trái gạt cành dại bước tiếp.
Đi chừng nửa dặm qua rặng xoan rừng khẳng khiu, phế tích miếu Thủy Khẩu hiện ra giữa một khoảng đất trũng nép sát chân vách đá vôi.
Đó là một ngôi miếu nhỏ xây bằng đá hộc ghép vữa vôi thô, mái lợp ngói âm dương đã sụp đổ hoàn toàn phần gian hữu. Dây leo gai góc mọc chằng chịt trùm kín cả cổng tam quan gãy nát.
Mùi ẩm mốc của lá mục và rêu đá lâu năm quyện với một mùi vôi tôi nguội lạnh thoang thoảng bốc ra từ khe nứt gian chính tẩm.
Vương Quang dừng lại trước bậc thềm đá phong hóa nứt toác. Hắn dùng đầu thanh Thiết Xích gạt những dây leo gai góc sang một bên, chậm rãi bước vào gian tiền tế.
Mặt sàn đá bên trong ngập ngụa lá rụng và mảnh ngói vỡ. Một bức hoành phi bằng gỗ mục rơi nghiêng trên nền đất, lớp sơn then bong tróc chỉ còn lờ mờ một vệt chữ Hán khắc chìm: Hà Thần Trấn Tọa.
Hắn bước qua đống xà gồ mục ruỗng, tiến vào gian hậu cung.
Nơi đây tối tăm và ẩm ướt, nép sát vào vách đá vôi tự nhiên của sườn đồi. Tại vị trí chính giữa hậu cung, bệ thờ xây bằng đá tảng ghép vữa vẫn còn đứng vững.
Trên bệ đá không hề có tượng thần, cũng không có bài vị bằng gỗ sơn son thếp vàng.
Ngay trung tâm của bệ thờ bằng đá hộc, chỉ có một hốc đá hình chữ nhật khoét sâu vào lòng đá tảng, dài chừng bốn tấc, rộng hai ngón tay, sâu nửa đốt ngón tay. Xung quanh mép hốc đá khoét chìm những hoa văn sóng nước cuộn gối đầu lên khối hình thang — hoàn toàn tương đồng với hoa văn phù hiệu ở mặt sau tấm thẻ đồng Thủy Khẩu Thần Khế.
Vương Quang thò bàn tay trái run run vào túi da trâu, rút tấm thẻ đồng ra.
Hắn đặt tấm thẻ vào hốc đá trên bệ thờ.
Tấm thẻ vừa chạm vào đáy hốc, một lớp bụi rêu mỏng quanh mép đá rơi lả tả xuống sàn.
Không có cơ quan hay tiếng máy móc chuyển động. Chỉ có một tiếng nứt khô khốc vang lên từ phía sau bệ thờ, như một phiến đá lâu ngày ẩm mục chịu thêm một sức nặng vừa đủ làm dịch chuyển gờ tựa.
Khe nứt tự nhiên giữa bệ đá và vách núi đá vôi phía sau khẽ hé rộng ra chừng hai đốt ngón tay.
Vương Quang cúi người, con mắt trái nheo lại soi vào khe hở sau bệ đá.
Bên trong khe nứt của vách núi có một phiến đá phiến màu đen tuyền mỏng chừng một phân, dựng đứng tựa vào lòng đá. Trên mặt phiến đá đen, những dòng chữ nhỏ được khắc bằng mũi đục nhọn, phủ một lớp vôi trắng mỏng để làm nổi nét chữ.
Ở dòng đầu tiên, sáu chữ Hán hiện ra dưới ánh sáng le lói hắt qua mái ngói thủng:
Khai Tự thất niên — Thạch Bi Ký.
Hắn nén cơn đau buốt ở cổ tay phải, ghé sát mắt đọc từng dòng chữ khắc:
“Tháng Chạp năm Khai Tự thứ bẩy, sau khi luồng nước dưới bãi Cổ Am đổi dòng, phủ đường sai người đến đo xét. Mười tám thân lim có nẹp đồng được đưa xuống từ Thạch Tuyền. Việc lập cọc hoàn tất vào ngày mười lăm. Thần Khế Thủy Khẩu được chuyển lên triền đá. Phần đất phía dưới bờ kè không nhập vào địa bạ ba họ. Người giữ đất đời sau không được tự tiện đào xuống tầng sỏi cũ. Nếu có việc cần mở đất, phải đủ ba bên đối chiếu: người giữ địa bạ, người giữ miếu, người giữ lời khế. Ngày...”
Phần chữ phía sau đã bị mũi đục nào đó cố ý cào nát, đá trơ ra những vết sứt sẹo nham nhở, mất hẳn đoạn kết thúc.
Vương Quang nhìn chăm chú vào từng vết đục dở dang.
Phiến đá này xác nhận những sự việc có thật: việc luồng nước đổi dòng năm Khai Tự thứ bẩy, mười tám thân lim nẹp đồng từ Thạch Tuyền, việc chuyển Thần Khế lên triền đồi, và một dải đất bãi bồi bị gạt ra ngoài địa bạ ba họ. Nó cũng để lại một quy tắc thủ tục rõ ràng: muốn mở dải đất ấy, bắt buộc phải có đủ ba bên đối chiếu gồm người giữ địa bạ, người giữ miếu và người giữ lời khế.
Nhưng ai đã ra lệnh làm việc này? Cỗ quan tài độc mộc đóng vai trò gì trong sự kiện năm ấy? Và tại sao phần sau của tấm bia lại bị đục bỏ?
Tấm bia đá không trả lời những câu hỏi đó. Nó chỉ là một mảnh hồ sơ bị cắt cụt, trơ trọi giữa phế tích hoang tàn.
Vương Quang không cố cậy phiến đá đen ra khỏi vách núi. Phiến đá quá nặng và giòn, việc cạy phá chỉ làm hỏng dấu vết hiện trường.
Hắn ngồi xổm xuống sàn đá ẩm ướt, tì cẳng tay phải đang phát sốt lên đầu gối làm điểm tựa. Bằng bàn tay trái vụng về và run rẩy vì lạnh, hắn rút một tờ giấy bản mỏng và mẩu than củi trong túi đồ nghề ra, cẩn thận chép lại từng chữ của bản văn khắc. Chữ viết tay trái ngoằn ngoèo và xiêu vẹo, nhưng từng nét chữ Hán cổ đều được ghi lại chuẩn xác, kèm theo ghi chú về vị trí bệ thờ, hướng khe đá và hoa văn sóng nước.
Chép xong, hắn cất tờ giấy và tấm thẻ đồng vào túi da trâu, cài chặt nắp.
Đoong... Đoong... Đoong!
Đột nhiên, từ phía chân đồi bến sông vọng lên tiếng chuông đồng báo động dồn dập, hòa lẫn tiếng la hét hoảng loạn của tuần phu:
"Thầy Ký ơi! Bác Đốc Lại ơi! Nước dưới bến lại rút thêm rồi! Bãi bùn lún sụt, lòng lạch nứt ra một đường dài rồi!"
Tiếng gỗ lim nghiến vào đá ngầm dưới đáy sông vọng lên từng hồi, nặng nề và chậm chạp như có một khối vật thể khổng lồ đang trượt dần về phía miệng vực.
Giờ Ngọ đã điểm.
Vương Quang siết chặt thanh Thiết Xích Khảo Sát trong tay trái, đứng bật dậy, lao nhanh xuống triền đồi.
Thảo luận
Bình luận chương
0 bình luận
Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên bình luận chương này.