Nhân Gian Có Màn

Chương 45: Hẻm Đá Hang Dơi

Đăng: 14/09/2026 14:28 3,011 từ 3 lượt đọc

Mặt trời mùa đông nhô lên sau những rặng núi đá vôi tai mèo, nhưng thứ ánh sáng nhợt nhạt và yếu ớt không đủ xua đi làn sương muối đùng đục đang phủ kín khắp vùng ngã ba Cổ Am.


Gió bấc vẫn rít liên hồi qua các kẽ nứt của bờ kè đá. Tiếng nước rỉ róc rách sâu dưới đáy hố sụt ngầm thỉnh thoảng lại vọng lên những tiếng ục ục nặng trịch, nhắc nhở rằng nền đất bùn quanh con lạch cạn vẫn chưa ngừng xê dịch.


Bên ngoài bến sông, cỗ quan tài độc mộc dài hơn một trượng bọc lớp vỏ cây chít và nhựa đen vẫn nằm im lìm trên bãi sỏi lún. Hai sợi dây chão xơ dừa căng như dây đàn nối chặt thân gỗ vào hai cây cọc neo sắt cắm sâu trong vách đá gốc, tạm thời giữ cho nó không trượt thêm một tấc nào về phía miệng hố sụt.


Đám phu dịch và tuần đinh đã chôn xong một hàng cọc tre, căng dây thừng gai bao quanh mép hố lở theo đúng quy chuẩn khoanh vùng hiện trường mà Vương Quang yêu cầu. Không một ai dám bước qua ranh giới ấy; ba tiếng gõ cộc... cộc... khô khốc từ trong lòng gỗ lim lúc rạng sáng đã cắm chặt một nỗi e dè nặng nề vào tâm trí của từng người lính trạm.


Bên trong gian nhà sàn, Vương Quang cẩn thận cuộn tờ biên bản phụ bản số 01 và bản sao lục Cổ Am Thủy Mạch Dị Ký lại, nhét sâu vào chiếc túi da trâu đeo bên sườn. Hắn cài chặt thanh Thiết Xích Khảo Sát vào thắt lưng da bên trái, kiểm tra lại ống tre đựng bút mực, chiếc hũ gốm đựng mẫu tro và đĩa Châm Bàn Thủy Chuẩn.


Cánh tay phải mang nẹp đồng đen Chân Thư Bút của hắn vẫn đau nhức âm ỉ. Vết loét quanh mép kim loại sau một đêm dầm sương và dùng sức ghìm dây chão đã rỉ thêm một lớp dịch dính bết vào vải chàm. Mỗi cử động xoay cổ tay là một lần thanh gá lạnh ngắt thúc mạnh vào xương, nhưng hắn chỉ mím chặt môi, ép sát cẳng tay phải vào mạng sườn để hạn chế tối đa sự xê dịch.


Con mắt phải mờ xám giật thót từng chặp buốt nhói. Hắn phải chớp mắt liên tục, dùng tay áo chấm mồ hôi lạnh rịn ra quanh thái dương để giữ cho tầm nhìn của con mắt trái bên cạnh không bị chao đảo.


Vương Quang bước ra khỏi ngạch cửa liếp, đi thẳng tới trước mặt Tào Đốc Lại đang đứng chống nạnh bên đống than tàn ngoài hiên.


"Tào Đốc Lại."


Viên quan ty Đốc Vận quay ngoắt người lại. Sau một đêm thức trắng và chứng kiến cú sụt lún sáng nay, khuôn mặt bặm trợn của gã hốc hác hẳn đi, hai mắt đỏ ngầu những tia máu:


"Thầy Ký định đi đâu? Đã qua giờ Thìn rồi! Hai ngàn hộc gạo tô trên tám chiếc thuyền kia đang ngấm hơi ẩm từng khắc! Ngươi bảo tạm dừng phá cọc để mở hồ sơ, hồ sơ cũng đã xem rồi, giờ tính thế nào?"


"Cỗ quan tài đang nằm ngay chỗ nền bùn yếu nhất," Vương Quang cất giọng ráo hoác, phẳng lặng như đang đọc biên bản kiểm tra: "Nếu ông mang thuốc súng bạt núi vào lúc này, rất có thể chỉ làm sập thêm hang đá vôi, khiến đường nước càng khó dò, đáy bùn sẽ sụt lở hoàn toàn. Khi ấy cả bến sông này bị nuốt trọn thì tám thuyền gạo cũng không còn đường kéo ra."


Hắn đưa tay trái chỉ về phía con đường mòn men theo bờ nhánh sông Cốc ngược lên phía tây bắc:


"Tôi phải lên hẻm Hang Dơi xác minh một dấu vết vật chất. Tôi để lại một bản sao biên bản niêm phong hiện trường tại trạm dịch. Yêu cầu ty Đốc Vận cắt cử bốn tuần đinh mang giáo dài túc trực quanh cọc neo sắt, tuyệt đối không để người qua lại chạm vào dây chão ghìm quan tài. Tôi sẽ ghi rõ trong biên bản rằng hiện trường đã được niêm phong theo quy thức khảo sát. Nếu dây neo bị đứt hoặc quan tài trượt xuống hố sụt trong lúc tôi vắng mặt, ty Đốc Vận phải tự mình giải trình với phủ đường về việc làm hỏng vật chứng."


Tào Đốc Lại nghiến răng ken két, quai hàm bạnh ra. Gã muốn nổi nóng quát tháo, nhưng nhìn thấy nét chữ và vết chỉ son đỏ chót của chính mình trên tờ biên bản ban nãy, viên đốc lại đành nuốt cục tức nghẹn ứ xuống cổ họng:


"Được! Ta cho lính canh chừng cọc neo! Nhưng ta nhắc cho thầy Ký nhớ: gạo tô của Hộ Bộ kẹt trên thuyền chỉ chờ được đến sáng mai! Nếu hết hạn mà Khâm Thiên Giám không đưa ra được phương án xả nước nâng thuyền, ta buộc phải bẩm báo quan Biền sứ!"


Vương Quang không đôi co thêm. Hắn quay sang nhìn tên phu trạm có vết sẹo dài bên khóe mắt đang đứng nép bên cột hiên:


"Ngươi tên gì?"


Tên phu trạm giật thót mình, vội chắp tay: "Bẩm thầy Ký... Con tên Chu Sẹo, là phu trạm tuần đường bến Cổ Am."


"Chu Sẹo dắt hai con ngựa trạm khỏe chân, mang theo cuộn thừng gai, hai chiếc xẻng ngắn và một bó đuốc dầu thông," Vương Quang nói: "Dẫn đường cho ta lên hẻm núi Hang Dơi."


Chu Sẹo vừa nghe đến ba chữ "hẻm Hang Dơi" thì mặt mày tái mét. Gã lắp bắp: "Thầy Ký... Hẻm ấy là bãi đá bỏ hoang của phường thợ đẽo thời trước... Đường rừng cheo leo, người quanh vùng cả năm chẳng ai dám bén mảng..."


"Năm trượng da trâu phạt tội thoái thác công vụ, hoặc đi với ta nửa ngày rồi nhận một nén bạc trạm dịch," Vương Quang lấy từ túi da ra một nén bạc nhỏ đặt lên mặt bàn mộc: "Ngươi tự chọn."


Nhìn nén bạc trên mặt gỗ và ánh mắt lạnh nhạt của người thanh niên mặc áo chàm, Chu Sẹo nuốt khan một ngụm nước bọt, lập tức nhặt nén bạc nhét vào dải thắt lưng:


"Dạ... Con đi! Thầy Ký đợi con nửa khắc để thắng yên ngựa!"


Hai con ngựa trạm sải bước dọc theo con đường mòn cheo leo men theo nhánh sông Cốc.


Khác với dòng sông Đáy phù sa êm ả ở phía hạ lưu, sông Cốc là một con sông miền núi lòng hẹp, nước chảy ngoằn ngoèo qua các khe hở của dãy núi đá vôi Thạch Tuyền. Bình thường nước ở đây chảy xiết; nhưng lúc này, do ảnh hưởng của đợt sụt lún ở ngã ba Cổ Am, mực nước sông Cốc cũng tụt sâu hơn hai thước, để trơ ra những bãi đá tảng phủ đầy rêu chết khô xám xịt.


Càng đi sâu vào hẻm núi, vách đá hai bên càng dựng đứng như những bức tường khổng lồ che khuất ánh mặt trời. Gió đông bắc thổi thốc vào hẻm hẹp rít lên từng hồi buốt giá.


Trên lưng ngựa, Vương Quang ngồi gập người, dùng cánh tay trái giữ chặt dây cương.


Mỗi bước chân con ngựa đạp lên lớp đá dăm lạo xạo là một lần thân thể hắn bị xóc nảy. Bàn tay phải tì chặt vào mạng sườn, nhưng thanh nẹp đồng đen Chân Thư Bút vẫn rung lên theo từng nhịp, cấn vào miệng vết loét. Cơn đau nhức chạy dọc từ cẳng tay lên bả vai rồi xộc thẳng vào thái dương, làm trán hắn rịn mồ hôi lạnh dù gió núi đang thổi buốt da.


Con mắt phải mờ xám khiến tầm nhìn bên phải của hắn bị nhòe đi từng mảng, nhưng ở vài khe nứt thấp sát chân vách đá, hắn nhận thấy có những vệt ẩm màu vàng nhạt loang lổ trên mặt đá. Khi gió đổi chiều, lớp ẩm ấy bốc lên một thứ hơi mỏng lướt sát mặt vách rồi nhanh chóng tan mất vào không khí lạnh.


Mảnh gỗ dâu mục nát giắt sát xương sườn trong ngực áo hắn cũng khẽ giật một nhịp rất nhẹ — không buốt giá dữ dội như lúc giáp mặt bóng đen đêm qua, mà âm ỉ một luồng hơi lạnh ngắt.


Đi chừng hơn năm dặm đường rừng quanh co, vượt qua một khúc quanh gấp khúc nơi vách đá nhô ra như một hàm ếch khổng lồ, Chu Sẹo bỗng ghìm cương ngựa dừng lại.


"Thầy Ký... Tới nơi rồi."


Chu Sẹo cất giọng run rẩy, đưa tay chỉ về phía bãi đất bồi dưới chân vách đá bên tả ngạn:


"Đấy là bãi tha ma Hang Dơi."


Vương Quang ghìm ngựa, đưa mắt nhìn theo hướng tay chỉ.


Đó là một dải đất thoai thoải rộng chừng nửa mẫu, nằm kẹp giữa chân vách đá cao ngất và mép sông Cốc trơ đáy sỏi. Khắp bãi đất mọc đầy những bụi sim cằn cỗi và cỏ năn héo úa.


Rải rác khắp nơi là hàng chục khối đá hộc màu xám xanh, nhiều khối đã được đục đẽo dở dang thành hình rùa đội bia, tán cống tròn hoặc những tảng đá móng vuông vức. Những vết đục rãnh sắc cạnh trên mặt đá phủ đầy rêu mốc đen sì, chứng tỏ nơi này từng là một công trường đẽo đá quy mô của triều đình nhưng đã bị bỏ hoang từ nhiều thế hệ trước.


Xen lẫn giữa những khối đá tảng bỏ dở là những nấm mồ đất thấp lè tè, không có bia chữ, chỉ được đắp bằng một đống đá vụn sơ sài của những người thợ đá xấu số.


"Ngôi mộ gió nằm ngay trước miệng hang kia kìa," Chu Sẹo chỉ tay về phía góc trong cùng sát chân vách núi.


Vương Quang bước xuống ngựa. Đôi ủng da trâu nện xuống nền đá dăm lạo xạo.


Hắn tháo thanh Thiết Xích Khảo Sát bên hông trái cầm chắc trên tay, ra hiệu cho Chu Sẹo buộc ngựa vào gốc cây xoan già rồi bước chậm rãi tiến lại gần.


Nằm cô độc trước miệng hang đá đen ngòm là một nấm mộ tròn rộng chừng một trượng, được xếp xung quanh bằng những phiến đá hộc phẳng phiu. Khác với những ngôi mộ thợ đá sơ sài chung quanh, nấm mộ này được đắp bằng một lớp đất sét đỏ nện chặt trộn với vôi bột và cát mịn.


Và ở ngay chính giữa đầu nấm mộ, cắm một thân cọc gỗ lớn.


Không hề có bia đá.


Cắm trên đầu mộ là một thân cọc gỗ lim đen sì, cao nhô khỏi mặt đất chừng bốn thước. Đỉnh cọc được đẽo vát thành bốn mặt phẳng cụt đầu, và chạy dọc thân cọc từ đỉnh đâm sâu xuống lòng đất là những đường rãnh đục hình xoắn ốc sâu hoắm.


Cách đẽo thân cọc, độ rộng của các rãnh và lớp nhựa màu nâu sẫm còn sót lại trong khe gỗ khiến Vương Quang lập tức nhớ đến hàng cọc dưới bến Cổ Am. Chưa đủ để nói chúng thuộc cùng một công trình, nhưng sự tương đồng ấy không thể xem nhẹ.


Hắn quỳ một chân xuống lớp sỏi lạnh, đưa bàn tay trái miết nhẹ lên bề mặt thớ gỗ.


Chất gỗ lim đanh cứng, không có dấu hiệu mục ruỗng do mối mọt. Vương Quang rút cuộn dây gai đo đạc trong túi da ra, dùng tay trái kẹp đầu dây, cẩn thận đo chu vi thân cọc.


Chu vi thân cọc ở đây nhỏ hơn cây cọc thứ ba ở Cổ Am chừng gần một tấc, phần thân cọc có dấu vết bị đẽo gọt lại bằng rìu thô. Dọc thân cọc có mười tám đường rãnh xoắn, khớp với số lượng cọc gỗ nẹp đồng mà hồ sơ ghi nhận đoàn công vụ mang theo năm Khai Tự thứ bẩy.


Nhưng khi ánh mắt Vương Quang trượt xuống sát gốc cọc — nơi thân gỗ tiếp giáp với lớp đất sét nện của nấm mộ — chân mày hắn bỗng nhíu lại.


Ở phần gốc cọc nhô lên khỏi mặt đất chừng ba tấc, có một mộng gỗ hình mang cá được đục vát rất tinh xảo. Bên trong mộng gỗ ấy vẫn còn sót lại một chiếc chốt đồng dài bằng ngón tay trỏ bị gãy đôi, vết kim loại gãy đã ngả màu đồng thau xỉn.


Mộng mang cá và chốt đồng gãy cho thấy cây cọc từng được ghép với một bộ phận khác — có thể là một khung gỗ, một thanh giằng, hoặc một kết cấu chịu lực nào đó trước khi bị tháo rời ra để cắm lên nấm mộ này.


"Thầy Ký định đào mộ thật à?" Chu Sẹo đứng cách đó mấy bước, run giọng hỏi.


"Nếu lời đồn gọi đây là mộ gió thì lớp đất sét nện bên trên quả thật không giống kiểu huyệt mộ chôn sâu," Vương Quang đứng dậy, rút thanh Thiết Xích cắm mũi vát nhọn xuống lớp đất sét đỏ nện quanh chân cọc gỗ: "Nhưng phải đào xuống mới biết bên dưới có gì. Dùng xẻng bóc lớp đất nện này ra."


Thấy Vương Quang đã bắt tay vào việc, Chu Sẹo đành cắn răng vác xẻng bước lại gần.


Hai người bắt đầu đào bới lớp đất nện quanh gốc cọc lim. Vương Quang dùng tay trái cầm thanh Thiết Xích cạy từng mảng đất sét trộn vôi cứng như ngói vỡ, còn Chu Sẹo hót đất cát hất sang hai bên.


Đúng như quan sát ban đầu: lớp đất nện dày chừng một gang tay bên trên vừa bị bóc đi, bên dưới lập tức lộ ra một lớp cát sỏi sông khô ráo, xốp mềm. Không hề có dấu hiệu của một cỗ quan tài nằm ngay dưới lớp đất này, nhưng mùi bùn khô ngai ngái thì bốc lên rất rõ.


Khi đào sâu xuống chừng hai thước sát chân cọc gỗ, lưỡi xẻng của Chu Sẹo bỗng va phải một vật cứng phát ra tiếng keng đanh gọn.


"Có đồ dưới đáy!" Chu Sẹo buông xẻng thốt lên.


Vương Quang lập tức ngồi xổm xuống mép hố, dùng bàn tay trái gạt bỏ lớp cát sỏi bám quanh vật thể vừa phát lộ.


Nằm chìm dưới đáy hố đất, ngay sát chân cây cọc gỗ lim, là một chiếc hộp hình chữ nhật bằng đồng thau dài chừng một gang tay rưỡi.


Bề mặt hộp đồng bám đầy một lớp gỉ đồng màu xanh lục lam dày đặc. Mép nắp hộp được trét kín bằng một lớp sáp ong trộn nhựa thông đen sì, rõ ràng từng được làm để hạn chế hơi ẩm ngấm vào bên trong.


Và ở chính giữa nắp chiếc hộp đồng, một vết khắc chìm hiện ra rõ ràng:


Đó là một hình vẽ gồm ba vòng tròn đồng tâm, xuyên qua tâm là một đường rãnh thẳng đứng — hình dáng này trùng khớp với ký hiệu khắc trên nắp cỗ quan tài độc mộc dưới bãi bùn Cổ Am.


Vương Quang đưa mũi nhọn thanh Thiết Xích vào khe hở giữa thân hộp và nắp đậy, dùng lực cổ tay trái nạy mạnh lớp sáp niêm phong lâu năm.


Rắc.


Lớp sáp khô giòn nứt toác ra.


Vương Quang nhấc nắp chiếc hộp đồng lên.


Bên trong lòng hộp lót một lớp vải tơ tằm màu vàng điều đã mục nát thành từng sợi mủn.


Nằm ngay ngắn trên lớp vải nát ấy là hai vật phẩm:


Thứ nhất là một tấm thẻ bài bằng gỗ thị màu nâu sẫm, mép thẻ bọc một dải đồng mỏng xỉn màu. Trên mặt trước của tấm thẻ gỗ, bốn chữ Hán khắc chân phương hiện ra:


Hành Trình Ký Lục.


Và lật mặt sau của tấm thẻ, một dòng chữ nhỏ khắc chìm:


Doãn Thừa Đức — Khai Tự thất niên.


Thứ hai là một cuốn sổ tay nhỏ bọc da thú màu xám, mép giấy ép sáp chống nước. Trên bìa cuốn sổ da, bốn chữ viết bằng mực tàu đã phai màu vẫn còn nhận diện được:


Thạch Tuyền Nhật Ký.


Vương Quang nhìn dòng chữ khắc trên tấm thẻ gỗ thị rất lâu.


Tấm thẻ bài thân phận mà một Ký lục phải giữ bên mình khi thi hành công vụ... lại nằm ở đây.


Nếu dòng chữ trên thẻ là thật, hồ sơ phủ đường đã bỏ sót một chuyện quan trọng: sau khi đoàn công vụ mất tích, ít nhất có một vật chứng công môn của họ từng được đưa tới hẻm núi Hang Dơi này.


Nhưng thẻ bài có thể do người khác mang đến. Việc tìm thấy tấm thẻ ở đây chỉ chứng minh nó từng xuất hiện tại hẻm núi này, hoàn toàn chưa thể khẳng định người mang thẻ đã chết ở đây, và càng chưa thể kết luận cái xác nằm trong cỗ quan tài độc mộc dưới bến Cổ Am có phải là Doãn Thừa Đức hay không.


Vương Quang không mở cuốn sổ tay da thú ngay tại miệng hố. Hắn cẩn thận dùng tay trái nhặt tấm thẻ gỗ thị và cuốn Thạch Tuyền Nhật Ký nhét sâu vào túi da trâu, rồi đậy nắp hộp đồng lại.


Hắn đứng thẳng người dậy khỏi miệng hố đất, đưa mắt nhìn về phía vòm hang đá vôi tối om phía sau nấm mộ.


Gió núi ngừng bặt trong khoảnh khắc.


Từ sâu trong bóng tối của lòng hang, một giọt nước lạnh buốt rơi xuống nền đá phẳng:


Tách.


Vương Quang ngẩng đầu.

0
Ủng hộ tác giả Cương Vương Nếu bạn yêu thích tác phẩm, hãy ủng hộ mình ly cafe nhé <3