Nhân Gian Có Màn

Chương 48: Dị Biến Lòng Lạch

Đăng: 14/09/2026 17:06 3,132 từ 1 lượt đọc

Gió bấc rít từng cơn buốt giá qua khe liếp cửa sổ, làm ngọn đèn dầu lạc trên bàn mộc chao nghiêng, tạt một vệt khói đen khét lẹt vào vách nứa.

Rầm! Rầm! Rầm!

Tiếng đấm cửa dồn dập của Chu Bá Cửu bên ngoài thềm ván khiến then cài bằng gỗ nghiến rung lên bần bật. Giọng gã phu trạm lạc hẳn đi, nghẹn ứ nơi cuống họng như kẻ vừa nhìn thấy lưỡi đao kề sát cổ:

"Thầy Ký! Thầy Ký ơi! Mở cửa... Mau lên thầy ơi! Dưới bến... nước đùn lên rồi! Đỏ quạch sền sệt... Thằng Đội trượt chân thụt xuống vũng bùn, đang giãy giụa ngoài bờ kè kia kìa!"

Bên trong gian buồng xép, Vương Quang không hề luống cuống.

Bàn tay trái của hắn lập tức chụp lấy mảnh vải dầu trên mặt bàn, trùm kín cuốn Thạch Tuyền Nhật Ký và tấm thẻ gỗ thị của Doãn Thừa Đức, nhét sâu vào đáy chiếc túi da trâu bên hông, cài chặt quai đồng. Hắn cài thanh Thiết Xích Khảo Sát vào đai lưng bên trái, chụp lấy chiếc đèn bão bọc da bò và chiếc ống tre đựng hũ gốm rỗng chuyên dùng lấy mẫu thực địa.

Cánh tay phải vừa được rửa bằng nước sôi để nguội và bôi lớp mỡ lưu huỳnh vẫn còn tê dại và buốt rát. Khi hắn cử động gấp gáp, mép nẹp đồng đen Chân Thư Bút lại thúc mạnh vào mỏm xương cổ tay, mang theo một cơn đau nhức nhối xộc thẳng lên thái dương. Vương Quang cắn chặt môi dưới, tì cẳng tay phải vào mạng sườn để cố định độ rung, dùng một tay trái giật tung then cài cửa gỗ.

Gió lạnh ùa vào phòng buốt như nước tuyết.

Chu Bá Cửu đứng chết trân ngoài hiên ván, chiếc áo nẹp da trâu ướt đẫm sương muối bết chặt vào ngực. Mặt gã xám ngoét, hai hàm răng va vào nhau lập cập, ngón tay run lẩy bẩy chỉ thẳng xuống lòng lạch cạn phía bến sông:

"Thầy Ký... Canh ba vừa điểm... Thằng Đội với thằng Sứt đi tuần quanh cọc sắt neo thuyền... Bỗng nhiên dưới chân cọc gỗ thứ ba có tiếng ục ục đùng đục... Rồi nước từ kẽ nứt cạnh sườn cỗ quan tài trào ngược lên! Không phải nước sông... Thứ nước ấy nhờn nhờn, màu đỏ nâu như nước luộc rễ cây... Thằng Đội trượt chân ngập ủng xuống vũng nước ấy, lớp da cẳng chân nó giờ đang rộp đỏ, lột ra từng mảng!"

"Tào Đốc Lại và Phan Chủ bạ đâu?" Vương Quang sải bước qua ngạch cửa, giọng phẳng lặng nhưng đanh gọn.

"Quan Đốc Lại cùng tuần đinh kéo hết xuống bến rồi! Lão mang theo cả đuốc dầu thông với búa tạ, bảo là tà khí quấy phá... đòi châm lửa đốt cỗ quan tài để trừ họa!"

"Dẫn đường xuống bến. Nhanh lên!"

Vương Quang bước thoăn thoắt xuống con dốc đá lởm chởm dẫn ra bờ đê.

Khung cảnh bến sông Cổ Am lúc nửa đêm hỗn loạn như một bãi tha ma vừa bị đào bới.

Hơn mười ngọn đuốc dầu thông cắm dọc bờ kè đá hộc bốc khói đen cuồn cuộn, ánh lửa đỏ quạch hắt xuống lòng sông cạn trơ đáy một thứ ánh sáng chập chờn, nhấp nhô theo từng cơn gió buốt.

Mùi bùn non tanh tưởi của dòng sông Đáy hoàn toàn bị đè bẹp bởi một thứ mùi hôi nồng nặc và lợm giọng: mùi mỡ động vật ôi thối quyện chặt với mùi tro khoáng nung gắt — thứ mùi mà Doãn Thừa Đức đã ghi lại trong cuốn nhật ký một trăm năm mươi năm trước!

Dưới mép bờ đá dăm, một tên tuần đinh trẻ tuổi — chính là tên Đội — đang nằm vật vã trên bãi sỏi, hai tay cào cấu xuống đất, miệng rên rỉ nghẹn đặc trong cổ họng.

Ống quần bên chân phải của gã đã bị xé toang, để lộ cẳng chân từ bắp xuống bàn chân. Làn da tấy đỏ dữ dội, nổi lên những mụn phỏng to bằng quả táo ta căng mọng, rỉ ra thứ dịch màu vàng đùng đục. Chiếc ủng da trâu của gã bị vứt lăn lóc bên cạnh; lớp da thuộc dày dặn đã bị ăn mòn loang lổ từng mảng, mép da quăn queo và mủn ra như vừa bị nhúng vào vạc nước sôi trộn tro gắt.

Ba bốn tên phu trạm đứng xung quanh, mặt mày tái mét, cầm gậy gộc chĩa về phía tên lính lệ đang giãy giụa nhưng tuyệt nhiên không ai dám bước lại gần chạm vào người gã.

Cách đó mười trượng, ngay sát mép hàng rào dây thừng gai khoanh vùng hiện trường, Tào Hữu Đức cởi trần chiếc áo ngắn, lộ bộ ngực hộ pháp bóng nhẫy mồ hôi dù gió đông đang thổi buốt thịt da. Tay phải gã lăm lăm một bó đuốc dầu thông đang cháy ngùn ngụt, tay trái cầm chiếc xà beng sắt lớn, quát tháo ầm ĩ:

"Lũ chúng mày đứng trơ ra đấy làm gì? Mang thêm dầu rái với rơm khô lại đây! Đổ hết xuống hố sụt cho ta! Cỗ quan tài này rỉ máu độc lên hại người, làm hỏng cả hai ngàn hộc gạo của Hộ Bộ! Châm lửa thiêu rụi nó đi rồi lấp đất san bằng khúc lạch này lại!"

"Châm lửa! Đốt sạch đi!" Mấy tên tuần đinh trên bờ hùa theo, vung giáo dài gào thét nhằm xua đi nỗi kinh hãi đang đè nặng.

Phan Khắc Tố đứng nép sau gốc xoan già, chiếc tráp then khóa đồng ôm khư khư trước ngực, giọng run rẩy: "Quan Đốc Lại... Cẩn thận... Trong Huyện Chí có ghi... động vào mạch nước bến sông là kinh động thần linh... Có thể sạt lở chân kè..."

"Thần linh cái nỗi gì!" Tào Hữu Đức quay ngoắt lại, mắt đỏ ngầu: "Gạo sắp mốc thối hết rồi! Sáng ngày mai quan Biền sứ phủ đường cho người về kiểm tra, mất gạo thì cả lũ rụng đầu! Đốt!"

"Dừng tay lại!"

Tiếng quát ráo hoác xé toạc màn đêm buốt giá.

Vương Quang bước qua hàng rào cọc tre, đôi ủng da trâu nện xuống nền đá dăm cồm cộp. Tấm thẻ sắt đen Hành Trình Ký Lục giắt bên hông hắn va vào chiếc thước đo phát ra tiếng kim loại lạnh ngắt.

Đám tuần đinh đang ôm rơm khô bất giác dạt sang hai bên.

Tào Hữu Đức trố mắt nhìn Vương Quang, bó đuốc trên tay khẽ hạ xuống nửa thước, nhưng gân xanh trên trán nổi cuồn cuộn:

"Vương Ký lục! Ngươi không nhìn thấy hay sao? Người của ta vừa dẫm chân xuống mép nước đã bị chất độc ăn trợt da lột thịt! Dưới đáy hố sụt đang đùn thứ nước quái quỷ ấy ra kìa! Không dùng lửa thiêu rụi cỗ quan tài này, lát nữa hơi độc bốc lên cả bến, cả cái trạm dịch này thành nhà mồ hết!"

"Muốn giữ mạng cho đám lính và cứu thuyền gạo thì dập bó đuốc ấy đi!" Vương Quang bước thẳng tới trước mặt Tào Hữu Đức, ánh mắt lạnh lùng găm thẳng vào viên đốc lại.

"Ta là Đốc Lại phụ trách bến này!" Tào Hữu Đức giơ cao chiếc xà beng sắt.

"Ông thiêu cỗ quan tài này, hai ngàn hộc gạo của ông sẽ thành tro trước tiên!" Vương Quang không lùi nửa bước, giọng đanh lại từng chữ:

"Thân cỗ quan tài bọc ngoài bằng vỏ cây chít và lớp nhựa đen dày cộp. Nhựa cây trộn mỡ là thứ bắt lửa cực nhanh; một khi ném đuốc xuống, cả khối gỗ lim sẽ bốc cháy ngùn ngụt như một lò than giữa hố sụt! Hơi khói từ nhựa cháy theo gió bấc thổi tạt thẳng vào sườn đê, hun khét toàn bộ tám chiếc thuyền gạo đậu ở lạch trên! Khi ấy gạo không ngấm bùn mà ngấm mùi khói độc, một bao cũng không dâng nộp được cho triều đình!"

Tào Hữu Đức sững người, ngọn đuốc trên tay khẽ chao đảo.

"Chưa hết," Vương Quang đưa tay trái chỉ xuống đáy hố lún: "Lửa bốc lên sẽ đốt đứt hai sợi dây chão xơ dừa đang chằng néo quan tài vào cọc sắt. Khối gỗ lim nặng hàng ngàn cân trôi tự do xuống hang đá ngầm, va đập làm sập tầng đá vôi xốp bên dưới. Họng thoát ngầm bị bít kín, nước sông Cốc dồn ứ lại sẽ phá toang chân kè đá bến Cổ Am! Tội làm sập kè đá và làm hỏng quân lương của Hộ Bộ, bản thân ông gánh nổi không?"

Lời nói của Vương Quang không mang chút huyền bí nào, toàn bộ đều là hậu quả vật chất và trách nhiệm công môn nhãn tiền.

Tào Hữu Đức đứng chết trân. Bó đuốc dầu thông cháy lách tách rọi rõ khuôn mặt chuyển từ giận dữ sang hoang mang của gã. Chiếc xà beng sắt trên tay gã từ từ chúc mũi xuống đất.

"Vậy... Vậy ngươi bảo phải làm thế nào?" Tào Hữu Đức nuốt khan một ngụm nước bọt, giọng xẹp xuống: "Thằng Đội nằm kia sắp chết rồi! Thứ nước dưới đáy vẫn đang đùn lên không ngớt..."

"Chu Bá Cửu!" Vương Quang quay sang quát: "Kéo thằng Đội ra xa mép nước! Dùng xẻng cắt bỏ ống quần dính bẩn của nó đi, tuyệt đối không ai được lấy tay trần chạm vào vệt nước đỏ! Lấy thùng múc nước giếng khơi trong trạm dịch dội liên tục vào cẳng chân nó cho trôi sạch lớp bùn nhớt, rồi khiêng ngay lên buồng sưởi!"

"Dạ... Dạ con làm ngay!" Chu Bá Cửu cùng hai tên phu trạm cuống cuồng dùng đầu xẻng lột bỏ phần vải quần rách tả tơi của tên lính lệ, rồi vội vã khênh gã ngược lên bờ đê.

Vương Quang bước lại gần chỗ tên Đội vừa nằm. Hắn quỳ một gối xuống phiến đá khô ráo, dùng mũi nhọn thanh Thiết Xích Khảo Sát khẽ cậy một mẩu da thuộc bị ăn mòn rơi ra từ chiếc ủng của tên lính.

Mép da trâu bị mủn ra, bề mặt dính một lớp bùn dẻo màu nâu đỏ bốc mùi tro nồng.

Không phải bùa chú. Đây là một chất lỏng ngâm lâu năm có tính ăn mòn da thịt rất mạnh, hòa lẫn với mỡ động vật và tro mịn. Khi cây cọc lim thứ ba bị bẩy nghiêng sáng nay làm rách lớp vỏ bọc, áp lực của tầng đất cát bên dưới đã ép thứ nước bị giam cầm suốt hàng trăm năm rỉ ra ngoài.

Xử lý xong người bị thương, Vương Quang nhấc chiếc đèn bão trên tay trái, thận trọng bước xuống lòng phễu bùn lún.

"Thầy Ký... Dưới ấy nguy hiểm lắm!" Phan Khắc Tố đứng trên bờ kè run rẩy kêu với xuống.

Vương Quang không ngoái đầu lại. Hắn men theo các phiến đá hộc nhô cao, cẩn thận đặt từng bước ủng da tránh xa các rãnh bùn ướt.

Càng xuống sâu, mùi tro khoáng và mỡ thối càng xộc lên nồng nặc. Con mắt phải mờ xám của hắn giật từng hồi buốt nhói, nhưng con mắt trái mở to, soi ánh đèn vàng vọt xuống chân cỗ quan tài độc mộc.

Tại vị trí cây cọc gỗ lim thứ ba bị bẩy nghiêng, lớp bùn non xung quanh đang sủi bọt lụp bụp.

Từ một khe nứt dài chừng hai gang tay sát mạn sườn cỗ quan tài, một thứ chất lỏng màu nâu đỏ sền sệt đang chậm rãi đùn lên, hòa vào lớp bùn cát đáy lạch:

Ục... ục...

Thứ nước ấy đặc như dầu rái, mang theo những váng nhờn màu nâu sẫm. Do đáy lạch dốc nghiêng về phía chân núi, vũng nước đỏ đang tụ lại thành một vũng rộng chừng năm sáu thước ngay trước miệng hố sụt ngầm.

Nước đùn lên làm xói mòn lớp cát sỏi nâng đỡ đáy quan tài. Hai sợi dây chão xơ dừa căng trơ như dây cung, rung lên từng chặp bần bật. Khối gỗ lim khổng lồ lại nhích thêm một tấc về phía miệng vực tối om!

Nếu để thứ nước nhờn này tiếp tục xói lở chân bùn, chỉ cần qua canh tư, lớp sỏi đỡ bên dưới sẽ trôi tuột, kéo theo cỗ quan tài lao thẳng xuống hang ngầm.

Vương Quang ngồi xổm trên một gờ đá gốc cách vũng nước ba bước chân.

Cổ tay phải kẹp chặt vào mạng sườn để nẹp đồng không thúc vào vết thương, tay trái hắn rút chiếc thìa tre cán dài và chiếc hũ gốm rỗng trong ống tre ra. Hắn cúi người, cẩn thận múc lưng một thìa chất lỏng màu nâu đỏ đang sủi bọt, rót vào lòng hũ gốm rồi dùng nút bần đóng chặt lại.

Dưới ánh đèn bão, hắn nhìn thấy trong lớp váng dầu màu nâu đỏ lấp lánh những hạt bụi mịn màu xám chì li ti.

Về cảm quan, những hạt bụi khoáng xám này rất giống thứ tro mịn nhét trong mõm đàn lợn chết trôi dạt về Cổ Am, và cũng có nét tương đồng với lớp bụi khoáng bám trong rãnh khắc của chiếc hộp đồng hắn đào được ở Hang Dơi ban chiều.

Chưa đủ căn cứ để kết luận chúng cùng một nguồn gốc. Nhưng sự trùng lặp về vật chất này là một đầu mối thực địa quan trọng không thể bỏ qua.

"Phan Chủ bạ!" Vương Quang ngẩng đầu lên bờ kè đá, cất giọng gọi lớn.

Phan Khắc Tố giật thót mình, vội ló đầu ra: "Có... Có tôi! Thầy Ký cần gì?"

"Trong kho trạm dịch có bao tải gai và vôi bột không?"

"Có! Có chứ!" Phan Khắc Tố đáp vội: "Tháng trước ty Đốc Vận chở về hai mươi bao vôi sống để quét móng kho, còn bao tải rỗng thì trong kho lương xếp cả đống!"

"Bảo phu trạm mang hết bao tải rỗng ra bờ đê xúc đá dăm và cát khô đóng bao!" Vương Quang ra lệnh dứt khoát: "Tào Đốc Lại, lùa tuần đinh vác các bao vôi sống và bao cát xuống đây! Chúng ta đắp một bờ bao tạm thời!"

Tào Hữu Đức đứng trên bờ kè ngơ ngác: "Đắp bờ bao để làm gì?"

"Thứ nước này đang làm xói lở lớp đất đỡ dưới chân quan tài," Vương Quang giải thích ngắn gọn theo quy thức công trình: "Không được đổ vôi trực tiếp xuống vũng nước kẻo sôi bốc khói độc. Dùng bao cát xếp thành một vòng cung bên ngoài để chặn không cho nước loang rộng ra bãi bùn. Sau đó rải các bao vôi sống chèn chặt phía chân ngoài bờ bao để hút khô hơi ẩm và ghìm giữ chân đất sỏi lại! Mau lên!"

Tào Hữu Đức thấy có phương án công trình rõ ràng, lập tức vung tay quát tháo:

"Nghe thầy Ký bảo chưa? Lũ ăn hại, chạy vào kho vác bao gai với vôi ra đây! Đứa nào lề mề, ta trừ hết tiền công tuần đường!"

Dưới sự đốc thúc gắt gao của viên Đốc lại, hơn hai mươi tên phu trạm và tuần đinh chia nhau chạy vào kho. Chỉ một lát sau, cát sỏi bờ đê được hối hả xúc vào các bao tải gai, chuyền tay nhau đưa xuống mép phễu bùn.

Vương Quang đứng trên phiến đá gốc, dùng thanh Thiết Xích chỉ rõ từng vị trí đặt bao.

Từng bao cát sỏi nặng trịch được xếp thành một con đê bao hình cánh cung cách mép cỗ quan tài ba thước, ngăn dòng nước màu nâu đỏ không cho chảy tràn về phía miệng hố sụt. Phía sau bờ bao cát, các bao vôi sống nguyên vẹn được chèn chặt thành lớp đệm thứ hai. Vôi sống hút hơi ẩm từ nền bùn ướt, tỏa nhiệt âm ỉ làm lớp đất sỏi xung quanh khô ráo và cô đặc lại, tạo thành một bờ kè dã chiến giữ vững nền đất dưới thân gỗ lim.

Áp lực xói lở dừng lại.

Hai sợi dây chão xơ dừa ghìm giữ cỗ quan tài độc mộc chùng bớt một nhịp căng, không còn rung lên bần bật như trước nữa. Khối gỗ lim đen thẫm nằm im lìm giữa vòng đai bao cát, tạm thời thoát khỏi nguy cơ trôi tuột xuống miệng hố ngầm.

Trên bờ kè đá, đám phu trạm thở phào nhẹ nhõm, mồ hôi vã ra ướt đẫm trán giữa đêm đông. Tào Hữu Đức chống chiếc xà beng xuống nền đá, ngực phập phồng thở dốc, đưa mắt nhìn người thanh niên mang áo chàm đang chậm rãi bước lên dốc đê bằng ánh mắt bớt phần hung hăng.

Vương Quang bước lên mặt bờ kè. Toàn thân hắn bết dính bùn xám và bụi đất. Cánh tay phải tì chặt vào mạng sườn, khớp xương cổ tay nhức buốt từng cơn, nhưng bàn tay trái vẫn giữ chặt chiếc hũ gốm nhỏ chứa mẫu chất lỏng màu nâu đỏ.

Hiện trường bến Cổ Am tạm thời được giữ vững bằng biện pháp gia cố thô sơ của trạm dịch. Nhưng đây chỉ là giải pháp tình thế để kéo dài thời gian.

Cỗ quan tài dưới bùn vẫn đang tiếp tục rỉ nước. Mẫu khoáng chất xám chì lấp lánh trong hũ gốm này có liên hệ thế nào với những hạt bụi ở Hang Dơi và xác súc vật trôi sông, hắn chưa thể vội vàng khẳng định. Nhưng một điều đã hiện rõ: từ giờ phút này, bất kỳ thứ gì trôi từ nhánh sông Cốc xuống ngã ba Cổ Am đều không còn có thể coi là chuyện ngẫu nhiên.

Gió bấc vẫn thổi từng luồng buốt giá qua khúc sông cạn.

Thời hạn đối chiếu với Khảo Khế Đề Lại Lê Toàn đã vơi đi thêm một đoạn trong đêm ngày mười sáu.

Muốn làm rõ thứ tro khoáng này bắt nguồn từ đâu, và tại sao nó lại xuất hiện đồng thời trên cỗ quan tài cổ lẫn dòng nước hiện tại, Vương Quang hiểu rằng hắn không thể chỉ ngồi lại trạm dịch xem hồ sơ.

Hắn bắt buộc phải ngược dòng sông Cốc, tìm lên khu mỏ Thạch Tuyền ở vùng thượng nguồn trước khi thời hạn ba ngày khép lại.

0
Ủng hộ tác giả Cương Vương Nếu bạn yêu thích tác phẩm, hãy ủng hộ mình ly cafe nhé <3