Chương 40: Ngược Dòng Cổ Am
Nhân Gian Có Màn
Mục lục
54 chươngCuộn, vuốt hoặc dùng hai nút để xem thêm Đã tải 54/54 chương
Gió bấc thổi thốc từ thượng nguồn xuống, rít từng hồi qua rặng phi lao khô cằn ven con đê đất đỏ.
Mưa phùn đã dứt từ lúc chập tối, nhưng cái rét ngọt của tháng Chạp bắt đầu ngấm sâu vào từng thớ thịt. Con ngựa trạm lông xám sải những bước dài nặng nề trên mặt đường đê gồ ghề đầy đá dăm, móng sắt gõ xuống nền đất nện cộp... cộp... đều đặn giữa màn đêm đen đặc như mực tàu.
Hắn đã đổi ngựa lần thứ hai trước canh ba tại điếm canh sông Cốc. Hơn bốn mươi dặm đường thiên lý ngược dòng từ huyện lỵ lên ngã ba Cổ Am không có đường bằng; bùn lầy, đá sỏi và gió ngược cuốn theo hơi nước lạnh buốt khiến từng dặm đường dài như một canh giờ dằng dặc.
Trên lưng ngựa, Vương Quang gò người về phía trước để cản bớt luồng gió lạnh thấu xương đang tạt thẳng vào mặt.
Cánh tay phải mang nẹp đồng đen của hắn co quắp lại, tì chặt vào mạn sườn. Toàn bộ trọng lượng của dây cương đều phải dồn hết sang bàn tay trái. Ngón tay trỏ và ngón cái của tay trái đã tê cóng, cứng đờ vì ngấm sương đêm; mỗi lần con ngựa vấp phải hố trâu đầm khiến thân mình chồm lên, thanh nẹp Chân Thư Bút bằng đồng nguội lại thúc mạnh vào vết loét nơi cổ tay phải. Cơn đau buốt nhói xộc thẳng lên bả vai, khiến hắn phải cắn chặt răng, nén từng hơi thở khè khè qua kẽ môi khô nứt.
Con mắt phải phủ màng xám của hắn cũng không được yên.
Càng đi ngược dòng sông Đáy về phía tây bắc, cách xa vùng phù sa êm ả của bãi bồi làng Hạ, cơn đau từ con mắt phải lại càng giật ngược lên thái dương từng chặp ngắn. Dưới nhãn lực mờ đục ấy, màn đêm không hoàn toàn đen tuyền; men theo mép nước bên tay trái, hắn lờ mờ nhìn thấy những vệt sáng màu xám tro nhờ nhờ bốc lên, dập dờn trôi dạt như những dải lụa rách bị dòng nước cuốn đi. Cơn đau chạy dọc thái dương khiến mi mắt hắn phải giật liên hồi.
Qua canh tư, tại một trạm đổi ngựa bỏ hoang bên bờ sông thuộc địa phận tổng Thượng Vực.
Vương Quang ghìm cương, buộc con ngựa trạm ướt đẫm mồ hôi vào gốc cây thị già rụng trụi lá, tựa lưng vào cột gạch vỡ của điếm canh đê để nghỉ chân chừng nửa khắc. Hắn run rẩy thò bàn tay trái vào túi da trâu, móc chiếc ống bấc đánh lửa và mẩu nến sáp nhỏ cắm lên một hòn đá hộc.
Ánh lửa vàng le lói bùng lên giữa bốn bề gió lộng, soi rõ khuôn mặt xanh xao của tên chép mướn. Hắn lôi cuốn sách bọc da cừu đen mỏng — Hành Trình Yếu Lược — đặt lên đầu gối.
Từng trang giấy bản dày ép sáp chống nước bên trong là những dòng chữ khắc ván sắc cạnh, ghi chép lại những kinh nghiệm thực địa được triều đình gom chép qua nhiều đời:
“...Phàm đất phương Nam khí ẩm ngậm sâu, long mạch không khởi từ đỉnh núi cao mà ẩn tàng dưới đáy bùn lầy, luồn lách theo kẽ đá vôi ngầm. Nước chảy là huyết, bờ đất là da, móng đá là xương cốt. Đất lở nước cạn, chuông đình nứt toác, ắt có chỗ xáo động mạch ngầm...”
“...Kẻ chấp bút Ký lục ra trận thực địa, phải giữ mắt phẳng như nước đọng, lòng cứng như đá tảng. Thấy việc lạ không được hoảng loạn suy diễn; trước phải xét đất đá bằng thước, xét dòng chảy bằng châm bàn, đối chiếu địa bạ mười năm. Ghi chép sai lệch một tấc lòng sông, khép vào tội khi quân...”
Vương Quang đưa đầu ngón tay sần sùi lần theo các mục hướng dẫn lập biên bản: cách đo độ nghiêng của nền móng, cách thử chất nước bằng lá dâu phơi khô, cách dùng chiếc Châm Bàn Thủy Chuẩn nhỏ bằng lòng bàn tay đang nằm trong túi da.
Hắn hiểu vì sao người của Khâm Thiên Giám không cần hắn biết quá nhiều. Việc của hắn chỉ là nhìn, đo, chép và đem những gì mắt thấy tai nghe về đúng chỗ. Nếu con số sai, nếu lời ghi sai, người chịu trách nhiệm trước tiên sẽ là hắn. Tấm thẻ sắt cài bên hông không phải bùa hộ mệnh, mà là một chiếc thước đo đòi hỏi sự chính xác tuyệt đối; chệch một nét bút, cái giá phải trả chính là cái đầu của kẻ chép thuê.
Hắn khép cuốn sách lại, đưa tay sờ lên ngực áo.
Mảnh gỗ dâu mục nát nằm sát xương sườn bỗng nhiên khẽ rung lên một nhịp rất mỏng. Không nóng ran như lúc ở hậu cung đình làng Hạ, mà lạnh ngắt, cứng đờ như một mảnh băng chìm.
Vương Quang ngẩng đầu nhìn về phía trời tây bắc, nơi những rặng núi mờ ảo bắt đầu nhô lên trong sương đêm.
Hắn không cần nhớ con người kia đã tự xưng là gì dưới lòng sông Đáy đêm hôm ấy. Hắn chỉ cần nhớ sợi xích lạnh ngắt quấn chặt quanh cổ tay và ba chữ hắn đã điểm chỉ bằng máu trên tấm giấy đỏ rách nát.
Giờ Dần ngày mười sáu tháng Chạp là hạn cuối.
Khế ước cõi chết không cho hắn khất nợ thêm một khắc nào. Nếu trước khi trời rạng mà hắn không tìm ra cách giữ mạng, sợi xích kia sẽ lại kéo hắn xuống bùn sâu, bất kể trên lưng hắn đang khoác áo chàm của nha môn nào.
Vương Quang thổi tắt ngọn nến, nhét cuốn sách vào túi da, dắt ngựa bước tiếp vào màn sương muối mịt mùng.
Càng tiến gần đến ngã ba Cổ Am, địa thế xung quanh càng biến đổi rõ rệt.
Dải phù sa màu mỡ bằng phẳng của vùng hạ lưu đã lùi hẳn lại phía sau. Hai bên bờ sông bắt đầu xuất hiện những dãy đồi trọc mọc đầy sim mua cằn cỗi, xen lẫn những khối núi đá vôi xám ngắt, dựng đứng như những lưỡi mác chọc thẳng lên bầu trời u ám. Dòng sông Đáy phẳng lặng ngày thường đến đoạn này bỗng thắt hẹp lại, kẹp giữa hai vách đá sừng sững tạo thành một nút thắt hiểm trở.
Nhưng điều khiến Vương Quang rợn người là thứ âm thanh bao trùm khúc sông này.
Đó là một sự im lặng khác thường, nặng đến nghẹt thở. Ở một ngã ba sông nơi hai dòng nước hợp lưu, tiếng sóng vỗ bờ đáng lẽ phải rầm rì suốt đêm; nhưng lúc này, sự tĩnh mịch lớn đến mức tiếng móng sắt của con ngựa gõ xuống mặt đường đê phía sau lưng hắn cũng trở nên quá rõ ràng, dội lại từng nhịp khô khốc giữa hai vách núi.
Vương Quang ghìm cương dừng lại trên đỉnh dốc đá nhìn xuống lòng sông.
Dưới ánh trăng tàn mờ đục rọi qua tầng mây mỏng, khúc sông Đáy hiện ra trơ trọi đến quái đản:
Mực nước đã sụt sâu hơn ba thước so với ngấn rêu xanh bám trên chân vách đá hai bên bờ. Con sông lớn ngày thường nay chỉ còn lại một lạch nước nhỏ đục ngầu, hẹp chưa đầy hai sải tay, chảy lờ đờ rên rỉ ở rãnh đáy sâu nhất.
Cả một dải lòng sông rộng mênh mông phơi trần ra giữa trời đông buốt giá. Lớp bùn xám xịt nhão nhoẹt, lổn nhổn những tảng đá hộc trơn tuột và những bãi cát sỏi đen ngòm đang bốc lên một thứ mùi hăng ngai ngái từ lớp bùn sâu, đặc quánh và lợm giọng.
Và nổi bật giữa bãi bùn lầy thụt sâu hoắm ấy là một hàng cọc gỗ mục nhô lên lởm chởm.
Hàng chục thân cọc cắm xiên chéo theo hình chữ chi chắn ngang dòng nước cũ. Vỏ ngoài của những thân cọc đã bị nước bào mòn đen sì, nứt nẻ từng mảng lớn, nhưng phần lõi gỗ bên trong vẫn cứng trơ ra. Đầu cọc không được vát nhọn hình búp măng như kiểu cọc hộ đê mà hắn từng thấy vẽ trong các tập địa bạ ở tàng thư lầu; chúng được đẽo thành bốn mặt phẳng cụt đầu, trên thân cọc chằng chịt những đường rãnh đục xoắn ốc sâu hoắm, bám đầy vỏ trai ốc chết khô.
Chúng nhô lên khỏi lớp bùn lầy như những chiếc răng rỉ sét cắm ngược giữa lòng sông cạn.
Cách hàng cọc gỗ chừng mười trượng, mắc kẹt trên một bãi sỏi nhô cao, là xác của ba con trâu mộng và một đàn lợn chết trôi.
Vương Quang nheo mắt nhìn kỹ qua con mắt trái.
Lũ súc vật mắc cạn ở đây chắc chắn đã nhiều ngày, bụng trương phình căng tròn, nhưng da thịt của chúng không hề có dấu hiệu thối rữa hay rỉ dịch. Dưới cái rét buốt giá, da trâu chuyển sang màu xám tro, khô quắt nhưng vẫn bóng nhẫy như phủ một lớp màng dầu mỏng. Tuyệt nhiên không có mùi xác thối nồng nặc thông thường, cũng không thấy một con quạ hay chim ăn xác nào lượn lờ quanh bãi sỏi. Chúng chỉ nằm im lìm giữa bùn đất, như bị một thứ gì đó giữ đông cứng lại giữa dòng thời gian.
"Ai lảng vảng trên bờ đê đấy?"
Một tiếng quát cộc cằn, đanh đục vang lên từ phía chân núi đá vôi bên phải ngã ba sông.
Vương Quang quay đầu lại.
Dưới chân một vách đá cheo leo, một ngôi nhà sàn ba gian dựng bằng gỗ nghiến, nửa trước tựa cột đá, nửa sau khoét sâu vào lòng hang đang hắt ra ánh sáng vàng vọt của ngọn đèn lồng bọc da bò. Trên nóc nhà cắm một lá cờ đuôi nheo màu vàng viền đen thêu chữ Dịch đã bạc màu — Trạm Dịch Cổ Am.
Hai tên phu trạm mặc áo chẽn nẹp da trâu, tay cầm giáo dài và đèn bão bọc lụa điều đang từ chân dốc đá bước lên, ánh mắt đầy vẻ cảnh giác nhìn bóng người cưỡi ngựa đứng đơn độc trong sương lạnh.
Vương Quang hít một hơi sâu luồng khí lạnh buốt vào lồng ngực. Hắn không vội vã, chậm rãi xoay nửa người bên trái về phía hai người phu trạm, đưa bàn tay trái tháo tấm thẻ bài sắt đen giắt bên thắt lưng da.
Thân thể hắn vẫn còn ê ẩm, cổ tay phải nẹp đồng vẫn nhức buốt, nhưng hắn giữ lưng thẳng đứng theo đúng tư thế của người mang công vụ.
Hắn giơ tấm thẻ sắt đen tuyền bọc góc đồng xỉn ra trước ngọn đèn bão, cất giọng ráo hoác:
"Khâm Thiên Giám, Ty Khảo Sát thuộc ngạch Hành Trình. Ngoại ngạch Ký lục Vương Quang phụng lệnh điều tra hiện trường Cổ Am."
Hai tên phu trạm nhìn thấy dấu triện mây cuộn và bốn chữ khắc chìm trên tấm thẻ sắt, mũi giáo trên tay khẽ hạ thấp xuống nửa tấc. Vẻ cộc cằn ban nãy biến mất, thay vào đó là sự dò xét, dè chừng của kẻ dưới trạm dịch đối với người của nha môn cấp trên.
Tên phu trạm có vết sẹo dài bên khóe mắt khẽ chắp tay nghiêng mình:
"Thì ra là thầy Ký bên Khâm Thiên Giám... Mời thầy xuống ngựa vào trạm. Người của ty Đốc Vận và huyện nha đã ngồi cãi cọ trong kia từ lúc nửa đêm rồi."
Vương Quang bước xuống ngựa. Đôi ủng da trâu nện xuống mặt đá dăm một tiếng cộp đanh gọn.
Hắn ngoái đầu nhìn về phía lòng sông cạn trơ bùn một lần nữa.
Trăng tàn đã lặn hẳn sau dãy núi đá vôi. Giờ Dần — thời khắc kết thúc hạn định của bản khế ước cõi chết — chỉ còn cách hắn đúng nửa canh giờ nữa.
Thảo luận
Bình luận chương
0 bình luận
Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên bình luận chương này.