Nhân Gian Có Màn

Chương 41: Trạm Dịch Canh Tàn

Đăng: 13/09/2026 21:34 2,327 từ 3 lượt đọc

Mùi dầu mỡ cháy khét quyện với mùi than củi ẩm bốc lên nồng nặc từ chõ than đặt giữa sàn gian trạm dịch.

Căn nhà sàn ba gian nửa gỗ nửa hang đá của Trạm Dịch Cổ Am tối tăm và ngột ngạt. Mái lợp bằng ván nghiến xám ngoét vì sương muối, từng phiến gỗ nứt nẻ gối lên nhau, ép chặt vào vòm đá vôi lởm chởm nhũ đá rỉ nước. Gió bấc từ lòng sông cạn thốc ngược lên qua các kẽ sàn nứa, làm ngọn lửa trong chõ than chốc chốc lại bùng lên những tia tàn đỏ lẹt xẹt, soi rõ những gương mặt hốc hác, căng thẳng đang ngồi vây quanh chiếc bàn mộc dài.

Tên phu trạm mặt sẹo rỗ vén tấm rèm cói rách bươm, bước nghiêng người nhường lối cho Vương Quang:

"Thầy Ký bên Khâm Thiên Giám đã tới."

Tiếng cãi cọ trong phòng bỗng nhiên chùng xuống.

Mọi ánh mắt lập tức đổ dồn về phía cửa.

Ngồi ở đầu bàn phía trong là một người đàn ông trạc bốn mươi tuổi, khoác chiếc áo ngắn nẹp da bò bóng loáng cáu bẩn, thắt lưng da bản rộng giắt đoản đao và một chiếc thẻ đồng khắc chữ của ty Đốc Vận — đó là Tào Đốc Lại, viên quan chuyên trách luồng lạch thượng lưu của ty Đốc Vận. Đối diện với gã là một ông già mặc áo the đen bạc màu, chòm râu dê thưa thớt rung rinh, hai tay run run ôm chiếc tráp sơn then — Phan Chủ bạ của huyện sở tại. Kê chiếc ghế con ngồi nép góc cột là một lão già lưng còng, đầu quấn khăn trắng tang tóc, mặc áo chẽn cũ mèm — Trạm thừa trông coi Trạm Dịch Cổ Am.

Cả ba người nhìn chằm chằm vào bóng người vừa bước qua ngưỡng cửa.

Vương Quang đứng dưới quầng sáng vàng vọt le lói của ngọn đèn bão bọc da bò. Manh áo dài màu chàm sẫm của hắn dính đầy bụi đá và sương muối trắng nhờ. Cánh tay phải mang nẹp đồng đen Chân Thư Bút tì chặt sát mạn sườn, vạt vải bọc ngoài lờ mờ vệt dịch khô nhờ nhờ. Con mắt phải phủ màng xám khép hờ, chỉ có con mắt trái đen nhánh, tĩnh lặng đến lạnh người đang nhìn lại bọn họ.

Tào Đốc Lại nheo mắt nhìn vết tật trên mặt Vương Quang, rồi đưa mắt nhìn xuống tấm thẻ sắt đen tuyền bọc góc đồng xỉn giắt bên hông hắn. Khóe môi viên đốc lại khẽ giật một cái:

"Khâm Thiên Giám... phái một Ngoại ngạch Ký lục chưa nhập phẩm đến thụ lý hiện trường?"

Giọng gã cộc cằn, đanh đục, mang theo sự bực bội không giấu giếm của một kẻ phải ngồi chờ đợi suốt nửa đêm giữa vùng rừng núi heo hút khi công vụ đang cháy chân nhang.

Phan Chủ bạ ngồi bên cạnh vội ho khan một tiếng, đưa tay vuốt chòm râu dê, ánh mắt e dè liếc nhìn ấn triện mây cuộn trên tấm thẻ sắt:

"Tào Đốc Lại bớt lời... Dù là ngoại ngạch, nhưng thẻ lệnh Ty Khảo Sát xuất từ Kinh sư, có dấu triện Giám Chính. Việc cạn sông đêm qua kinh động cả phủ đường, huyện nha chỉ là chân chạy việc, đâu dám lạm bàn chuyện phẩm hàm công môn."

Vương Quang không vội vã đáp lời. Hắn bước lại gần bàn, kéo chiếc ghế gỗ mộc thấp xuống ngồi, đưa bàn tay trái tháo tấm thẻ bài sắt đen đặt lên mặt bàn.

Cạch.

Tiếng kim loại nguội chạm vào mặt gỗ nghiến khô khốc vang lên đanh gọn.

"Ngoại ngạch Ký lục Vương Quang," hắn cất giọng khàn đặc vì ngấm gió lạnh suốt chặng đường đê: "Phụng mệnh Ty Khảo Sát lập biên bản thực địa Cổ Am. Công vụ lấy bằng chứng làm đầu, không lấy phẩm hàm luận việc. Xin hỏi Tào Đốc Lại và Phan Chủ bạ: Hiện trạng cạn nước bắt đầu từ khắc nào?"

Sự điềm tĩnh và khẩu khí hành chính lạnh nhạt của người thanh niên mang thương tật khiến Tào Đốc Lại khựng lại nửa nhịp. Gã hừ một tiếng ráo hoác, ném một cuộn giấy bản nhàu nhĩ sang trước mặt Vương Quang:

"Từ giờ Tý đêm qua. Tám chiếc thuyền chở gạo tô của Đốc Vận đang xuôi dòng từ trấn Thạch Tuyền xuống thì mắc cạn cứng ngắc ở lạch trên, cách ngã ba sông này ba dặm. Nước rút tụt xuống đáy chỉ trong vòng nửa canh giờ, nhanh như thể đáy sông bị rút nút bồ đài! Giờ thuyền lún sâu trong bùn, gạo ngấm hơi ẩm, nếu trong ngày hôm nay không thông luồng, hai ngàn hộc gạo tô của kho lộ nộp về Kinh sư sẽ mốc sạch!"

Tào Đốc Lại đập mạnh bàn tay xuống mặt bàn:

"Ta đã điều hai trăm phu trạm và lính tuần giang mang búa tạ, xà beng đến bến. Cắt hàng cọc gỗ dưới lòng sông đi, đào một con rãnh phụ sâu bốn thước vòng qua mé đồi để xả nước từ nhánh sông Cốc sang, thuyền mới nhấc đáy được. Thế nhưng lão Chủ bạ này cứ ôm khư khư cái tráp cấm chỉ, sống chết không cho động búa!"

Phan Chủ bạ run bắn người, vội ôm chặt lấy chiếc tráp sơn then, giọng khô khốc run rẩy:

"Không được đụng vào cọc! Vương Ký lục, thầy là người của Khâm Thiên Giám, thầy phải hiểu luật! Đống cọc gỗ dưới đáy sông ấy không phải cọc hộ đê thông thường của huyện. Trong Huyện Chí đời trước có chép rằng... người xưa truyền lại hàng cọc ấy là 'Yểm Thủy Khẩu', có thể từ thời Lý để giữ mạch ngầm hang đá vôi. Động vào cọc cũ, lở móng sụt đất thì cả huyện Cổ Am ai gánh tội này?"

"Gạo tô của triều đình trễ hạn thì ai gánh?" Tào Đốc Lại gằn giọng, quai hàm bạnh ra: "Đoạn trên có một hố sụt ngầm ven chân núi vôi đang nuốt nước, nhưng thuyền mắc cạn không qua nổi bãi bồi này thì chỉ còn cách dồn nước từ nhánh Cốc sang để nhấc đáy! Cọc mục ngâm nước bao đời trơ cả lõi, huyện các người không cho đập cọc, chẳng lẽ chờ hai ngàn hộc gạo thối rữa rồi kéo nhau ra công đường chịu tội?"

Hai bên lại giằng co gay gắt. Một bên chịu sức ép khổng lồ về hạn kỳ vận tải lương thực quốc gia; một bên sợ trách nhiệm địa phương trước những ghi chép mơ hồ của tiền nhân mà ôm tráp cản trở.

Vương Quang ngồi im lìm giữa hai luồng cãi vã.

Hắn đưa bàn tay trái mở cuốn Hành Trình Yếu Lược đặt bên cạnh, ngón tay trỏ vô thức ấn nhẹ vào thanh nẹp đồng để nén cơn nhức buốt đang giật từ cổ tay lên thái dương.

Nhìn chiếc tráp cấm chỉ trong tay Phan Chủ bạ, Vương Quang bất giác nhớ đến hậu cung đình làng Hạ sáng hôm qua. Pho tượng Thành Hoàng đã vỡ đôi trên hương án. Cụ Từ cũng bị lính huyện giữ lại làm nhân chứng, còn sau đó phủ đường sẽ xử lão thế nào, hắn không biết.

Chuyện ấy đã vượt khỏi phần việc của một Ngoại ngạch Ký lục. Tượng vỡ thì ghi tượng vỡ; nhân chứng bị áp giải thì ghi nhân chứng bị áp giải. Những việc còn lại thuộc về phủ đường và những tầng công môn cao hơn. Một kẻ như hắn càng biết nhiều, càng dễ chết vì một chuyện không thuộc phận mình.

Hắn khép cuốn sổ lại.

Trước mắt hắn lúc này chỉ có bãi bùn Cổ Am, hàng cọc dưới lòng sông và tám chiếc thuyền gạo đang mắc cạn.

Hắn đưa mắt nhìn sang lão già Trạm thừa đang ngồi co ro bên góc cột. Từ lúc hắn bước vào, lão Trạm thừa chưa nói một lời nào, chỉ cắm cúi dùng que sắt cời tàn than, thi thoảng lại đưa vạt áo quệt khóe mắt kèm nhèm.

"Trạm thừa," Vương Quang cất tiếng cắt ngang tiếng quát của Tào Đốc Lại.

Tiếng nói trầm đục của hắn không lớn, nhưng rơi vào gian phòng đúng vào khoảng lặng giữa hai nhịp cãi cọ, khiến mọi người bất giác dừng lại.

Lão Trạm thừa ngước mắt lên, giọng khàn như tiếng lá khô cọ trên đá:

"Thầy Ký hỏi gì lão già này?"

"Xác đàn lợn và ba con trâu ngoài bãi sỏi kia trôi dạt về từ bao giờ?"

Tào Đốc Lại cau mày, có vẻ sốt ruột vì chuyện cứu thuyền gạo đang gấp mà người của Khâm Thiên Giám lại đi hỏi chuyện súc vật chết trôi. Phan Chủ bạ thì thở dài đánh thượt một cái, mặt mày thêm vẻ lo âu.

Lão Trạm thừa đặt que sắt xuống đất, khẽ lắc đầu:

"Trâu lợn chết trôi dạt về từ hai ngày trước, thưa thầy Ký. Chúng trôi từ mạn trên Thạch Tuyền xuống, mắc cạn ở bãi sỏi giữa sông từ trước khi nước rút. Lúc đầu phu trạm tưởng súc vật làng trên sẩy chân chết đuối, toan đem thuyền thúng ra kéo về..."

Lão già ngập ngừng một nhịp, giọng chùng hẳn xuống:

"...Nhưng khi chèo thuyền lại gần, phu trạm không đứa nào dám chạm tay vào. Mõm lũ lợn đều bị nhét đầy tro rơm mịn, mí mắt trâu bị khâu lại bằng chỉ gai tẩm nhựa cây. Xác ngâm nước lạnh hai ngày hai đêm giữa trời đông mà không hề rỉ dịch hay bốc mùi, ruồi nhặng chung quanh cũng dạt đi hết. Đến đêm qua thì nước sông bắt đầu rút cạn... Lão già này gác trạm ở ngã ba sông ba mươi năm, chưa từng thấy xác trôi nào lạ lùng như thế."

Vương Quang khẽ nheo con mắt trái.

Mõm nhét tro rơm. Mắt khâu chỉ gai tẩm nhựa. Xác chết chậm rữa.

Vương Quang không vội kết luận. Nếu đúng là xác súc vật chết trôi tự nhiên, những dấu vết ấy không nên xuất hiện cùng một lúc. Nhưng chúng được làm từ lúc nào, nhằm mục đích gì, và có liên quan đến việc nước rút hay không, hắn chưa đủ bằng chứng để nói.

Việc đầu tiên là phải lấy mẫu vật chất.

"Tào Đốc Lại," Vương Quang quay sang nhìn viên chức của ty Đốc Vận: "Đoạn trên có hố sụt ngầm nuốt nước, nhưng nếu phá hàng cọc này, áp lực bùn đáy thay đổi, nước từ nhánh sông Cốc tràn sang sẽ đi đâu? Liệu nước có dâng lên để nâng đáy thuyền gạo, hay là bị hố sụt kia hút trọn luôn sang hướng khác?"

Tào Đốc Lại nghẹn lời. Gã cắn chặt môi, quai hàm bạnh ra. Gã là người phụ trách luồng lạch, biết rõ sự tồn tại của hố sụt ngầm; nhưng áp lực của hai ngàn hộc gạo tô sắp ẩm mốc khiến gã buộc phải chọn giải pháp nhanh nhất, dù chưa có dữ liệu đo đạc nào chứng minh việc đập cọc sẽ giữ được nước.

"Việc này không thuộc phận sự của Đốc Vận," Tào Đốc Lại gằn giọng: "Các ngươi đã nhận lệnh khảo sát thì tự mà xét cho rõ! Ta chỉ cần thông luồng trước khi gạo hỏng!"

"Phải đo," Vương Quang đứng dậy, cầm lấy tấm thẻ sắt bên hông giắt lại vào thắt lưng: "Đo độ nghiêng của hàng cọc, kiểm tra hướng chảy của lạch đáy, thu thập tro rơm và sợi chỉ trên xác súc vật. Lập đủ ba bản phụ bản hiện trường, có chữ ký của cả ba bên. Khi ấy phá cọc hay khơi rãnh, Đốc Vận hay huyện nha mới không bị khép vào tội tự tiện làm sai lệch thủy trình công môn."

Phan Chủ bạ thở phào một hơi, vội vàng gật đầu lia lịa: "Phải, phải! Phải có biên bản của Khâm Thiên Giám! Vương Ký lục nói rất đúng phép công môn!"

Tào Đốc Lại dù sốt ruột nhưng trước quy định hành chính chặt chẽ, gã chỉ có thể hừ một tiếng ráo hoác: "Vậy thì đo ngay trong đêm! Phu trạm đã chuẩn bị sẵn đèn đuốc!"

Vương Quang không đáp lời viên Đốc lại.

Hắn xoay người bước ra phía cửa sổ nhà sàn nhìn xuống lòng sông cạn trơ trọi.

Mảnh gỗ dâu mục nát nằm sát xương sườn trong ngực áo hắn bỗng nhiên rung lên một nhịp rất mỏng, lạnh ngắt như một thanh băng chìm.

Coong...

Từ phía chòi canh đê của trạm dịch, tiếng chiêng đồng điểm canh vang lên khô khốc, dội vào vách núi đá tai mèo thành những âm vang rền rĩ:

Hồi chiêng canh năm chuyển giờ Dần. Đêm mười lăm tháng Chạp đã tàn, rạng sáng ngày mười sáu đã chính thức điểm.

Lời hẹn ba ngày ba đêm đã đến hạn.

Dưới con mắt phải mờ xám, Vương Quang thấy một dải đen mỏng đang từ từ bò ra từ lòng lạch nước cạn sâu hoắm dưới đáy sông. Hắn không biết đó là sương đêm, bóng nước hay thứ gì khác, nhưng dải đen ấy không hề chuyển động theo hướng của luồng gió bấc đang thổi rít trên bờ đê.

Nó men theo bãi bùn xám xịt, chậm rãi tiến về phía hàng cọc gỗ.

Rồi từ dưới lòng sông sâu, một âm thanh kéo dài khô khốc vang lên giữa sự tĩnh mịch của đêm lạnh:

Loảng xoảng...

Vương Quang đứng chết lặng bên khung cửa liếp.

Tiếng kim loại nặng nề ấy, hắn từng nghe một lần.

Tiếng xích sắt.

0
Ủng hộ tác giả Cương Vương Nếu bạn yêu thích tác phẩm, hãy ủng hộ mình ly cafe nhé <3