Chương 46: Quan Khảo Khế Dưới Cổ Am
Nhân Gian Có Màn
Mục lục
54 chươngCuộn, vuốt hoặc dùng hai nút để xem thêm Đã tải 54/54 chương
Từ sâu trong vòm hang đá vôi sau nấm mộ, giọt nước thứ hai rơi xuống nền đá phẳng.
Tách.
Âm thanh nhỏ nhoi, lanh lảnh, nhưng khi rơi vào sự tĩnh mịch lạnh lẽo của bãi tha ma Hang Dơi lại nghe đanh gọn như một tiếng gõ dùi sắt vào mặt đe.
Vương Quang đứng chôn chân bên miệng hố đất vừa đào. Con mắt trái đen nhánh mở trừng trừng nhìn vào khoảng tối mịt mùng của cửa hang. Con mắt phải mờ xám giật thót từng hồi buốt nhói, dải gân máu dọc thái dương căng tức như một sợi dây đàn bị vặn quá cùi. Không có bóng người nào bước ra từ lòng đá. Chỉ có một luồng gió núi mang theo hơi ẩm mốc rữa và mùi đá vôi chết lùa qua khe nứt, thổi tạt những lọn tóc mai bết dính mồ hôi lạnh vào trán hắn.
"Thầy... Thầy Ký ơi..."
Tiếng Chu Bá Cửu run rẩy vang lên phía sau rặng xoan trơ cành. Gã phu trạm ôm chặt chiếc xẻng sắt trước ngực, hai hàm răng va vào nhau lập cập từng chập, mắt đảo láo liên nhìn những nấm mồ thợ đá thấp lè tè xung quanh:
"Trời... trời sập tối rồi thầy ơi! Gió núi đổi chiều thổi từ hẻm Hang Dơi ra độc lắm. Giờ Mùi sắp cạn, nếu không lên ngựa quay về trạm trước khi tắt ráng đỏ, đường rừng sông Cốc đá lở lởm chởm, ngựa sẩy chân một cái là cả người lẫn vật rơi thẳng xuống đáy vực..."
Vương Quang khẽ thở hắt ra một hơi dài. Luồng khí trắng đục phả vào không khí buốt giá rồi tan biến ngay trước mắt. Hắn cúi người, dùng mũi ủng da gạt lớp cát sỏi khô lấp kín lại miệng hố đất quanh gốc cọc lim cụt đầu. Chiếc hộp đồng rỗng đã được chôn sâu dưới lớp đất sét nện, trả lại nguyên trạng một nấm mộ gió trơ trọi giữa bãi tha ma.
Nhưng bên trong túi da trâu đeo chéo bên hông trái của hắn, sức nặng đã hoàn toàn thay đổi. Tấm thẻ bài gỗ thị mang tên Doãn Thừa Đức và cuốn Thạch Tuyền Nhật Ký bọc da thú màu xám ép sáp chống ẩm lúc này đang nằm sát vào xương hông hắn, lạnh ngắt và cấn nhẹ theo từng nhịp thở.
"Lên ngựa. Về trạm."
Hắn buông một câu cộc lốc, giọng khàn đặc vì nuốt phải bụi vôi suốt buổi chiều. Hắn không nhìn lại cửa hang thêm một lần nào nữa, xoay người sải bước nhanh ra mép sông Cốc trơ đáy sỏi.
Đoạn đường năm dặm xuôi theo hạ lưu sông Cốc dốc thoai thoải hơn, nhưng cái rét cắt da cắt thịt của buổi hoàng hôn tháng Chạp bắt đầu giáng xuống như một trận đòn roi vô hình.
Mặt trời đỏ quạch như một khối máu đông chìm dần sau những rặng núi đá vôi tai mèo nhọn hoắt. Bóng tối tràn ngập lòng hẻm núi nhanh như mực nho đổ loang trên mặt giấy bản. Gió bấc thổi ngược từ ngã ba Cổ Am lên, rít từng hồi đinh tai nhức óc qua các khe đá dựng đứng, cuốn theo mùi bùn non tanh tưởi và mùi vôi phong hóa phơi nắng suốt một ngày dài.
Cánh tay phải mang nẹp đồng đen Chân Thư Bút của Vương Quang đã mất đi phần lớn cảm giác. Thanh gá kim loại lạnh ngắt như một thanh băng áp chặt vào da thịt, miệng vết loét đóng một lớp vảy dịch khô cứng ngắc bết dính vào lớp vải chàm. Mỗi lần con ngựa trạm nhảy chồm qua một rãnh đá dăm hay một thân cây mục chắn ngang đường mòn, thanh nẹp kim loại lại thúc mạnh vào mỏm xương cổ tay, mang theo những cơn buốt nhói chạy dọc từ cẳng tay lên bả vai rồi xộc thẳng vào óc. Hắn phải gập lưng, dùng những ngón tay trái tê dại ghìm chặt dây cương, ép chặt cẳng tay phải vào mạng sườn để ghìm giữ độ rung lắc.
Khi hai con ngựa trạm mệt mỏi thở phì phò, lê từng bước nặng nề về tới chân dốc đê bến Cổ Am, trời đã sập tối hoàn toàn.
Khung cảnh bến sông hiện ra dưới ánh sáng vàng vọt, chập chờn của dãy đèn bão bọc da bò treo dọc theo bờ kè đá hộc.
Hàng rào bằng cọc tre và dây thừng gai bao quanh mép hố sụt lở vẫn còn nguyên vẹn, không có dấu vết bị xâm phạm. Bốn tên tuần đinh mặc áo nẹp da trâu, tay lăm lăm giáo dài đứng co ro bên hai đống lửa đốt bằng cành xoan khô, mắt trừng trừng canh chừng xuống lòng lạch cạn. Dưới đáy phễu bùn sâu hoắm, cỗ quan tài độc mộc dài hơn một trượng bọc lớp vỏ cây chít và nhựa đen vẫn nằm nghiêng chéo giữa bãi sỏi lún, được giữ chặt bởi hai sợi dây chão xơ dừa căng trơ như dây đàn nối vào hai cây cọc neo sắt cắm sâu trong vách đá gốc.
Nước trong lòng lạch đã cạn kiệt đến mức chỉ còn lại một rãnh bùn sền sệt, đen ngòm như một vệt máu đọng kéo dài từ miệng hố sụt ngầm ra phía dòng sông Đáy.
Phía trên gian nhà sàn trạm dịch, tiếng quát tháo cộc cằn của Tào Hữu Đức vọng ra rền rĩ qua khung cửa liếp:
"Gạo tô của Hộ Bộ kẹt một khắc là tổn hao một phần! Đêm nay tuần đinh chia làm hai ca, đứa nào dám gật gù ngủ gục bên cọc neo, ngày mai ta lột da trừng trị!"
Vương Quang ghìm ngựa ở chân dốc đê, nhảy xuống đất. Đôi ủng da nện xuống nền đá dăm lạo xạo. Hắn quẳng dây cương cho Chu Bá Cửu rồi bước lẳng lặng về phía bãi bồi ven sông. Hắn không lên trạm dịch để nghe những lời cằn nhằn quen thuộc của viên Đốc lại, cũng không tìm Phan Khắc Tố để tra vấn thêm về tập địa bạ huyện nha.
Giờ Tuất vừa mới điểm. Tiếng mõ cầm canh từ chòi đê xa xa dội lại từng nhịp buồn bã, báo hiệu đêm ngày mười sáu tháng Chạp đã bắt đầu.
Hắn chỉ còn lại chưa đầy sáu mươi canh giờ trước khi thời hạn đối chiếu cõi âm khép lại. Hắn cần tận mắt kiểm tra lại độ căng của hai sợi dây chão và các mấu neo đá trước khi sương muối buông dày đặc.
Vương Quang bước qua ranh giới hàng rào dây thừng gai, men theo con đường dốc lổn nhổn đá hộc đi xuống mép bãi bùn lầy.
Bốn tên tuần đinh đứng gác trên bờ kè thấy bóng manh áo chàm quen thuộc của hắn, chỉ đưa mắt nhìn nhau đầy e dè rồi lại rụt cổ vào lớp áo da trâu cáu bẩn, không một ai dám cất tiếng hỏi han hay bước theo nửa bước. Đối với đám lính lệ địa phương, lòng lạch cạn ban đêm là vùng đất chết; ba tiếng gõ cộc... cộc... khô khốc phát ra từ lòng cỗ quan tài ban sáng vẫn còn là một vết rạn kinh hoàng đè nặng trong tâm trí từng người.
Gió đêm quất lồng lộng dưới đáy sông trơ trọi.
Mùi bùn ngàn năm bốc lên ngai ngái, nồng nặc và lợm giọng. Vương Quang cúi người, đưa bàn tay trái nắm lấy gốc cây cọc sắt neo thuyền đóng sâu vào vách đá gốc bên bờ kè. Cọc sắt vẫn ăn sâu ngập hai phần ba vào thớ đá, hai nút buộc hình số tám trên dây chão xơ dừa căng trơ, không có dấu hiệu bị sờn rách hay xê dịch.
Nhưng khi hắn vừa đứng thẳng người dậy, lồng ngực hắn bỗng thắt lại.
Mảnh gỗ dâu mục nát giắt sát xương sườn bên trong ngực áo không hề rung lên, mà cứng đờ lại như một thanh sắt nguội, tỏa ra một làn hơi buốt giá như vừa bị dìm sâu vào nước tuyết.
Con mắt phải phủ màng xám của Vương Quang giật thót một cái dữ dội. Nhãn cầu căng tức như muốn nứt toác, kéo theo một cơn đau nhức nhối bắn thẳng lên tận đỉnh đầu.
Từ lòng lạch cạn sâu hoắm cách chân cỗ quan tài chừng mười bước chân — ngay tại khoảng tối dày đặc nhất dưới chân vách đá vôi tai mèo — một luồng khí lạnh ngắt không hề có gió bắt đầu lan tỏa ra mặt bùn xám xịt.
Làn sương muối mỏng xung quanh bỗng nhiên ngưng đọng lại thành những hạt băng li ti lơ lửng giữa không trung, phản chiếu ánh sáng nhờ nhờ. Ánh lửa bập bùng từ những ngọn đèn bão trên bờ kè đá dường như bị một bức màn vô hình chặn đứng, chỉ hắt xuống lòng sông một thứ ánh sáng đỏ quạch mờ đục, tù mù và hoàn toàn câm lặng.
Một bóng người từ trong bóng tối của chân vách đá chậm rãi bước ra.
Không có tiếng sấm rền trong lòng đất, không có bọt khí sủi tăm hay làn sương đen cuồn cuộn như những lời đồn thổi ma quái. Kẻ bước ra mang đầy đủ vóc dáng và phong thái của một viên chức đang thi hành công vụ.
Đó là một người đàn ông trung niên mang thân hình cao gầy, dong dỏng. Gã khoác trên mình bộ áo sam dài bằng vải gai thô màu xanh chàm nhuộm vỏ cây vẹt góc, cổ áo nẹp ba đường chỉ gai trắng theo đúng quy chế lại ngạch của một triều đại tiền triều đã khuất bóng từ lâu. Ống tay áo của gã được bó chặt bằng hai vòng đai da trâu xỉn màu.
Dưới chân gã mang đôi ủng da trâu cũ kỹ, mũi ủng vẹt mép. Gã bước từng bước vững chãi trên lớp bùn lầy nhão nhoẹt nhưng tuyệt nhiên không để lại một vệt lún, cũng không phát ra nửa tiếng động nhóp nhép của bùn đất.
Khuôn mặt người đàn ông dài, gầy guộc, hai gò má nhô cao bọc lấy lớp da xám xịt như màu tro bếp đã nguội lạnh ngàn năm. Đôi mắt gã hẹp dài, con ngươi đen kịt và phẳng lặng như mặt nước giếng khơi đóng băng, hoàn toàn không có tròng trắng, cũng không có nửa tia cảm xúc của người sống. Đặc biệt, ba ngón tay bên bàn tay trái của gã — ngón cái, ngón trỏ và ngón giữa — bị ám đen một lớp mực vĩnh cửu dày cộp, dấu vết đặc thù của những viên đề lại đã cầm bút chấm mực chu sa điểm sinh tử suốt hàng trăm năm ròng rã.
Bên sườn trái người đàn ông đeo một chiếc ống trích bằng đồng thau dài một xích hai tấc, nắp ống có ren xoay khắc triện nổi bốn chữ Hán cổ: Câu Hồn Phân Cục.
Bên sườn phải gã treo lủng lẳng một tấm thẻ bài bằng gỗ thị viền sắt đen, mặt trước khắc chìm bốn chữ Khảo Khế Đề Lại, mặt sau khắc rõ danh tính và số hiệu kiểm kê: Lê Toàn — Ất Dậu Lục Bách Nhị Thập.
Trên tay trái gã cầm một cuốn Thanh Bộ dày cộp bọc bằng da dê xám đóng gáy đồng, những trang giấy dó bên trong kẹp đầy những dải thẻ giấy màu nâu gạch ghi niên hạn và chi chít những dấu điểm chỉ bằng máu khô.
Và vắt ngang qua cánh tay phải của gã, buông thõng xuống mặt đá hộc, là sợi xích sắt Thiết Câu Triệt Hồn. Mười tám mắt xích hình bầu dục đen sì, nguội ngắt trượt qua cổ tay gã lạo xạo; đầu xích gắn một chiếc móc sắt nhọn hoắt có khắc ba rãnh máu dùng để gài thẻ khế ước, đầu móc cong lại như móng vuốt chim ưng.
Người đàn ông dừng lại cách Vương Quang đúng bảy bước chân.
Gã đứng sừng sững giữa bãi bùn lầy lội, không giơ xích đe dọa, cũng không bước tới gần hơn. Gã chỉ đứng đó, lặng lẽ nhìn chằm chằm vào manh áo chàm và tấm thẻ sắt đen Hành Trình Ký Lục giắt bên hông Vương Quang bằng ánh mắt lạnh tanh của một viên quan đang chuẩn bị đối chiếu sổ sách nơi công đường.
Không khí xung quanh lạnh buốt đến mức từng hơi thở của Vương Quang hóa thành những luồng khói trắng đục phả vào ngực áo. Hắn siết chặt thanh Thiết Xích Khảo Sát trong tay trái, lưng tựa sát vào vách đá gốc, con mắt trái mở to cảnh giác cao độ.
"Ngoại ngạch Ký lục Vương Quang."
Người đàn ông cất tiếng.
Giọng nói của gã không khè khè ghê rợn, mà cộc cằn, đanh đục và đều đều như tiếng một viên đề lại già đang xướng tên đinh phu trong sổ thuế giữa sân đình. Âm thanh rơi thẳng vào màng nhĩ Vương Quang, ráo hoác và lạnh ngắt:
"Thuộc ty Khảo Sát, hệ thống Khâm Thiên Giám trần gian. Thẻ sắt Hiệp số 04."
Vương Quang nén cơn nhức buốt đang giật ngược lên thái dương từ con mắt phải, cất giọng khàn đặc đáp lời:
"Ngươi là ai?"
Người đàn ông không đổi sắc mặt. Bàn tay khẳng khiu như cành cây khô của gã khẽ lật tấm thẻ gỗ thị bên sườn phải lên, để lộ ra dấu triện vuông vức dập góc sắt nguội:
"Câu Hồn Ty — Khảo Khế Đề Lại Lê Toàn."
Gã ngước đôi mắt đen kịt không tròng trắng nhìn Vương Quang, từng chữ thốt ra chuẩn xác theo khuôn mẫu hành chính:
"Chuyên trách tra xét, đối chiếu khế ước thu hồn phân cục Thủy Lộ Đoạn Sơn. Ta phụng mệnh cõi dưới thụ lý hồ sơ của ngươi."
Vương Quang khựng lại nửa nhịp.
Mọi nghi vấn tích tụ suốt hai ngày qua bỗng chốc được định danh rõ ràng. Kẻ kéo xích sắt bước lên từ lòng bùn không phải là một con quỷ đói vu vơ đi tìm kẻ thế mạng; gã là một viên chức hành pháp của cõi âm mang họ Lê tên Toàn, mang danh tính, chức ngạch và mã hiệu cụ thể, đến để thi hành một vụ án đã được ghi nhận trên giấy tờ.
"Ngươi là người sống đang bị ghi vào sổ chết?" Lê Toàn mở lời trước, giọng phẳng lặng như đọc một điều khoản công môn đã thuộc làu.
"Tôi chưa chết," Vương Quang đáp, bàn tay trái siết chặt thanh Thiết Xích: "Hơi thở còn ấm, máu còn chảy trong huyết quản, thẻ bài công môn của Khâm Thiên Giám còn giắt bên hông."
Lê Toàn đưa bàn tay dính mực mở cuốn Thanh Bộ bọc da dê xám ra. Từng trang giấy dó dày cộp lật qua lạo xạo như tiếng lá khô bị giẫm nát:
"Dương gian nói vậy. Hồ sơ Nhân quyền trần thế ghi ngươi vốn chỉ là một người chép thuê ở tàng thư lầu huyện nha; nhưng hiện tại trên sổ công môn, ngươi mang danh Hành Trình Ký Lục, đang thi hành lệnh khảo sát sự cố ngã ba Cổ Am."
Gã lật sang một trang giấy khác có mép quét một lớp sơn đen mỏng:
"Nhưng sổ Âm gian lại ghi ngươi đã đến hạn trình diện từ đêm mười bốn tháng Chạp. Bản khế ước điểm chỉ bằng máu tươi rành rành, tên họ và giờ sinh tháng đẻ không sai lệch một nét. Người sống đang đi lại, ăn cơm, cắm mốc lập biên bản trên trần; nhưng linh hồn lại là một món nợ quá hạn bị treo dưới cõi chết."
Lê Toàn ngẩng đầu lên, ánh mắt sắc lạnh như dao cạo găm thẳng vào mặt Vương Quang:
"Hai sổ không khớp. Tên của ngươi bị treo lơ lửng giữa sống và chết. Hồ sơ này không kết toán được, trách nhiệm đối chiếu đè nặng lên đầu Khảo Khế Đề Lại ta. Ngươi tưởng ta đến đây để nghe ngươi kể chuyện ma quỷ hay ban phát ân huệ cho ngươi?"
Lời nói của Lê Toàn rơi xuống như một nhát búa nện vào đầu Vương Quang.
Không có sự huyền bí vô căn cứ, cũng không có chuyện cõi âm thương xót một kẻ cùng đinh. Đây là một cuộc khủng hoảng hồ sơ giữa hai hệ thống thể chế: một bên là sổ thu hồn của Câu Hồn Ty, một bên là hồ sơ khảo sát và thẻ bài của Khâm Thiên Giám. Và viên Khảo Khế Đề Lại họ Lê này xuất hiện ở đây vì chính trách nhiệm công tác và hạn định sổ sách của bản thân gã đang bị đe dọa.
"Nếu hai sổ không khớp," Vương Quang trầm giọng hỏi: "Thì sao?"
Lê Toàn đưa đôi mắt đen kịt liếc nhìn về phía hàng cọc gỗ chữ chi và cỗ quan tài độc mộc đang nằm nghiêng dưới bãi sỏi lún:
"Thần vực nơi này đang khuyết người chứng kiến. Miếu Thủy Khẩu chân đồi đã sập mái mười năm, thần khế mốc rách trong kho huyện nha, không có người chủ trì hương hỏa. Hồ sơ Nhân quyền ghi nhận về công trình cọc cổ bị đứt đoạn trong kho tàng thư. Sổ Âm có một phần tử danh chưa thể đối chiếu với dương bộ."
Gã quay lại nhìn Vương Quang, giọng khô khốc:
"Sổ thu hồn của Câu Hồn Ty ghi nhận khu vực ngã ba này có một tử danh bị treo từ thời Khai Tự, hồ sơ Nhân quyền đứt đoạn, Thần quyền khuyết chứng. Hàng cọc dưới bến hay cỗ quan tài kia dính líu thế nào đến món nợ cũ, đó là việc trên trần các ngươi phải làm rõ. Phần ấy không nằm trong hành vi của ngươi. Muốn quy trách nhiệm về đâu, phải có hồ sơ và địa chứng của các ngươi."
"Vậy các người muốn gì ở tôi?" Vương Quang hỏi.
Lê Toàn đáp gọn:
"Xác định phần nào là việc ngươi làm. Ngươi vốn chỉ là một người chép thuê. Nhưng hiện tại trên sổ Nhân quyền, ngươi mang danh Hành Trình Ký Lục. Ngươi đã bước chân xuống bãi bùn này, tự tay dùng dây chão chằng néo cỗ quan tài, dùng ấn triện Khâm Thiên Giám để trì hoãn việc thu hồn. Đó là phần hành vi thực tế của ngươi ở tầng Nhân quyền. Phần ấy, ngươi phải nhận."
Lê Toàn gõ ngón tay dính mực lên bìa cuốn Thanh Bộ:
"Ta tạm hoãn thu hồn ngươi đến giờ Dần ngày mười chín tháng Chạp. Đó là hạn chót để lập biên bản đối chiếu. Muốn ta không thu ngươi, ngươi phải đem chứng cứ trần gian chứng minh phần nào là nợ ngươi tự nhận, phần nào là nợ bị kẻ khác đùn đẩy. Hồ sơ Nhân quyền thiếu thì phải bổ khuyết, Thần quyền khuyết thì phải tìm địa chứng, còn Âm quyền chỉ thu đúng phần nợ có tên."
"Nếu ta đưa ra được chứng cứ?" Vương Quang hỏi.
"Ta sẽ lập biên bản đối chiếu," Lê Toàn nói: "Phần trách nhiệm của công trình cũ trả về cho hồ sơ Nhân quyền; phần tổn hại địa mạch trả về cho Thần vực; phần nợ tử vong trả về cho đúng kẻ đã nằm dưới đáy sông. Ta chỉ thu phần nợ thuộc về những việc ngươi đã thực sự làm. Cổ họng ngươi sẽ không bị móc sắt kéo xuống bùn sâu vào sáng ngày mười chín."
"Còn nếu không làm được?"
"Nếu đến giờ Dần ngày mười chín mà hồ sơ vẫn không đủ căn cứ đối chiếu, ta chỉ còn một căn cứ có hiệu lực duy nhất trong tay: cái tên Vương Quang trên sổ thu hồn. Móc sắt hạ xuống, kéo ngươi đi."
Dứt lời, Lê Toàn chậm rãi nhét cuốn Thanh Bộ vào vạt áo gai thô, xoay người bước về phía mép lạch cạn.
"Đợi đã!" Vương Quang cất tiếng gọi giật lại.
Hắn đưa bàn tay trái sờ vào túi da trâu bên hông, ngón tay chạm vào tấm thẻ gỗ thị mang tên Doãn Thừa Đức vừa đào được ở Hang Dơi ban chiều:
"Nếu hồ sơ Nhân quyền đã bị phủ đường thời trước cố tình cạo sửa... Nếu người trong cỗ quan tài kia không phải là kẻ đã dựng nên hàng cọc thì sao?"
Lê Toàn dừng bước ngay mép nước đen ngòm.
Gã không quay đầu lại, chỉ nghiêng nửa khuôn mặt xám xịt dưới ánh trăng tàn, cất lên một tiếng cười khàn đục như tiếng hai hòn đá hộc cọ vào nhau:
"Đó là việc của Ký lục các ngươi. Thước đo nằm trong tay ngươi, hồ sơ nằm trong tráp của các ngươi. Đừng hỏi một viên quan cõi chết xem trần gian các ngươi đã dối trá những gì."
Loảng xoảng...
Mười tám mắt xích Thiết Câu Triệt Hồn trên cánh tay gã khẽ rung lên một nhịp khô khốc.
Bóng dáng cao gầy trong bộ áo sam gai thô sờn rách bước thẳng xuống lớp bùn lầy sền sệt. Không có tiếng nước bắn tung tóe, không có bọt khí sủi tăm; thân thể gã chìm dần vào làn sương muối đùng đục đang bò lan trên mặt sông, rồi tan biến hoàn toàn vào màn đêm buốt giá như một giọt mực hòa tan vào dòng nước sâu.
Lòng lạch cạn Cổ Am lại rơi vào sự câm lặng tuyệt đối.
Gió bấc thổi thốc qua bờ kè đá, quất từng luồng buốt giá vào vạt áo chàm ướt đẫm mồ hôi lạnh của Vương Quang.
Hắn đứng trơ trọi bên vách đá gốc, bàn tay trái nắm chặt chuôi thanh Thiết Xích Khảo Sát đến mức các khớp ngón tay trắng bệch.
Hắn chỉ hiểu một nguyên tắc sống còn: Muốn sống, hắn phải chứng minh được phần nào là việc do chính tay mình làm, và phần nào là nợ của kẻ khác đùn đẩy sang. Chiếc móc sắt câu hồn kia chỉ chịu dừng lại trước một bộ hồ sơ không thể chối cãi.
Hắn thò tay trái vào túi da trâu, ngón tay chạm vào gáy cuốn Thạch Tuyền Nhật Ký bọc da thú màu xám.
Hắn còn chưa đầy sáu mươi canh giờ.
Đã đến lúc hắn phải trở lên gian buồng xép của trạm dịch, thắp ngọn đèn dầu lạc leo lét để lật mở từng trang chữ của người tiền nhiệm một trăm năm mươi năm trước.
Thảo luận
Bình luận chương
0 bình luận
Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên bình luận chương này.