Chương 47: Những Trang Chữ Khai Tự
Nhân Gian Có Màn
Mục lục
54 chươngCuộn, vuốt hoặc dùng hai nút để xem thêm Đã tải 54/54 chương
Gió bấc rít từng hồi qua những kẽ hở của vách nứa trạm dịch, mang theo cái lạnh thấu xương của vùng đồi đá vôi và mùi tro than ẩm mốc bốc lên từ chiếc chõ củi tàn kê góc phòng.
Gian buồng xép tối om. Chỉ có ngọn đèn dầu lạc leo lét đặt trên chiếc bàn mộc dài là phát ra thứ ánh sáng vàng vọt, chao đảo theo từng cơn gió luồn. Trên mặt gỗ thô ráp, vệt bóng của Vương Quang đổ dài lên vách liếp, gập ghềnh và trơ trọi.
Hắn ngồi xuống mép chõng tre, lồng ngực khẽ phập phồng sau một ngày dài dầm sương trên bãi bùn và lội ngược đường rừng sông Cốc. Toàn thân hắn rã rời, nhưng cánh tay phải mới là nơi gánh chịu sự hành hạ nặng nề nhất.
Thanh nẹp đồng đen Chân Thư Bút lạnh ngắt như một thanh sắt ngâm trong nước đá, ép chặt vào cẳng tay hắn. Dưới lớp vải chàm cáu bẩn, miệng vết loét ở mỏm xương cổ tay đã bắt đầu phát sốt, rỉ ra thứ dịch nhờ nhờ dính bết vào sợi vải thô. Mỗi lần các ngón tay co giật nhẹ theo quán tính, thanh gá kim loại lại cấn mạnh vào vết thương hở, mang theo một cơn đau nhức buốt thấu tận màng óc.
Vương Quang cắn chặt răng, đưa bàn tay trái vụng về tháo từng vòng dây buộc vải chàm ra.
Sợi vải thô bị dịch mủ khô bết chặt vào miệng da thịt non. Khi mép vải bị kéo rời ra, một cơn rát bỏng như bị than hồng dí vào cổ tay khiến khóe mắt hắn giật thót, mồ hôi lạnh túa ra ướt đẫm hai bên thái dương. Hắn hít một hơi dài buốt giá qua kẽ răng, cúi đầu nhìn xuống vết thương của chính mình.
Lớp mỡ lợn trộn bột lưu huỳnh hắn phết lên sáng nay đã biến thành một mảng sáp xám ngoét, bám đầy bụi đất và mủ vàng đùng đục. Da thịt quanh bốn chiếc đinh tán đồng đen tấy đỏ, sưng múp lên. Chiếc nẹp này là thứ duy nhất giữ cho các mảnh xương cổ tay gãy nát của hắn không bị xô lệch trong lúc lội bùn hay kéo dây chão; nó ép bàn tay hắn phải giữ nguyên một tư thế duy nhất: tư thế cầm bút viết chữ chân phương của một kẻ chép mướn nơi công môn.
Nó giữ được xương để hắn làm việc, nhưng nó cũng đang từng ngày bóp nghẹt phần thịt sống bên dưới. Nếu cứ tiếp tục dùng nẹp sắt để gượng ép lao dịch, lớp thịt bên dưới sẽ chai cứng hoặc rữa dần. Nhưng lúc này, giữa bãi bùn Cổ Am với thời hạn đối chiếu cõi âm đang đếm ngược từng khắc, hắn không có quyền nằm xuống dưỡng thương.
Vương Quang lấy chiếc que tre vót dẹp trong tráp đồ nghề, cẩn thận gạt sạch lớp sáp mủ bẩn quanh miệng đinh tán. Cơn đau buốt rát khiến cánh tay phải run lên bần bật, các đường gân nổi cộm lên dưới làn da nhợt nhạt. Hắn dùng khăn sạch thấm nước đun sôi để nguội lau quanh miệng vết loét, rồi dùng ngón tay trái phết một lớp mỡ lợn mới trộn bột lưu huỳnh mịn lên da thịt. Cảm giác xót buốt xộc thẳng lên thái dương, làm con mắt phải mờ xám của hắn giật từng chặp. Hắn quấn lại lớp vải chàm sạch, siết chặt hai đầu nút buộc bằng tay trái và miệng, rồi tì cẳng tay phải lên mặt bàn gỗ để cố định thanh nẹp.
Khi cơn buốt rát dịu dần thành một mảng tê dại cứng đờ, Vương Quang mới với tay kéo chiếc túi da trâu bên hông lại gần.
Hắn thò bàn tay trái vào đáy túi, rút ra cuốn sổ nhỏ bọc da thú màu xám tro.
Cuốn sổ dày chừng một đốt ngón tay, dài bằng một gang tay rưỡi. Bìa da thú đã mòn vẹt bốn góc, mặt da sần sùi mang màu sắc của lớp lông hoẵng rừng khô khốc. Toàn bộ ba cạnh mép giấy bản bên trong được quét một lớp sáp ong trộn nhựa thông dày và cứng ngắc, tạo thành một lớp vỏ bọc phong bế ruột giấy khỏi hơi ẩm của lòng đất.
Trên bìa da, bốn chữ Hán viết bằng mực tàu chân phương đã phai thành màu xám chì vẫn còn nhận diện được:
Thạch Tuyền Nhật Ký.
Và nằm bên cạnh cuốn sổ là tấm thẻ bài bằng gỗ thị viền sắt đen, mặt trước khắc bốn chữ Hành Trình Ký Lục, mặt sau khắc chìm dòng chữ: Doãn Thừa Đức — Khai Tự thất niên.
Vương Quang đặt tấm thẻ gỗ thị sang một bên nghiên đá.
Hắn tháo lưỡi dao nhíp nhỏ bằng sắt chuyên dùng gọt bút lông ở thắt lưng ra. Bàn tay phải tàn tật không thể cầm dao, hắn phải dùng khuỷu tay phải đè chặt mép cuốn sổ da lên mặt bàn mộc để giữ thăng bằng, rồi dùng những ngón tay trái vụng về đưa lưỡi dao lách vào lớp sáp niêm phong quanh mép giấy.
Rắc... Rắc...
Từng mảng sáp ong khô giòn nứt toác ra, vỡ vụn thành những mảnh li ti rơi lả tả xuống mặt gỗ. Mùi sáp ong lâu năm quyện với mùi nhựa thông khô bốc lên ngai ngái, át đi mùi khói than ẩm trong phòng.
Lớp sáp phong niêm ở gáy sổ bị cạy bung. Vương Quang dùng đầu ngón tay trái nhẹ nhàng lật mở tấm bìa da thú xám.
Một mùi giấy bản mục mủn, mùi mực tàu khô cằn và hơi ẩm cổ xưa lập tức phả vào mặt hắn.
Trang giấy dó đầu tiên hiện ra dưới ánh đèn dầu lạc vàng vọt. Chất giấy dó này dày dặn, thớ giấy đanh và mịn, màu ngà xỉn — đúng là loại giấy công vụ mà Ty Khảo Sát thuộc Khâm Thiên Giám vẫn dùng để lưu trữ hồ sơ thực địa từ thời tiền triều.
Ở đầu trang, một dòng lạc khoản viết bằng thứ mực đen nhánh, nét chữ vuông vức, mực thước và cẩn trọng đến từng nét phẩy, nét mác:
“Hành Trình Ký Lục Doãn Thừa Đức — Phụng sai thụ lý công vụ Thạch Tuyền Thủy Đạo. Niên hiệu Khai Tự thứ bẩy, mùa đông, tháng Mười Một, ngày mùng hai lập sổ.”
Ngón tay trái của Vương Quang chạm nhẹ lên mặt giấy.
Cách đây một trăm năm mươi năm, một người mang chức ngạch giống hắn, đeo tấm thẻ bài gỗ thị giống hắn, cũng đã từng ngồi bên một ngọn đèn le lói ở một trạm dịch nào đó, đặt bút viết những dòng chữ này.
Doãn Thừa Đức mở đầu cuốn sổ bằng một bản kê khai hành chính chuẩn xác:
“Ngày mùng hai tháng Mười Một. Nhận trát điều động số Bát bách thập lục của Khâm Thiên Giám phối hợp cùng Công Bộ. Phụng mệnh thượng cấp dẫn đoàn công vụ gồm sáu người: Bản chức Hành Trình Ký Lục Doãn Thừa Đức; Phó mộc Chu Thụy và Trưởng thợ Trịnh Tùng thuộc Ty Doanh Tạo Công Bộ; ba phu trạm áp tải là Đặng Thiết, Vũ Canh, Lã Năng. Nhiệm vụ: Ngược dòng sông Đáy lên ngã ba Cổ Am, tiến hành khảo sát và thi công công trình Tiết Chế Thủy Đạo nhằm gia cố bãi bồi, nắn dòng chảy luồng lạch nhánh sông Cốc. Khí cụ mang theo: Mười tám cây cọc lim nẹp đồng dài một trượng hai thước, đục mộng mang cá và rãnh xoắn dẫn thủy do xưởng mộc Công Bộ Thạch Tuyền chế tác; hai bộ dây xích đồng khóa mộng; ba cỗ châm bàn đo thủy chuẩn; bốn hòm trát công văn niêm phong sáp đỏ...”
Ngón tay Vương Quang dừng lại trên trang giấy.
Mười tám cây cọc lim nẹp đồng dài một trượng hai thước, đục mộng mang cá và rãnh xoắn dẫn thủy.
Bản chép tay Cổ Am Thủy Mạch Dị Ký trong chiếc tráp then của Phan Khắc Tố chỉ ghi chép sơ sài rằng đoàn người mang mười tám cây cọc lim đến để cắm "trận đồ chữ chi yểm thủy khẩu". Viên Chủ bạ và những người đời sau chỉ nghĩ đó là cọc cắm để trấn yểm theo quan niệm phong thủy dân gian.
Nhưng trong sổ ghi chép của người trực tiếp nhận vật tư, mười tám cây cọc ấy có mộng mang cá, có nẹp đồng và có dây xích khóa mộng.
Cây cọc lim cắm trên nấm mộ ở hẻm núi Hang Dơi — cây cọc có chiếc mộng mang cá bị đẽo bạt và chốt đồng gãy đôi — rất có thể từng là một bộ phận của kết cấu này. Hàng cọc gỗ lim cắm hình chữ chi dưới đáy bùn ngã ba Cổ Am ban đầu vốn là một bộ khung có mộng ghép nối, được trù tính để điều tiết dòng chảy giữa sông Cốc và sông Đáy.
Vương Quang dùng khuỷu tay phải đè mép trang giấy cho khỏi quăn, ngón tay trái lần giở tiếp sang những trang sau.
Các trang ghi chép những ngày tiếp theo phản ánh sự chậm trễ và bất đồng giữa đoàn công vụ với quan lại sở tại:
“Ngày mười chín tháng Mười Một. Đoàn đến bến Thạch Tuyền thượng nguồn. Quan phủ sở tại và Đề lại Thủy Vận trì hoãn việc cấp thuyền kéo cọc gỗ suốt bốn ngày. Bản chức gặng hỏi, viên Đề lại thác cớ nước sông cạn đáy, thuyền công vụ bị trưng dụng chở đá hộc cho khu mỏ. Bản chức ghi nhận: ven sông Cốc có nhiều thuyền buôn đá và lò nung vôi hoạt động không rõ môn bài. Việc nắn dòng và đặt trạm khảo sát của Khâm Thiên Giám dường như gây trở ngại cho luồng vận chuyển đá hộc của các nhóm buôn địa phương. Phó mộc Chu Thụy khuyên bản chức nên tấu trình về kinh sư xin hoãn việc thi công. Bản chức không đồng ý. Lệnh điều động có kỳ hạn ba mươi ngày, nếu trễ hạn, cả đoàn sẽ phải chịu phạt theo quy thức ty sở...”
Nét chữ của Doãn Thừa Đức ở những trang này bắt đầu có dấu hiệu vội vã, nét mực tì mạnh làm hằn sang mặt sau của trang giấy dó.
Vương Quang nheo mắt đọc từng dòng.
Cuốn nhật ký cho thấy một góc nhìn khác hẳn với bản hồ sơ chính thức của phủ đường. Không có ghi chép nào về điềm triệu ma quái ngay từ đầu. Trước khi có bất kỳ sự cố nào dưới nước, đoàn công vụ đã vấp phải sự cản trở về thuyền bè và mâu thuẫn lợi ích vận tải bến bãi với các nhóm khai thác đá ở Thạch Tuyền.
Hắn lật tiếp đến những ngày giữa tháng Chạp:
“Ngày mùng mười tháng Chạp. Đoàn đưa được mười tám cây cọc lim về tới ngã ba Cổ Am. Dựng lán trại bên bờ đê, bắt đầu dùng đòn bẩy và khung gỗ nện hàng cọc thứ nhất xuống rãnh nước. Địa tầng đáy sông phức tạp hơn dự tính. Lớp bùn mặt xốp, bên dưới nhiều sỏi dăm và khe nứt đá vôi. Khi cây cọc thứ ba được nện xuống sâu chừng một trượng, chân cọc không chạm vào nền đá mà va phải một vật cản bằng gỗ nằm sâu trong bùn. Nước nhánh sông Cốc chuyển màu nâu đỏ, sủi bọt khí. Cá tôm chết dạt vào bờ sỏi. Trưởng thợ Trịnh Tùng lặn xuống đáy rãnh thăm dò. Khi lên bờ, Trịnh Tùng bẩm báo: Chân cọc lim đã đâm trúng lớp vỏ bọc bằng vỏ cây và chất nhựa đen của một thân gỗ lớn nằm chìm trong tầng sỏi nứt. Đó là một cỗ quan tài độc mộc. Nó đã nằm ở đó từ trước khi đoàn tiến hành cắm cọc...”
Thanh nẹp đồng đen trên cổ tay Vương Quang khẽ run lên.
Cỗ quan tài độc mộc bọc lớp vỏ cây và nhựa đen đã nằm dưới đáy bùn từ trước khi đoàn của Doãn Thừa Đức thi công.
Hồ sơ của phủ đường lưu tại huyện nha Cổ Am hoàn toàn không nhắc đến chi tiết này. Trong bản sao lục Cổ Am Thủy Mạch Dị Ký, người ta chỉ ghi: đoàn cắm mười tám cây cọc, đến rạng sáng ngày mười sáu thì sương đen bốc lên, cả đoàn mất tích. Toàn bộ việc mũi cọc đâm trúng một cỗ quan tài cổ đã bị gạt bỏ hoàn toàn khỏi văn bản tấu trình lên triều đình.
Vương Quang khẽ thở hắt ra một hơi lạnh. Người nằm trong cỗ quan tài dưới đáy bùn rõ ràng không phải là Doãn Thừa Đức. Cỗ quan tài ấy đã ở đó từ một thời điểm trước đó mà cuốn sổ này chưa thể làm rõ.
Hắn lật tiếp sang trang giấy tiếp theo. Đến đoạn này, chữ viết của Doãn Thừa Đức run rẩy, mực dây ra mép giấy:
“Ngày mười bốn tháng Chạp. Sau khi chân cọc đâm trúng vật cản, rãnh nứt dưới đáy rỉ ra một thứ nước nhờ nhờ mùi tro khoáng nồng nặc. Hai phu trạm lặn xuống kiểm tra cọc bỗng nhiên phát sốt mê man, da dẻ nổi mẩn xám, đến nửa đêm thì tắt thở. Bản chức toan phi ngựa về trạm dịch bẩm báo để xin tạm đình chỉ công trình, thì phát hiện bốn con ngựa trạm trong lán đều đã bị cắt đứt gân chân sau. Đường đê xuất hiện người lạ mặt mang đoản đao canh chừng. Trát báo về phủ đường Thạch Tuyền không có hồi âm. Bản chức ngờ rằng có kẻ cố ý cô lập đoàn công vụ, muốn ép chúng ta phải nện cho xong mười tám cây cọc để lấp kín sự cố này dưới đáy sông...”
“Ngày mười lăm tháng Chạp — Canh tư. Trịnh Tùng mất tích ngoài bãi bồi. Lán chứa vật tư bị cháy một góc. Tình thế nguy cấp. Bản chức giao cho Phó mộc Chu Thụy tháo chiếc cọc lim số mười tám mang theo tấm thẻ bài Ký lục và cuốn nhật trình này rời khỏi bến Cổ Am, tìm đường ngược lên Hang Dơi lánh nạn nơi phường thợ đá. Hiện tại lòng lạch sụt lún mạnh, sương muối phủ kín mặt nước. Từ khoang gỗ dưới chân cọc có tiếng gõ vọng lên từng hồi... Bản chức Doãn Thừa Đức cùng hai phu trạm còn lại ở lại giữ hòm công văn và hồ sơ đo đạc...”
Đoạn văn dừng lại đột ngột ở đó.
Phía dưới dòng chữ cuối cùng là một vệt ố màu nâu sẫm đã khô cứng, kéo dài một vệt xiên qua góc trang giấy dó rồi đứt đoạn.
Những trang sau của cuốn sổ hoàn toàn là giấy trắng.
Gió bấc bên ngoài cửa liếp thổi giật từng cơn. Ngọn đèn dầu lạc chao đảo, ngọn lửa vàng vọt lụi dần, tỏa ra làn khói đen khét lẹt.
Vương Quang ngồi bất động trước bàn mộc, mắt dán chặt vào trang giấy dở dang.
Cuốn nhật ký không cho hắn một bức tranh toàn cảnh không tì vết, nhưng nó vạch ra một vết nứt chết người giữa hai nguồn tài liệu:
Bản tấu trình lưu tại phủ đường chép rằng sáu người biến mất vì "dị tượng sương đen bốc lên từ đáy sông vào giờ Dần ngày mười sáu". Nhưng nhật ký thực địa của Doãn Thừa Đức lại cho thấy đoàn người đã bị cô lập từ ngày mười bốn: ngựa bị cắt gân chân, hai phu trạm chết vì tiếp xúc với chất lạ dưới nước, lán trại bị đốt, và cỗ quan tài độc mộc vốn đã nằm sẵn dưới tầng sỏi nứt trước khi cọc được đóng xuống.
Doãn Thừa Đức ghi lại mối nghi ngờ của mình về nhóm buôn đá ở Thạch Tuyền và sự thờ ơ bất thường của quan phủ sở tại. Đó là phán đoán của Doãn trong lúc tuyệt vọng, chưa thể coi là kết luận tuyệt đối, nhưng sự biến mất của đoàn người rõ ràng gắn liền với những mâu thuẫn nhân sự trần thế hơn là một vụ ma quỷ bắt hồn ngẫu nhiên.
Và tấm thẻ bài cùng cuốn sổ tay tìm thấy ở Hang Dơi cho thấy lời dặn của Doãn đã được thực hiện một phần: chiếc hộp đồng đã được đưa lên hẻm núi. Nhưng ai là người đã chôn chiếc hộp dưới chân cọc lim, Chu Thụy có sống sót thoát khỏi cuộc truy đuổi hay không, và chuyện gì thực sự xảy ra sau canh tư ngày mười lăm tháng Chạp... cuốn sổ này hoàn toàn im lặng.
Vương Quang đưa tay trái khép cuốn Thạch Tuyền Nhật Ký lại.
Hắn không có trong tay toàn bộ sự thật về vụ án một trăm năm mươi năm trước.
Nhưng hắn đã có thứ hắn cần nhất lúc này: Một bằng chứng vật chất xác thực chứng minh hồ sơ lưu trữ của Nhân quyền đã bị làm sai lệch.
Khi bước vào thủ tục Tam Tầng Đối Khế với Khảo Khế Đề Lại Lê Toàn, hắn không cần phải chứng minh ai là kẻ thủ ác năm Khai Tự thứ bẩy. Hắn chỉ cần chỉ ra rằng bản án thu hồn đang dựa trên một bộ hồ sơ dương gian bị cắt gọt, rằng cỗ quan tài dưới bãi bùn không do hắn dựng nên, và trách nhiệm của công trình cũ không thể tự tiện quy kết lên đầu một Ký lục đến sau.
Cộc... Cộc...
Từ ngoài lòng lạch cạn xa xăm, hai tiếng gõ khô khốc lại dội lên qua màn sương đêm buốt giá, vọng thẳng vào vách nứa trạm dịch.
Con mắt phải mờ xám của Vương Quang giật thót một cái.
Hắn cất cuốn nhật ký và tấm thẻ gỗ thị sâu vào đáy túi da trâu, cài chặt nắp túi bên hông sườn. Hắn còn chưa đầy sáu mươi canh giờ. Mâu thuẫn hồ sơ đã mở ra, nhưng để biến nó thành căn cứ pháp lý đủ sức đẩy lùi chiếc móc sắt của Câu Hồn Ty, hắn vẫn cần phải đối chiếu những gì Doãn Thừa Đức viết với hiện trường thực tế dưới lòng sông.
Bỗng nhiên, từ ngoài thềm ván trạm dịch, tiếng bước chân huỳnh huỵch hòa lẫn tiếng thở dốc hớt hải của Chu Bá Cửu vang lên gấp gáp:
"Thầy Ký! Thầy Ký ơi! Mở cửa mau! Dưới bến... Dưới bến có biến lớn rồi!"
Thảo luận
Bình luận chương
0 bình luận
Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên bình luận chương này.