Chương 34: Đường Đê Bùn Đỏ
Nhân Gian Có Màn
Mục lục
54 chươngCuộn, vuốt hoặc dùng hai nút để xem thêm Đã tải 54/54 chương
Mưa phùn tháng Chạp bắt đầu giăng hạt khi bóng hai người vừa lọt qua khỏi cánh cổng nách bằng gỗ lim của huyện nha.
Hạt mưa mùa đông ở vùng đồng chiêm trũng không trút xuống rào rào như những cơn dông mùa hạ. Nó li ti, đặc quánh như bụi cám, quyện chặt lấy lớp sương muối chưa kịp tan trên những rặng tre còi cọc ven sông, tạo thành một tấm màn mờ đục buông sát mặt đất. Gió bấc từ mạn sông Đáy thổi thốc qua triền dốc, quất từng luồng hơi nước buốt lạnh như kim châm vào mặt, luồn sâu qua những thớ vải sô xơ xác của manh áo nâu bọc lấy thân hình gầy còm của Vương Quang.
Hắn đi trước nửa bước.
Bàn tay phải quấn gọn trong dải vải thô sạch ép sát vào mạn sườn để tránh những cú va quệt bất ngờ vào bụi cây ven đường. Nhờ dải vải dày chêm giữa phần thịt mềm và thanh gá bằng đồng đen hình móng ngựa, hai con đinh tán bằng đồng thau không còn nghiến thẳng vào màng xương cổ tay như đêm trước. Vết thương ở hai ngón tay dập nát đã tạm khô miệng dưới lớp vải thô và thứ thuốc dân gian lão phu ngựa đưa, nhưng bên trong thớ thịt vẫn giật lên từng cơn đau âm ỉ, hâm hấp nóng. Mỗi lần bàn chân hắn nện xuống mặt đường đất mấp mô, thanh gá kim loại lại lay nhẹ một nhịp, kéo theo một luồng nhức buốt chạy dọc từ cổ tay lên tận khuỷu. Hắn chỉ đi được vì đã quấn chặt nó vào người, chứ chẳng có sự bình phục thần kỳ nào cả.
Đi sau hắn chừng hai bước là Đỗ Văn Cương.
Lão thư lại già thở phì phò như một con trâu mộng kéo cày ngược dốc. Thân hình béo đẫy đà của lão bị bọc kín trong chiếc áo dài lương thâm đã sờn rách hai bên nách, bên ngoài khoác thêm chiếc áo tơi lá cọ xơ xác lấm lem bùn đất. Chiếc ô giấy dầu lão cắp bên nách đã bị gió sông bẻ gãy mất hai nan tre, rủ lòng thòng một góc giấy bồi ướt sũng, dán bệt vào bả vai.
Đôi ủng da trâu của lão vốn chỉ quen dẫm trên nền gạch vồ nhẵn bóng của phòng tàng thư hay sàn gỗ các quán chè tươi ngoài cổng huyện, nay phải lội bì bõm trên mặt đê bùn đỏ dẻo quánh. Mỗi lần nhấc chân lên, lớp đất sét nhão nhoẹt lại mút chặt lấy đế ủng, phát ra những tiếng bẹp... xoẹt nặng nề, nhớp nhúa.
"Mẹ kiếp... cái ngữ thời tiết chó tha..."
Lão Đỗ khạc nhổ một bãi đờm đặc quánh xuống vạt cỏ may ven đường. Giọng lão khàn đặc, khê nồng mùi khói thuốc lào vướng nghẽn nơi cuống họng, đục ngầu và ráo hoác như tiếng chiếc bễ rèn thủng gió:
"Mười năm nay... nha môn chưa bao giờ bắt thư lại phải xách trát lội bộ xuống tận bãi bồi giữa mùa đông giá rét thế này. Bọn quan Đốc Vận chỉ giỏi vẽ việc... Rõ ràng là cố ý chèn ép công đường huyện lỵ..."
Lão vừa lầm bầm chửi rủa, vừa giơ bàn tay béo múp míp quẹt ngang dòng mồ hôi dầu đang túa ra đầm đìa trên trán, chảy ròng ròng qua khóe mắt ti hí.
Tờ trát lệnh cuộn tròn trong chiếc ống tre bên hông Vương Quang ghi rõ tên cả hai người phải cùng nhau xuống đình làng Hạ làm việc. Đỗ Văn Cương là thư lại của phòng tàng thư huyện nha, cả đời chỉ quen xử lý những văn tự nằm gọn trong bốn bức tường công đường; Vương Quang thì thấp hơn lão một bậc, chỉ là tên chép mướn có tên trong sổ sai dịch tạm thời.
Nhưng lần này, người ký trát điều động không phải Đàm Thông phán. Dấu mộc chính đóng ở góc trên văn thư thuộc về Nha Giang Hà Đốc Vận — cơ quan chuyên trách việc đường sông, luồng lạch, bến bãi, đê điều và những cọc mốc đặt dọc các triền nước, do Biền sứ Lưu Đôn trực tiếp thụ lý. Huyện nha có thể nắm sổ đinh, bắt dân phu, nhưng tuyệt đối không thể tự ý nhổ một chiếc cọc cắm mốc giới đã được quan Đốc Vận nện xuống bãi sông. Khi việc bãi bồi dính líu đến đường nước và cọc mốc thủy bộ, lệnh của quan Đốc Vận đè nặng lên cả công đường huyện.
Chính vì con dấu ấy mà Đàm Thông phán phải câm nín ngồi nhìn, còn lão Đỗ thì phải cắn răng lê đôi ủng da trâu lội bùn cùng một tên chép mướn què quặt.
Vương Quang không quay đầu lại, bước chân vẫn giữ nhịp đều đặn trên lớp bùn trơn tuột. Hắn cắm mặt nhìn xuống mũi giày vải rách tơi tả, ngón chân cái tì chặt xuống đất để giữ thăng bằng.
"Đỗ tiên sinh cẩn thận trượt chân," Vương Quang khẽ buông một câu, giọng trầm đục, phẳng lặng: "Đoạn đê bối này mới đắp thêm đất bùn đáy sông từ tháng mười, gặp mưa phùn là trơn như mỡ nước."
Lão Đỗ nghe tiếng nhắc, bỗng khựng lại nửa nhịp thở. Lão ngước đôi mắt kèm nhèm đỏ hoe lên, nhìn chằm chằm vào tấm lưng gầy còm của tên chép mướn đang lầm lũi đi phía trước.
Từ lúc bước ra khỏi gian tả vu của huyện nha, nỗi kinh hoàng về án phạt chém đầu nếu trễ hạn bảy ngày vẫn bóp nghẹt lấy cuống họng lão. Nhưng bên cạnh nỗi sợ hãi quan trên, một sự nghi ngại và cảnh giác tột cùng đối với Vương Quang đang cào xé tâm can tên lại dịch già đời.
Lão không thể hiểu nổi. Một thằng chép mướn tầng đáy, côi cút, què quặt, vốn chỉ biết cúi đầu xum xoe nhận dăm đồng tiền công cạo mực hàng tháng, làm sao có thể bước ra từ bãi Cổ Miễu mà không mất mạng? Làm sao trên cổ tay nó lại mang thứ thanh gá kim loại của quan Đốc Vận? Và quan trọng nhất: làm sao nó lại dám mở miệng nhắc đến cuốn sổ lưu nháp làng Hạ mười năm trước ngay trước mặt lão?
"Vương Quang," lão Đỗ bước rảo lên hai bước, khoảng cách rút ngắn lại chỉ còn một tầm với. Lão hạ giọng xuống, tiếng thì thào khè khè qua kẽ răng vàng ố: "Đêm qua... trên chiếc thuyền tuần giang của nha phủ... quan Đốc Vận đã hỏi mày những gì?"
Gió bấc thổi thốc qua rặng tre ngả nghiêng bên vệ đê, rít lên từng hồi u u lạnh lẽo.
Vương Quang dừng bước. Hắn quay nghiêng nửa người lại, bàn tay trái giữ chặt chiếc ống tre đeo chéo bên hông. Con mắt bên trái của hắn nhìn lão Đỗ bằng vẻ mệt mỏi, nhẫn nhịn quen thuộc của kẻ làm thuê; nhưng con mắt bên phải — con mắt vừa được lau sạch vệt máu khô — lại rủ hờ mi mắt xuống, sâu thẳm và lạnh ngắt.
"Bẩm tiên sinh," Vương Quang khẽ khàng: "Quan lớn hỏi về vết cạo trên giấy bản thời Cảnh Hưng. Con chỉ là đứa chép thuê, người ta chìa giấy ra bảo nhìn chữ thì con nhìn chữ, bảo sờ thớ giấy thì con sờ thớ giấy. Việc quan sai bảo, con đâu dám nhiều lời."
"Mày đừng có vờ vịt với tao!" Lão Đỗ nghiến răng, ngón tay trỏ béo núc chỉ thẳng vào chóp mũi Vương Quang, nhưng giọng lão run bắn lên chứ không còn cái vẻ hống hách thường ngày: "Mày tưởng tao không biết à? Cái tên Trần Bá Lập... cái tên ấy nằm trên bia đá sau đình làng Hạ mười năm nay không ai buồn ngó tới. Tại sao đêm qua mày lại đào đúng tờ lưu chiếu có chữ ký nháy của Đàm đại nhân? Mày... mày với đám lính tuần phủ đường có giao kèo gì sau lưng nha môn huyện?"
Vương Quang nhìn ngón tay đang run rẩy của lão Đỗ. Hắn không lùi lại, cũng không chớp mắt.
"Tiên sinh nghĩ nhiều rồi," giọng Vương Quang nhạt thếch: "Đêm qua nếu con có chỗ dựa ở phủ đường, thì giờ này con đã được ngồi uống nước trà nóng bên bếp than phòng tài vụ, việc gì phải cùng tiên sinh đội mưa phùn lội sáu dặm đường đê bùn lầy này? Thanh gá đồng này là đồ công môn lắp vào để ép con cầm bút. Quan Đốc Vận bảo: bảy ngày không xong việc đối sổ, hai cái đầu bêu ở đầu cầu bến Đáy. Đầu con rẻ rách, nhưng đầu của tiên sinh thì còn cả cơ ngơi ở phố huyện, còn chân lại dịch ba đời. Tiên sinh hỏi con đêm qua thấy gì, chi bằng nghĩ xem lát nữa xuống đình làng Hạ, làm sao để khớp được ba mươi tám cái tên trên bia vào cuốn địa bạ bị cạo trắng."
Từng lời rơi xuống nặng nề, đanh gọn như những viên sỏi ném xuống vũng bùn.
Lão Đỗ cứng họng. Nét mặt phì nộn của lão giật giật, chuyển từ đỏ gay vì tức tối sang màu xám ngoét của sự bế tắc. Lão buông thõng cánh tay xuống, ngón tay bấu chặt vào vạt áo tơi lá. Vương Quang nói không sai một chữ. Cả hai đứa lúc này đều là những con tốt bị đẩy ra mép vực; sự sống chết của lão giờ đây bị buộc chặt vào cái trát lệnh ba dấu mộc mà tên chép mướn đang đeo bên hông.
"Mày... Mày tính đối sổ thế nào?" Lão Đỗ nuốt nghẹn một cục đờm, giọng xìu hẳn xuống, mang theo một vẻ cầu may hèn hạ: "Cuốn địa bạ huyện lỵ đã cạo trắng tên thằng Lập từ mười năm trước. Phần bãi ấy từ lâu đã bị nhập vào công điền. Ai đứng tên canh tác thì tao không rõ, nhưng chắc chắn không còn là tên thằng Lập. Mười năm trước có người làm lại sổ, sau đó phần đất ấy rơi vào tay họ Trần. Chuyện cụ thể thế nào, tao chỉ nghe qua miệng người khác... Giờ nếu khôi phục lại tên nó trên giấy tờ, tức là lòi ra chuyện sổ sách của huyện có vấn đề! Hay là... hay là lát nữa tới đình làng Hạ, tao với mày tìm cách cạo nốt cái tên trên bia đá?"
Lão Đỗ ghé sát mặt lại, mắt lóe lên một tia sáng quỷ quyệt:
"Chỉ cần mài mòn mặt đá, bảo rằng bia cổ bị rêu phong xói mòn mất chữ, rồi nhờ người làng xác nhận chỉ có ba mươi bảy người chết trôi. Một suất đinh mất tích xem như chết bờ chết bụi không rõ danh tính! Tiền lót tay cho lão lý trưởng và Cụ Từ coi đình tao lo liệu. Mày thấy thế nào?"
Vương Quang nhìn lão Đỗ, trong lòng dấy lên một cảm giác ghê tởm xen lẫn chua xót cho thói quen luồn cúi của một kẻ làm việc quan nha lâu năm. Lão Đỗ tưởng rằng mọi sự sai lệch trên đời này đều có thể giải quyết êm thấm bằng một lưỡi dao trổ giấy và vài đồng kẽm nhét dưới gầm chiếu hoa.
Hắn không giận dữ, chỉ lắc đầu khẽ buông một câu tự vệ:
"Con không biết quan trên sẽ làm gì nếu phát hiện bia đá bị sửa. Nhưng trát đã ghi đủ ba mươi tám tên. Tiên sinh muốn cạo đi một tên thì cứ làm. Chỉ xin đừng kéo con đứng bên cạnh khi họ hỏi ai cầm dao."
Lão Đỗ rụt phắt cổ lại như con rùa rụt đầu vào mai. Tia sáng quỷ quyệt trong mắt lão vụt tắt ngấm, chỉ còn lại sự hoảng loạn đến tột cùng. Lão thở hắt ra một hơi dài nồng nặc mùi thuốc lào khê, lảo đảo bước tiếp trên mặt bùn, miệng lẩm bẩm những câu vô nghĩa rủa xả vận đen.
Hai người tiếp tục lầm lũi bước đi dọc theo con đê sông Đáy.
Càng đi về phía hạ lưu, con đường đê càng hẹp lại và dốc đứng. Gió bấc thổi mỗi lúc một dữ dội, cuốn theo hơi nước đùng đục từ mặt sông bốc lên mịt mù.
Khi đi qua đoạn đê uốn cong sát cống Ba Cửa — con cống ngầm ghép bằng những phiến đá ong dẫn nước từ sông Đáy vào hệ thống mương tiêu của làng Hạ — Vương Quang bỗng thấy bước chân mình nặng trịch lại.
Một mùi xú uế tanh nồng xộc thẳng vào cánh mũi.
Đó không phải là mùi bùn phù sa hay rơm rạ ngâm nước thường ngày. Đó là thứ mùi hăng hắc của vôi sống, trộn lẫn với mùi tanh lợm giọng của nước bùn bị khuấy đảo. Mùi vôi sống từ dưới lạch bốc lên làm hắn nhớ đến hố vôi ở Cổ Miễu đêm nọ. Nhưng hai nơi cách nhau một đoạn đê, Vương Quang không biết vì sao mùi ấy lại có thể theo nước tràn đến tận cửa cống này.
Dưới chân mái đê, bên bờ con lạch dẫn vào cống đá ong, một đám dân chài và phu làm ruộng làng Hạ chừng mười mấy người đang xúm đông xúm đỏ. Họ mặc những chiếc áo tơi lá rách bươm, đầu đội nón mê cụt vành, tay cầm dầm gỗ, vợt lưới và những cây sào tre dài. Tiếng bàn tán xôn xao, ồn ã át cả tiếng gió rít qua rặng sậy:
"Hôm qua còn trong veo, sáng nay đã vàng khè thế này!"
"Cá ngạnh nổi từ lúc gà gáy. Có con còn giãy trên bờ."
"Đêm rằm chuông đình nứt, giờ đến cống Ba Cửa. Chẳng lành đâu..."
"Chẳng lành cái gì! Chắc ai đổ vôi xuống mương."
"Vôi gì mà cá chết cả khúc lạch dài thế này?"
Vương Quang dừng chân trên đỉnh mái đê nhìn xuống.
Nước dưới lòng con lạch không còn màu nâu đỏ của phù sa mùa đông. Nó đổi sang một màu vàng ệch, đục ngầu và đóng một lớp váng xám xịt trên bề mặt. Những bọt khí to bằng chén trà từ đáy bùn liên tục trồi lên, nổ lụp bụp, phả ra làn hơi tanh nồng.
Dọc theo hai bên bờ lạch, hàng chục con cá nổi lờ đờ trôi dạt vào các bụi cỏ lác, mang cá đỏ lừ, há hốc miệng bất động.
Và ngay giữa vòm cống đá ong, một chiếc cọc mốc giới hạn bằng gỗ lim cắm từ đời trước đã bị dòng nước xoáy bứng bật gốc, trôi nghiêng ngả, gãy đôi thành hai đoạn nham nhở trôi dập dềnh theo bọt bẩn.
Cơn nhức buốt trong hốc mắt phải của Vương Quang bỗng nhiên bùng lên dữ dội.
Hắn vội đưa tay trái tì vào thái dương, cắn răng chờ cơn đau lắng xuống rồi mới chậm rãi mở mắt.
Dưới con mắt phải, cảnh vật lập tức phủ lên một lớp sắc xám nhờ nhờ của tro tàn.
Nước dưới cống Ba Cửa vẫn vàng đục. Nhưng ở sát đáy lạch, giữa những đám bùn đang sủi bọt, có một vệt đỏ sẫm lặng lẽ bò ngược dòng. Vệt đỏ không tan ra như máu loãng, cũng không bị dòng nước cuốn trôi xuôi; nó uốn lượn sát lớp đất sét đáy lạch, chậm chạp như một con giun bị chém đôi mà vẫn cố tìm đường chui xuống đất. Mỗi lần nó lướt qua chiếc cọc mốc gãy, mặt nước lại sủi lên một chuỗi bọt trắng.
Phía ngôi đình làng Hạ sau rặng nhãn cổ thụ đằng xa, một thứ ánh vàng nhợt nhạt rỉ xuống mặt nước, yếu đến mức Vương Quang không chắc mình có thực sự nhìn thấy hay không. Hai màu chạm nhau. Mắt phải hắn đau nhói. Vệt vàng lập tức đứt ra thành từng mảnh vụn rồi tan biến vào lớp bùn đục.
Hắn chớp mắt. Mắt phải đau đến chảy nước, một giọt nước mắt cay xè ứa ra chảy xuống gò má.
Khi mở ra lần nữa, dưới cống chỉ còn nước vàng, cá chết và chiếc cọc mốc gãy đôi đang mắc kẹt trong vòm cống đá ong.
Vương Quang không biết mình vừa nhìn thấy gì. Hắn chỉ biết chuyện cá chết không bắt đầu từ sáng nay. Dưới lòng đất và dòng nước bãi bồi, dường như đang có thứ gì đó bị khuấy đảo dữ dội, vượt khỏi tầm hiểu biết của đám dân cày đang cầm sào tre dưới kia.
"Đứng ngây ra đấy làm gì? Đi mau lên!"
Tiếng quát gắt gỏng của lão Đỗ kéo giật Vương Quang trở về với thực tại.
Lão Đỗ không nhìn thấy vệt đỏ hay ánh vàng nào dưới đáy nước. Lão chỉ nhìn thấy đám dân làng đang xúm đông bàn tán. Với một viên lại dịch chốn quan nha, hễ thấy dân chúng tụ tập xôn xao chuyện dị thường là lão sợ toát mồ hôi hột; những chuyện như thế rất dễ kéo theo trát tra xét hoặc biến động thuế má, mà dính vào công việc của huyện lỵ lúc này thì chẳng khác nào tự rước vạ vào thân.
Lão túm lấy mép áo tơi lá của mình, bước dồn dập xuống dốc đê:
"Tránh xa cái đám dân đen ấy ra! Đừng có chõ mũi vào chuyện cống rãnh cá chết! Việc của mình là vào đình làng đối sổ cho xong trước khi trời tối!"
Vương Quang khẽ chớp mi mắt phải để gạt đi giọt nước mắt lạnh ngắt, lẳng lặng bước theo sau gót ủng da trâu của lão Đỗ.
Con đường dẫn vào cổng làng Hạ lầy lội không kém gì mặt đê. Hai bên đường, những hàng rào dâm bụt khẳng khiu trơ trọi lá, những mái rạ liêu xiêu bốc lên mùi khói bếp ẩm ướt quyện với mùi phân gia súc nồng nặc. Cả ngôi làng chìm trong một bầu không khí ảm đạm, u uất giữa màn mưa phùn rả rích.
Trước cổng làng — nơi có một điếm tuần canh nhỏ dựng bằng tre nứa xiêu vẹo — hai tên tuần đinh mặc áo vải thô nẹp chỉ xanh, tay cầm gậy tre bịt sắt đang ngồi xổm bên đống tro tàn sưởi ấm. Thấy hai người lạ mặt lếch thếch lội bùn bước tới, một tên tuần đinh trạc ba mươi tuổi, mặt rỗ hoa, liền chống gậy đứng dậy, hất hàm hỏi bằng cái giọng cộc lốc, ráo hoác:
"Ai đấy? Đi đâu vào làng giữa lúc mưa gió thế này?"
Lão Đỗ lập tức ưỡn cái bụng phệ ra, thò bàn tay béo múp vào trong tay áo lương thâm rút ra tấm thẻ ngà khắc dấu huyện nha, giơ lên trước mặt tên tuần đinh:
"Thư lại phòng tàng thư huyện lỵ Đỗ Văn Cương phụng lệnh quan trên về làng làm công vụ! Gọi lý trưởng và Cụ Từ ra đình trình diện ngay lập tức!"
Tên tuần đinh liếc nhìn tấm thẻ ngà, nét mặt cộc cằn lập tức chùng xuống đôi phần, nhưng đuôi mắt gã vẫn ánh lên vẻ cảnh giác và khó chịu thường thấy của đám người nhà quê đối với nha dịch huyện. Gã nhổ toẹt một bãi nước bọt vào đống tro tàn, cất giọng khàn khàn vì ngậm khói:
"Thầy Đỗ về đình làng việc gì thế? Dạo này trong làng đang có dịch cá chết, nước nôi ô uế, Cụ Từ đang phải làm lễ đảo bệnh trong hậu cung, người ngoài không tiện vào đâu."
"Câm mồm!" Lão Đỗ gắt lên, cố lấy lại vẻ uy quyền của một viên lại dịch chốn công môn: "Lệnh của quan Đốc Vận và Đàm đại nhân, có trát ba dấu mộc đàng hoàng! Dám cản trở công vụ, tao tâu lên huyện gông cổ cả họ nhà mày lại bây giờ! Mở cổng!"
Tên tuần đinh rỗ mặt hậm hực lùi lại một bước, dùng đầu gậy sắt gạt thanh tre chắn ngang cổng làng sang một bên:
"Mời hai thầy vào. Nhưng tôi nói trước: đình làng dạo này u ám lắm, các thầy có vào thì cẩn thận cái miệng kẻo kinh động đến bề trên."
Vương Quang cúi đầu bước qua cổng tre.
Khi hắn đi ngang qua điếm tuần, chiếc ống tre bên hông khẽ va vào xương sườn. Bên trong là bản trát ba dấu mộc. Trong đầu hắn lại hiện lên cái tên thứ ba mươi tám trên bia đá: Trần Bá Lập.
Ánh mắt hắn vô tình lướt qua cây gậy tre bịt sắt của gã tuần đinh. Quanh chỗ đầu gậy bọc sắt có một lớp vảy rỉ nhớp nháp bám chặt, trông giống hệt thứ Vương Quang từng thấy trên vành chuông đình.
Hắn không nói gì, bước nhanh theo lão Đỗ.
Trong túi áo ngực của Vương Quang, mảnh gỗ dâu mục cọ vào tờ giấy dập văn bia phát ra tiếng sột soạt khô khốc.
Từ phía gò đất cao hình mai rùa, ngôi đình làng Hạ hiện ra sừng sững giữa màn sương muối xám xịt.
Bất chợt, từ trong đình làng Hạ, một tiếng chuông khàn khàn vọng ra.
Koong... rẹt...
Âm thanh ngắn ngủi, nghẹn đặc vang lên giữa trời mưa phùn rồi tắt lịm.
Lần này, không ai đánh nó.
Thảo luận
Bình luận chương
0 bình luận
Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên bình luận chương này.