Chương 51: Hẻm Độc Đầu
Nhân Gian Có Màn
Mục lục
54 chươngCuộn, vuốt hoặc dùng hai nút để xem thêm Đã tải 54/54 chương
Trời sập tối nhanh như một cánh cửa đá khép lại giữa hai sườn núi.
Rời khỏi gian nhà gỗ của trạm tuần kiểm Thạch Tuyền, ráng đỏ quạch nơi chân trời tây bắc đã bị những chóp đá vôi tai mèo nuốt chửng hoàn toàn. Gió bấc từ hẻm sâu thốc ra, cuốn theo từng đợt bụi đá mịn và mùi khói than nồng nặc tạt thẳng vào mặt.
Quách Hắc Báo đứng tựa lưng vào thanh cọc rào cổng trạm, tẩu thuốc dài kẹp giữa hai ngón tay chai sần, đốm than đỏ le lói trong màn đêm buốt giá:
"Để hai con ngựa lại bến này. Từ đây ngược lên hẻm Độc Đầu tuy chỉ có ba dặm, nhưng đường mòn bám theo vách đá dựng đứng, đá dăm lở lởm chởm, ngựa trạm xuống lạch vỡ móng là ngã gãy cổ ngay. Từ đây phải bỏ ngựa, men đường núi mà đi bộ."
Gã phả một ngụm khói xám đùng đục, liếc nhìn bàn tay phải mang nẹp đồng cứng ngắc của Vương Quang:
"Người trong ấy không phải phường thợ đá quanh đây. Chúng làm việc theo kiểu khác, có người ngoài trông coi. Thầy Ký vào kiểm giấy thì được, nhưng chớ gây chuyện."
Vương Quang không đáp. Hắn khẽ gật đầu, dùng tay trái siết lại quai túi da trâu bên hông, kiểm tra lại vị trí của thanh Thiết Xích Khảo Sát giắt bên đai lưng. Hắn quay sang Chu Bá Cửu:
"Cầm lấy đèn bão. Đi sát sau lưng ta."
Chu Bá Cửu đón lấy chiếc đèn bão bọc da bò bằng cả hai tay, ngọn lửa bên trong chao đảo hắt lên khuôn mặt đầy sẹo đá lở một sắc vàng nhờ nhờ. Gã sợ bến mỏ, sợ đám thợ đá bặm trợn của họ Quách, nhưng đã đi đến bước này thì không thể tự quay đầu lần mò trong đêm. Tấm thẻ bài công môn giắt bên hông viên Ký lục ít nhất cho gã một lý do để tiếp tục bước.
Hai người rời khỏi bãi đá ngã ba Khe Vôi, men theo con đường mòn độc đạo cắt chéo triền đồi đá vôi tiến sâu vào bóng tối.
Đoạn đường ba dặm ngược sông Cốc gập ghềnh hơn dự tính.
Lòng sông co thắt lại thành một hẻm vực sâu hun hút, hai bên vách đá dựng đứng như bị rìu chém, chừa lại một dải nước chảy xiết gầm réo rền rĩ dưới đáy vực sâu chừng mười trượng. Con đường mòn thực chất chỉ là một gờ đá phong hóa hẹp chưa đầy ba gang tay, một bên là vách đá vôi trơn tuột rỉ nước buốt ngắt, một bên là vực thẳm đen ngòm phủ đầy hơi nước lạnh.
Vương Quang bước từng bước thận trọng. Đế ủng da trâu nện lên những phiến đá tai mèo lởm chởm phát ra tiếng lạo xạo khô khốc.
Cánh tay phải tì chặt vào mạng sườn để thanh nẹp đồng đen Chân Thư Bút không va đập vào vách đá. Mỗi lần bàn chân hắn trượt nhẹ trên rêu ẩm, cơ bắp toàn thân lại giật nảy lên, kéo theo một cơn đau nhức buốt từ vết thương ở cổ tay chạy dọc lên bả vai. Vết loét đóng vảy cọ xát vào mép nẹp kim loại lạnh ngắt, khiến hàm răng hắn phải cắn chặt lại.
Hắn khẽ chớp con mắt phải mờ xám.
Trong bóng đêm, con mắt phủ màng đục của hắn căng tức từng hồi. Ở rìa tầm mắt bên phải, những dải hơi màu vàng nhờ nhờ lờ mờ bốc lên từ lòng hẻm vực phía trước — không phải khói củi thông thường, mà là thứ khí nặng, lơ lửng sát mặt đá, mang theo mùi khét nồng của mỡ cháy lẫn tro khô.
Càng đi sâu, mùi khét ấy càng đậm.
"Thầy Ký..." Chu Bá Cửu đi sau bỗng hạ thấp giọng, bàn tay bấu nhẹ vào góc áo chàm của Vương Quang: "Nhìn... nhìn đằng trước kìa thầy..."
Vương Quang dừng bước, nấp sau một khối đá hộc nhô ra bên mép vực.
Hẻm Độc Đầu hiện ra dưới đáy hẻm núi như một cái phễu đá bị vách núi quây kín ba bề.
Lòng sông Cốc khi chảy đến đây thắt lại thành một vụng nước sâu phẳng lặng, đen ngòm. Án ngữ bên bờ vụng, nép sát vào chân vách đá dựng đứng là ba khối kiến trúc hình vòm cuốn lớn đắp bằng gạch xỉ và đất sét nung — cụm Lò Vôi Cổ.
Hai chiếc lò phía ngoài cửa hẻm đã tắt lửa, đen sì và lạnh ngắt như hai ngôi mộ đá hoang phế từ thời tiền triều.
Nhưng chiếc lò nung thứ ba nằm sâu nhất trong hốc đá lại đang đỏ lửa.
Từ cửa cấp gió bên dưới đáy lò, một vầng sáng đỏ rực lên trong đêm tối, hắt những vệt bóng dài ngoằng lên vách núi đá vôi. Trên đỉnh vòm cuốn, từng cuộn khói xám đặc quánh bốc lên, không bay lên cao mà bị luồng gió lạnh ép tụ lại, lờ lờ trôi sát mặt nước vụng sâu.
Xung quanh khu lò được rào bằng những thân gỗ tròn chôn sâu xuống đất, bên trên chăng dây thừng gai bện chặt.
Dưới ánh đuốc cắm ven bờ vụng, bốn chiếc thuyền mũi nhọn bằng gỗ kiền kiền có mui bọc cói nan đang neo đậu sát mép kè đá.
Hơn chục người đàn ông mặc áo chẽn chần bông màu xám tro, ống tay bó gọn đang bốc dỡ hàng hóa. Họ làm việc trong sự lặng lẽ khác thường, không có tiếng hò kéo đá hay tiếng chửi thề quen thuộc của phu bến. Chỉ có tiếng thở dốc nặng nhọc và tiếng đế giày vải nện huỳnh huỵch trên nền đất sỏi.
Vương Quang nheo con mắt trái, quan sát từng chuyển động bên dưới.
Bọn họ không đưa đá hộc vào lò.
Những thứ được khiêng từ trên thuyền xuống là những chiếc bao tải gai màu nâu sẫm, bên ngoài quét một lớp dầu rái bóng nhẫy chống ẩm. Từng bao tải nặng trịch được hai người khiêng bằng đòn tre, chuyển thẳng vào cửa nạp liệu trên sườn lò. Khói thoát ra từ miệng lò mang màu xám chì, mùi khét của mỡ cháy quyện với tro nung bốc lên nồng nặc. Thứ được đưa vào buồng đốt rõ ràng không giống đá dùng để nung vôi thông thường.
Và ở chiều ngược lại, từ một căn lán lợp lá gồi dựng tạm cạnh chân vòm cuốn, từng chiếc thùng gỗ tròn bịt đai sắt được lăn ra mép nước, xếp vào khoang giữa của hai chiếc thuyền rỗng.
Đúng lúc đó, từ trong căn lán lá gồi bước ra hai người.
Một người khoác áo dạ đen dài chấm gót, cổ áo lót lông cáo màu hung đỏ, tay cầm một chiếc thước gập bằng đồng thau. Người còn lại vóc dáng tầm thước, mặc áo dài vạt chéo bằng vải the xanh thẫm, thắt lưng bản rộng giắt một chiếc ống trích công văn bằng bạc và một túi gấm nhỏ.
Kiểu áo ấy không giống trang phục của quan lại địa phương. Ống trích công văn bằng bạc và cách người kia đứng mở sổ đối chiếu kiểm hàng khiến Vương Quang nghĩ đến những viên chức từ nha môn trung ương phái xuống thực địa.
Người mặc áo the xanh đứng trước mép nước lật từng trang sổ bộ. Người mặc áo lông cáo cầm thước đồng chỉ vào từng thùng gỗ tròn đang được bốc lên thuyền, thỉnh thoảng quẹt ngón tay vào mép thùng kiểm tra rồi gật đầu.
"Bọn họ... có cả ống trích bạc..." Chu Bá Cửu nuốt khan một ngụm nước bọt, giọng thì thào: "Hình như là người của nha môn lớn trên tỉnh hay kinh kỳ..."
"Ngồi im đây," Vương Quang hạ giọng dứt khoát, tay trái đè nhẹ vai gã phu trạm: "Giữ chặt chiếc đèn bão, không được để lọt tia sáng nào ra ngoài."
"Thầy Ký định xuống đó?"
"Đi lấy mẫu đối chiếu."
Vương Quang không chần chừ. Hắn cúi thấp người, luồn qua khe nứt giữa hai tảng đá lớn bên mép đường mòn, men theo sườn dốc thoai thoải rậm rạp bụi gai trườn dần xuống đáy hẻm.
Cánh tay phải tì chặt vào bụng, các đầu ngón tay trái bám vào từng gờ đá sắc nhọn để hãm đà trượt. Đất sỏi dưới chân ẩm ướt và lạnh ngắt. Mùi khét xộc vào mũi làm cổ họng ngứa rát, nhưng hắn nén chặt từng nhịp thở, giữ cho bước chân êm tuyệt đối.
Khoảng cách từ chân vách đá đến hàng rào gỗ chỉ còn chừng mười lăm trượng.
Tại vị trí này, góc nhìn mở rộng về phía bãi tập kết phế liệu sau lưng ba chiếc lò.
Một đống phế thải chất cao bên mép nước vụng: hàng chục chiếc bao tải gai rách nát vứt lăn lóc, lẫn trong đó là những đống xương súc vật — đầu lợn, xương sườn trâu bò — đã bị róc thịt, cháy sém và xám xịt.
Gió thổi tạt một góc bao tải rách bên mép nước, làm tràn ra một vệt bột mịn màu xám chì trên bãi sỏi. Khi dòng nước sông Cốc đánh vào mép bãi, thứ bột ấy bị dòng nước cuốn loang thành những vệt đỏ nâu nhờn đục; ở vài chỗ, mặt nước nổi lên những bọt nhỏ rồi tan ngay.
Vương Quang nấp sau một gờ đá tảng cách bãi bao rác chừng ba bước chân.
Hắn thò tay trái vào túi da trâu, rút chiếc hũ gốm rỗng thứ hai ra. Hắn dùng một thanh tre dẹp cẩn thận gạt một lượng bột màu xám chì còn khô ráo trên mép bao tải rách vào lòng hũ, nhét kèm một mảnh giấy nhỏ đã ghi sẵn: Mẫu bột xám — Hẻm Độc Đầu — giờ Tuất 17 Chạp, rồi đậy chặt nút bần lại.
Hắn cất chiếc hũ vào túi da. Màu bột, độ mịn và lớp cặn bám trên miệng hũ khiến hắn nhớ đến thứ tro đã lấy ở Cổ Am. Chúng có những điểm tương đồng đáng ngại, nhưng lúc này hắn chưa có cách nào chứng minh hai mẫu cùng chung một nguồn gốc.
Nhưng ngay khi toan lùi lại, ánh mắt hắn chạm vào một mảnh vải rách vướng trên cọc tre cạnh đống bao tải.
Đó là một dải thẻ niêm phong bằng vải gai thô quét sáp đỏ, loại thường gặp trên những bao tải hàng công môn. Trên dải vải bị cháy sém một góc, dấu triện hình vuông dập bằng mực chu sa vẫn còn nhìn rõ bốn chữ:
Hộ Bộ — Lương Kho.
Và bên dưới dòng triện là hàng chữ nhỏ viết bằng mực nho:
“Vật liệu áp tải luồng thủy — Chi dụng công trình Cổ Am.”
Vương Quang nheo mắt nhìn chăm chú vào dải vải gai.
Dấu triện mang tên Hộ Bộ Lương Kho, ghi rõ việc chi dụng cho công trình Cổ Am. Nếu con dấu này là thật, Lò Vôi Cổ ít nhất từng tiếp nhận một chuyến hàng có nguồn gốc từ kho công. Nhưng số vật liệu ấy được đưa vào đây theo diện nào, ai là người trực tiếp thụ lý, và tại sao một phần lại bị đổ bỏ bừa bãi cùng xương súc vật bên mép sông — hắn chưa thể biết.
Con dấu công môn chỉ chứng minh dòng lưu chuyển của giấy tờ, không đồng nghĩa nha môn trung ương đứng sau những việc làm mờ ám nơi hốc núi này. Giấy tờ có thể bị mượn danh, vật tư có thể bị tráo đổi hoặc chuyển hướng ngoài tầm kiểm soát của cấp trên. Nhưng mối liên hệ văn bản giữa cái tên Cổ Am và khu lò hẻo lánh này đã hiện ra rành rành.
Nếu dòng nước từ khúc sông này thực sự có đường thông ngầm xuôi về hạ lưu, thì Lò Vôi Cổ là đầu mối thực địa đáng để hắn kiểm tra trước tiên.
Rắc!
Một tiếng cành khô gãy vang lên bên sườn dốc phía sau.
Vương Quang giật mình, lập tức nép chặt lưng vào tảng đá hộc.
Từ con đường mòn phía trên, bóng Chu Bá Cửu trượt chân trên sỏi dăm. Chiếc đèn bão bọc da bò trên tay gã va vào một gờ đá nhọn, phát ra một tiếng keng khô khốc giữa màn đêm tĩnh mịch.
"Ai ở trên vách đá?"
Một tiếng quát khô khốc bật lên từ phía bờ vụng nước.
Người mặc áo lông cáo lập tức quay ngoắt lại. Ba tên phu trạm áo xám gần đó buông phắt chiếc đòn tre, rút những thanh đoản đao giắt sau lưng, lao nhanh về phía bờ rào gỗ.
"Có kẻ lén lút bên sườn dốc! Giữ chặt lối mòn lại!"
Ánh đuốc dầu thông bùng lên, soi rọi từng ngóc ngách của vách đá dốc đứng.
Vương Quang siết chặt thanh Thiết Xích Khảo Sát bên hông trái. Hắn còn chưa kịp cất chiếc hũ mẫu vào sâu trong túi thì đã nghe tiếng chân đá sỏi đang áp sát từ phía trên. Con đường lui đã bị chặn. Lần này, hắn không còn cách nào khác ngoài việc để cho người trong hẻm nhìn thấy tấm thẻ Khâm Thiên Giám của mình.
Thảo luận
Bình luận chương
0 bình luận
Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên bình luận chương này.