Nhân Gian Có Màn

Chương 32: Canh Ba Đáo Hạn

Đăng: 13/09/2026 20:12 3,880 từ 5 lượt đọc

Gió bấc luồn qua những khe ván nứt của gian chái trọ, mang theo cái lạnh cắt thịt của cánh đồng chiêm trũng mùa đông.

Gian chái này vốn là chỗ chứa nông cụ hỏng và củi mục của dãy chuồng ngựa công vụ huyện nha, nằm lọt thỏm giữa bức tường đá ong rêu phong và con mương thoát nước thải. Nền đất nện ẩm ướt bốc lên thứ mùi phân ngựa khô quyện với mùi bùn ao thối rữa và lá mục ngâm nước lâu ngày. Trên chiếc chõng tre ọp ẹp kê sát vách đất, đệm rơm rạ rách bươm lún xuống dưới sức nặng của tấm thân gầy trơ xương của Vương Quang.

Hắn ngồi co ro, hai hàm răng nghiến chặt vào nhau phát ra những tiếng cọt kẹt khô khốc.

Trước mặt hắn, trên chiếc hòm gỗ đựng quần áo rách dùng tạm làm bàn viết, một đĩa đèn dầu lạc đang cháy leo lét. Bấc đèn đã lụi mất một nửa, ngọn lửa đỏ quạch chỉ to bằng hạt đỗ, chao đảo điên cuồng mỗi khi gió thốc qua lỗ thủng trên vách đất, hắt cái bóng còng queo của hắn cùng chiếc gá đồng trên cổ tay lên tường thành một vệt đen ngoằn ngoèo, dị dạng.

Vương Quang dùng bàn tay trái run rẩy bưng lấy chiếc bát sành sứt mép. Trong bát là thứ nước muối hạt hòa với nước mưa nguội ngắt, nổi một lớp váng trắng nhờ nhờ.

Hắn hít một hơi sâu, cắn chặt môi dưới, nhúng góc chiếc giẻ rách bằng vải sô vào bát nước muối, rồi chậm rãi áp lên kẽ hai ngón tay bị dập nát ở bàn tay phải.

Xèo...

Một cảm giác buốt rát xộc thẳng từ ngón tay lên tận đỉnh đầu, buốt đến mức làm da đầu hắn tê dại đi trong chớp mắt. Toàn thân Vương Quang giật bắn lên một cái, mồ hôi lạnh túa ra đầm đìa, chảy ròng ròng qua hai bên thái dương, hòa cùng bụi tro bám trên mặt rồi rơi từng giọt buốt giá xuống vạt áo nâu rách bươm. Thịt ở hai đốt ngón tay trỏ và ngón giữa đã chuyển sang màu tím bầm của thịt ươn, mép da toác ra lở loét, rỉ ra một thứ dịch mủ vàng đục dính nhớp nháp vào lớp da trâu lót bên trong thanh gá đồng.

Hai con đinh tán bằng đồng thau ép hai mảnh nẹp kim loại ôm chặt lấy xương cổ tay. Cứ mỗi lần mạch máu đập mạnh, mép đồng lại cấn thẳng vào màng xương, buốt buốt như có ai đang cầm dằm sắt cào chậm rãi vào tủy.

Hắn thở dốc từng cơn nghẹn ngào, thả miếng giẻ rách rơi tõm xuống đáy bát sành. Bàn tay tàn phế buông thõng trên đầu gối, các đốt ngón tay trơ khấc như mấy cọng rễ cây chết úng ngoài bãi sông.

Ánh mắt hắn dời từ vết thương sang mặt chiếc hòm gỗ.

Ở đó, tờ giấy bản dập chữ từ văn bia hậu cung đình làng Hạ đang trải rộng dưới ánh đèn dầu. Những vệt than củi đen xì hằn lên nền giấy trắng thô ráp từng cái tên của những người làng Hạ bị nước cuốn trôi mười năm trước. Ngay bên cạnh tờ dập bia là cuốn sổ địa bạ bãi Cổ Miễu vừa được phục hồi từ tàng thư lầu, mở sẵn ở trang cuối cùng.

Ngón tay trỏ bàn tay trái của Vương Quang đặt lên hàng chữ cuối cùng của tờ giấy bản: Trần Bá Lập.

Cái tên thứ ba mươi tám.

Một suất đinh từng sống ở đất này, từng đóng thuế, từng đi phu, từng có tên khắc trên mặt đá xanh của chốn đình trung, nhưng trong cuốn sổ địa bạ của huyện nha thì hoàn toàn biến mất. Nơi đáng lẽ phải ghi tên hắn chỉ là một khoảng trống xơ xác, thớ giấy dó bị cạo nham nhở bởi một lưỡi dao trổ từ mười năm về trước. Cạo sạch đến mức không để lại lấy một dấu chấm son hay một nét phẩy mực tàu.

Bên cạnh cuốn sổ, mảnh gỗ dâu mục nát mà Cụ Từ cạy ra từ chân ngai Thành Hoàng đang nằm im lìm. Mảnh gỗ dài nửa gang tay, đen sì và xốp xáp như mẩu than củi vớt dưới bùn lên. Mép gỗ sứt sẹo để lộ những đường rãnh khắc chìm của một con dấu công môn cổ đã mòn vẹt. Từ lúc hắn đặt miếng gỗ lên mặt hòm, ngọn lửa của đĩa đèn dầu dường như bị một sức ép vô hình đè nén, ngả dần sang màu xanh xao leo lét.

Vương Quang ngồi nhìn những trang giấy một lúc lâu.

Hắn là người chép mướn. Ba năm qua, công việc của hắn chỉ là nhìn chữ trên bản thảo cũ rồi chép y nguyên sang giấy mới. Thấy chữ rách thì chép chỗ rách, thấy chữ mờ thì đồ lại nét mờ, chưa từng có ai dạy hắn phải làm gì khi một con người bằng xương bằng thịt biến mất giữa hai văn bản.

Nhưng khoảng trống bị cạo trắng trên trang giấy dó kia đang nhìn ngược lại hắn, câm lặng và lạnh lẽo.

Cốc... cốc... cốc...

Từ phía điếm canh đầu đê ngoài huyện lỵ, tiếng mõ cầm canh của tuần phu bắt đầu vọng lại qua màn sương.

Một tiếng đanh gọn. Rồi hai tiếng dồn dập nối theo sau.

Canh ba.

Giờ Tý vừa điểm.

Tiếng mõ canh vừa dứt, toàn bộ không gian xung quanh gian chái trọ bỗng chìm vào một sự im lặng tuyệt đối.

Sự im lặng đến đột ngột như một nhát chém.

Tiếng gió rít qua rặng nhãn ngoài đê bỗng nhiên tắt ngấm. Đàn ngựa công vụ bên kia bức tường đá ong vốn hay cựa mình gõ móng lộc cộc trên sàn gỗ bỗng đứng sững, không một tiếng phì hơi, không một tiếng quẫy đuôi. Ngay cả tiếng dế mèn rỉ rả dưới chân móng tường đất ẩm ướt cũng nghẹn lại trong nháy mắt.

Nhiệt độ trong phòng tụt xuống rất nhanh.

Không khí đặc quánh lại, lạnh buốt như thể toàn bộ gian phòng vừa bị dìm xuống một hố băng dưới đáy sông. Hơi thở phả ra từ miệng Vương Quang ngưng tụ thành những luồng khói trắng đùng đục, lơ lửng rồi chìm dần xuống mặt đất nện.

Trên mặt chiếc hòm gỗ, vũng nước muối trong chiếc bát sành sứt mép bắt đầu kết một lớp váng băng mỏng tang, rạn nứt li ti như mạng nhện. Ngọn lửa của đĩa đèn dầu lạc co rúm lại, chỉ còn bằng hạt tấm, đứng trơ trơ không hề lay động dù gió lạnh vẫn luồn qua khe vách.

Một mùi hương kỳ lạ xộc vào mũi hắn.

Đó là mùi tro giấy tiền vàng bạc bị vùi dưới bùn lầy lâu ngày mang lên hong trước gió bấc. Mùi ẩm mốc của áo quan mục nát trộn lẫn với cái lạnh tanh tưởi của nước đáy sông.

Ba ngày.

Đêm ở bãi Cổ Miễu, khi Vương Quang quỳ trước hố vôi nhìn chiếc tráp Thủy Cốt cựa mình, thời hạn ba ngày đã được định sẵn. Hai bóng áo giấy đứng dưới gốc đa cổ thụ đêm ấy không đến đây để dọa dẫm; họ chỉ đến đúng hạn, như một viên thư lại đến kỳ thu nợ mùa đông.

Vương Quang ngồi bất động trên chõng tre.

Bàn tay trái của hắn từ từ co lại, các đầu ngón tay tì chặt lên mép hòm gỗ mục. Hắn không kêu cứu. Ở cái xó này, tiếng la hét của một tên chép mướn què quặt chỉ đổi lại những cái trở mình chửi thề của đám phu ngựa bên cạnh.

Cánh cửa liếp dán giấy bản rách nát không hề lay động. Không có tiếng kẹt của then cài.

Hai bóng người cứ thế đứng sừng sững ngay bên bậu cửa, như thể họ vốn đã chôn chân ở đó từ rất lâu, chỉ chờ ánh sáng đèn dầu lạc lụi đi để lộ ra hình hài.

Họ cao hơn người thường một cái đầu, thân hình mỏng dính, dẹp lép như những hình nhân cắt bằng giấy bổi dùng trong đám chay. Cả hai đều mặc những bộ áo kết bằng giấy bản trắng toát, mép áo đã ố vàng và rách tơi tả thành từng dải, bám đầy bùn xám khô cứng. Đầu họ đội mũ cánh chuồn đen nhánh bẻ cụp ra phía sau.

Khuôn mặt của họ phẳng lì, trắng bệch như mặt vách quét vôi tôi. Nơi đáng lẽ là đôi mắt chỉ có hai hốc tròn đen ngòm, sâu hoắm, không có con ngươi, cũng chẳng có chút ánh sáng nào phản chiếu.

Kẻ đứng bên tả cầm một xâu thẻ tre chẻ đôi bọc chỉ đen xơ xác.

Kẻ đứng bên hữu cầm một sợi xích sắt ngắn, mỗi mắt xích đều mỏng và dẹt như lá lúa, đầu xích gắn chiếc móc ba ngạnh uốn cong hoen rỉ.

Họ không bước đi. Thân hình bằng giấy của họ trôi là là cách mặt đất nửa tấc, lướt qua lớp đất nện ẩm ướt mà không để lại lấy một hạt bụi xao động. Chỉ có tiếng giấy khô cọ vào nhau loạt xoạt... loạt xoạt nghe ghê răng như tiếng lá chuối khô bị kéo lê trên đường đá.

Họ dừng lại cách chiếc hòm gỗ ba bước chân.

"Vương Quang."

Tiếng gọi cất lên từ khoảng không giữa hai bóng áo giấy. Âm thanh khô khốc, ráo hoác và phẳng lặng như tiếng đá nghiền trên cối xay:

"Cổ Miễu đinh tịch. Canh ba đêm rằm tháng Chạp, trôi sông bãi lở. Khất nợ ba ngày, nay đã đến hạn."

Kẻ đứng bên hữu chậm rãi nâng cánh tay lên.

Những ngón tay bằng giấy trắng bệch, khô quắt khẽ động. Chiếc xích sắt rung lên một tiếng rột roạt lạnh buốt, chiếc móc ba ngạnh rời khỏi tay hắn, phóng thẳng về phía lồng ngực Vương Quang.

Mũi móc không xé gió, không mang theo sát khí cuồn cuộn, nó chỉ bay tới như một chiếc kẹp giấy của quan nha vươn ra để thu hồi một tờ biên lai quá hạn.

Vương Quang muốn lùi lại nhưng cả thân thể hắn cứng đờ như khúc gỗ chôn chân dưới bùn. Hắn trừng trừng nhìn mũi móc sắt lạnh ngắt lao tới, chỉ còn cách lớp vải áo nâu trước ngực chưa đầy nửa gang tay.

Nhưng đúng vào khoảnh khắc ấy, chiếc móc sắt bỗng nhiên khựng lại giữa không trung.

Keng!

Một tiếng va chạm của kim loại vang lên khô khốc, đanh gọn giữa gian phòng tĩnh mịch.

Chiếc móc ba ngạnh đâm phải một lực cản vô hình, chệch sang một bên rồi rơi thõng xuống mặt hòm gỗ, làm đổ nghiêng chiếc nghiên đá cạn mực.

Kẻ cầm xích sắt khẽ nghiêng đầu. Hai hốc mắt đen ngòm của hắn không nhìn vào mặt Vương Quang, mà từ từ hạ thấp xuống, dừng lại ngay trên cổ tay phải của tên chép mướn.

Ở đó, thanh gá bằng đồng đen hình móng ngựa vẫn đang khóa chặt lấy xương cổ tay hắn.

Mặt ngoài của thanh gá, dưới ánh đèn dầu le lói, lộ ra một vết khắc chìm hình đầu chim ưng ngậm thẻ đồng — dấu hiệu kiểm soát hành chính của nha môn phủ đường đóng lên thân thể những kẻ đang chịu án khổ sai chờ ngày đối chất. Tờ lưu chiếu bản bãi Cổ Miễu đêm qua đã được quan áo lục thu hồi vào ống đồng niêm phong, và tên chép mướn mang chiếc cùm này chính là nhân chứng còn sống của một vụ án gian lận công văn chưa được xử lý xong trên sổ sách dương gian.

Bản án của trần gian chưa kết thúc.

Hồ sơ của phủ đường còn chưa đóng.

Vương Quang hiện đang là một vật chứng sống nằm trong quy trình xử lý của nha môn; trên giấy tờ của huyện lỵ, hắn chưa được tuyên bố là đã chết trôi, cũng chưa có trát xóa tịch gửi sang ty Thủy Bộ.

Chiếc móc sắt không thể kéo một cái xác khi giấy tờ trần gian của cái xác ấy vẫn đang bị giữ lại giữa chừng trong một quy trình hành chính dở dang.

Cùng lúc đó, từ sâu dưới nền đất nện ẩm ướt của gian chái trọ, một luồng chấn động trầm đục khẽ truyền tới.

Ục...

Tiếng nước sông va đập vào chân đê xa xa vọng lại, nghe nghẽn đặc và tức tối. Cây cọc sắt dài bốn thước đúc hình chim ưng ngậm thẻ đồng bị quân tuần tiễu nện lút cán xuống gò Mai Rùa đêm qua vẫn đang cắm sâu trong lòng đất. Cọc sắt nặng hàng trăm cân đóng đinh vào doi cát bãi bồi, ép chặt dòng chảy ngầm, làm ranh giới giữa bờ bãi và lòng sông bị cưỡng chế dịch chuyển.

Địa giới đã bị con người dùng sắt phong tỏa.

Con đường dẫn giải theo con nước xuôi về hạ lưu — âm lộ vốn dùng để áp giải những vong hồn trôi sông của bãi Cổ Miễu — lúc này đã bị đứt gãy ngay tại chân cọc sắt.

Hai bóng áo giấy đứng im sừng sững.

Lớp áo giáp giấy trên người họ khẽ rung lên dưới luồng khí lạnh từ lòng đất bốc lên. Kẻ đứng bên tả cúi đầu nhìn xâu thẻ tre trên tay mình, ngón tay khô khốc rút ra một thanh tre bọc chỉ đen đưa sát vào hốc mắt để kiểm tra vết khắc.

Hai bóng người đứng cạnh nhau, nhưng không quay sang nhìn nhau. Giữa họ chỉ có những âm thanh ngắn ngủi, ráo hoác buông rơi:

"Không dẫn được."

"Vì sao?"

"Địa giới đổi. Dương tịch chưa tất."

"Còn hạn?"

"Còn nợ."

"Vậy ghi."

Thanh tre được giắt ngược trở lại vào xâu chỉ đen, phát ra tiếng lách cách khô khốc.

Họ không tức giận. Họ không tiếc nuối.

Với cõi chết, không có chuyện báo thù hay tha bổng, chỉ có sổ sách và thủ tục. Một bản trát câu hồn không khớp với địa giới thực tế thì không thể thi hành; một kẻ còn vướng mắc công văn của trần thế thì chưa thể thu hồi bản phách. Quy trình bị nghẽn thì dừng lại, tuyệt đối không cưỡng đoạt trái quy tắc.

"Lần này không dẫn được."

Giọng nói buông xuống phẳng lặng như một nét bút gạch ngang trên trang giấy cũ.

Kẻ cầm xích sắt từ từ thu sợi xích lại, quấn quanh cánh tay giấy dẹp lép của mình. Nhưng cả hai không quay lưng bước ra bậu cửa.

Kẻ cầm thẻ tre trôi lờ lững tiến thêm một bước, dừng lại sát mép chiếc hòm gỗ. Hai hốc mắt đen ngòm của hắn hạ xuống, nhìn vào những trang giấy đang trải rộng.

Hắn nhìn tờ giấy dập văn bia đình làng Hạ.

Rồi hắn nhìn sang khoảng trắng bị cạo sạch mực trên cuốn địa bạ của huyện nha.

"Ba mươi tám tên trên bia. Ba mươi bảy tên trong sổ."

Thanh âm của kẻ áo giấy vang lên rất khẽ, nhưng đanh gọn như tiếng dao cạo giấy bản:

"Ngươi còn giữ vật lấy từ hậu cung đình Hạ."

Ánh mắt hắn liếc qua mảnh gỗ dâu mục nát nằm bên cạnh đĩa đèn.

Vương Quang ngồi trên chõng tre, lồng ngực phập phồng từng cơn nặng nhọc. Hắn nhìn chăm chú vào hai bóng hình nhân bằng giấy, cố nén cơn run rẩy nơi đầu gối, khẽ cất tiếng hỏi:

"Nợ... nợ mạng thì tính thế nào?"

Kẻ cầm thẻ tre không nhìn hắn, chỉ nhìn vào cái tên Trần Bá Lập trên tờ giấy dập than củi:

"Âm phủ không xóa nợ. Không câu được mạng thì thu công."

"Công gì?" Vương Quang hỏi dồn, giọng khản đặc.

Kẻ cầm thẻ tre chỉ vào khoảng trắng trên cuốn sổ địa bạ:

"Đối sổ."

Hai chữ rơi xuống lạnh ngắt.

Một món nợ không mất đi, nó chỉ chuyển từ hình thức trả bằng mạng sống sang hình thức trả bằng việc làm. Kẻ sống sót nhờ sự sai lệch của hồ sơ thì phải dùng chính đôi mắt và bàn tay của mình để ghi nhận lại những gì đã bị trần gian bôi xóa.

Chưa kịp để Vương Quang hiểu hết hai chữ "đối sổ", kẻ cầm xích sắt bên hữu đột ngột vươn cánh tay khẳng khiu ra phía trước.

Ngón tay trỏ bằng giấy trắng bệch, khô khốc như cọng rơm cháy dở điểm thẳng vào mắt phải của Vương Quang.

Động tác không nhanh, nhưng Vương Quang cảm thấy toàn thân mình bị một luồng khí lạnh đóng chặt vào thành chõng tre, mí mắt không tài nào chớp lại được. Đầu ngón tay giấy ấy chạm nhẹ vào mi mắt phải của hắn.

Xoẹt.

Một cơn đau buốt lạnh xộc thẳng vào hốc mắt.

Đó không phải là cơn đau của da thịt bị rách toạc, mà là cảm giác như có một giọt sương muối buốt giá nhỏ thẳng vào sâu trong con ngươi, thấm qua màng mắt rồi ngấm thẳng vào hộp sọ. Cơn buốt nhức dữ dội làm nửa bên đầu của Vương Quang như bị búa tạ nện trúng, kéo giật từng sợi gân máu sau gáy.

"A...!"

Vương Quang cắn chặt răng nhưng một tiếng rên rỉ nghẹn đặc vẫn trào ra khỏi cuống họng. Hắn gập người lại, ôm chặt lấy nửa bên mặt phải, trán đập mạnh xuống dát tre ọp ẹp.

Từ khóe mắt phải của hắn, một dòng nước mắt lẫn máu mỏng trào ra, nóng hổi rồi nhanh chóng lạnh ngắt, chảy qua kẽ ngón tay của bàn tay trái, nhỏ từng giọt tách... tách xuống mặt tờ giấy dập văn bia.

Hốc mắt hắn nhức nhối như bị kim châm, nửa bên mặt phải tê dại đi như vừa áp vào một tảng băng trôi sông.

"Nợ mạng dời hạn."

Tiếng nói của hai bóng áo giấy vang lên xa dần, mỏng manh như tiếng gió rít qua rặng tre:

"Thấy trát... thì đừng giả mù."

Một luồng gió lạnh quét qua gian chái trọ, cuốn theo đám tàn tro bay lả tả trong không trung.

Đĩa đèn dầu lạc trên mặt hòm gỗ bùng lên một tia sáng đỏ quạch rồi trở lại màu vàng vọt ảm đạm thường ngày.

Lớp váng băng trên chiếc bát sành tan ra thành nước, phát ra tiếng lách tách khe khẽ.

Mùi tro giấy và bùn thối nhạt dần rồi biến mất hoàn toàn. Bên kia bức tường đá ong, tiếng thở phì phì của con ngựa già và tiếng vó gõ lộc cộc trên nền đất lại vọng sang đều đặn.

Hai bóng người áo giấy đã biến mất khỏi bậu cửa, không để lại lấy một dấu vết.

Vương Quang vẫn quỳ rạp trên chõng tre, toàn thân ướt sũng mồ hôi lạnh, run rẩy bần bật. Hắn thở dốc từng hơi ngắt quãng, đưa ống tay áo nâu quẹt đi vệt máu loãng còn vương bên gò má phải.

Cơn đau buốt trong hốc mắt dịu dần, nhưng để lại một cảm giác nặng trịch, căng tức như có một hòn sỏi nhét dưới mi mắt.

Chậm rãi, hắn ngẩng đầu lên.

Vương Quang đưa bàn tay trái lên che chặt lấy con mắt trái lành lặn của mình, rồi thử mở he hé con mắt bên phải.

Mọi thứ trước mắt hắn bỗng trở nên nhòe nhoẹt và biến dạng.

Căn phòng chái trọ qua con mắt phải không còn giữ được những đường nét quen thuộc. Tất cả đều chìm trong một thứ ánh sáng xám xịt, mờ đục như nhìn qua một lớp nước phù sa của sông Đáy mùa lũ.

Hắn nhìn xuống chiếc hòm gỗ.

Trên cổ tay phải của hắn, thanh gá bằng đồng đen hình móng ngựa không chỉ là một khối kim loại vô tri; bám quanh hai con đinh tán là một vệt màu đỏ sẫm, đục ngầu như màu son công môn bị pha lẫn với mủ, bám chặt lấy khớp xương như một cái gông vô hình.

Hắn nhìn sang mảnh gỗ dâu mục nát nhặt từ đình làng Hạ. Quanh mẩu gỗ đen đúa ấy lờ mờ một vùng sáng màu vàng đục, yếu ớt và chập chờn như ánh đèn dầu sắp cạn.

Và khi ánh mắt hắn hạ xuống tờ giấy bản dập văn bia, cái tên Trần Bá Lập bỗng nhiên không nằm yên trên mặt giấy. Dưới con mắt phải đau buốt của hắn, những nét than củi dường như đang khẽ rung rinh, nhấp nhô như một cái bóng người đang chới với giữa dòng nước xiết.

Nhưng khi hắn nhìn sang cuốn sổ địa bạ đặt bên cạnh, chỗ tương ứng với cái tên ấy vẫn chỉ là một khoảng trắng câm lặng, trơ trụi những sợi giấy dó bị cạo rách mép.

Cơn đau lại nhói lên một nhịp dữ dội từ đáy mắt xộc lên màng óc. Mắt phải hắn mờ đi, nước mắt lại ứa ra cay xè.

Vương Quang vội vàng nhắm chặt mắt phải lại, đưa cả bàn tay trái lên ôm chặt lấy nửa bên mặt.

Hắn không hiểu những vệt màu đỏ, màu vàng ấy rốt cuộc là thứ gì. Hắn cũng không biết con mắt này sau này sẽ kéo hắn vào những vụ việc ghê gớm đến mức nào.

Hắn chỉ biết chắc một điều: đêm nay hắn đáng lẽ phải chết dưới mũi móc sắt của cõi âm, nhưng hắn chưa chết. Món nợ mạng ba ngày ở bãi Cổ Miễu vẫn chưa hề được xóa bỏ; nó chỉ vừa được ghi vào một cuốn sổ khác, và từ nay về sau, hắn sẽ phải nhìn thấy những thứ mà một kẻ chép mướn bình thường không bao giờ được phép thấy.

Hắn không còn là người chỉ chép lại những gì người khác đưa cho nữa.

Cốc... cốc... cốc... cốc...

Ngoài điếm canh đê, tiếng mõ của tuần phu lại vang lên đều đặn bốn tiếng dồn dập, khô khốc xé toạc màn sương mù của canh tư.

Trời sắp sáng.

Gió bấc vẫn rít qua khe ván nứt, thổi tung đám tàn nhang trên mặt hòm gỗ bay lơ lửng.

Vương Quang ngồi im lìm trên chiếc chõng tre ọp ẹp. Cánh tay phải mang thanh gá đồng tì chặt lên mép bàn lạnh ngắt, bàn tay trái vẫn che một bên mắt đau buốt.

Hắn không ngủ.

Sáng mai, khi tiếng trống điểm danh của huyện nha vang lên, hắn vẫn phải lết tấm thân tàn phế này quay lại căn phòng bốc mùi dầu lạc để tiếp tục cạo mực, chép sổ.

0
Ủng hộ tác giả Cương Vương Nếu bạn yêu thích tác phẩm, hãy ủng hộ mình ly cafe nhé <3