Nhân Gian Có Màn

Chương 39: Đêm Lạnh Tàng Thư

Đăng: 13/09/2026 20:14 3,556 từ 4 lượt đọc

Hoàng hôn buông xuống huyện lỵ trong màn mưa phùn rây hạt nhạt nhòa, kéo theo mùi khói rơm ẩm quyện với mùi dầu lạc khét lẹt quen thuộc từ những dãy phố buôn ven chợ. Gió đông bắc thổi thốc qua rặng xoan trơ cành bên mép hào nước, làm những vạt rơm rạ mục trôi dạt dồn ứ lại quanh chân cầu ván.

Cỗ xe trạm bốn ngựa kéo dùng chung cho đường công vụ dừng xịch lại trước cổng huyện nha. Bốn con ngựa trạm lông xám mệt mỏi thở phì phò, phả từng luồng hơi trắng đục vào không khí lạnh buốt. Tiếng người phu xe giật dây cương quát khẽ hòa cùng tiếng vành bánh gỗ bọc sắt nghiến lạo xạo trên lớp đá dăm đầu ngõ, phá vỡ bầu không khí tĩnh mịch nặng nề bao trùm khắp nha môn từ đầu giờ chiều.

Cổng huyện hôm nay không còn vẻ ngạo nghễ, quan cách như mọi bận. Hai cánh cổng gỗ lim sơn then nặng trịch chỉ mở hờ một nửa, mấy tên lính lệ bồng giáo đứng gác ở bậu cửa đều khoác áo tơi tơi tả, mặt mày căng thẳng đảo mắt nhìn quanh từng ngõ ngách, thi thoảng lại ghé tai nhau thì thầm to nhỏ.

Trước sân công đường, bốn chiếc thuyền tuần giang mũi nhọn của ty Đốc Vận đã neo chặt dây gai vào cọc bến tự lúc nào. Dưới mái hiên dãy phòng phía tây — tư thất của Đàm Thông phán — hai dải giấy bản điều đỏ thắm dán chéo ngang then cài gỗ nghiến, bên trên đóng đè dấu mộc tròn đỏ chót của Đốc Vận Biền sứ. Hai tên lính giáp nẹp da trâu đứng nghiêm trước cửa, tay lăm lăm đoản đao tuốt trần, tuyệt đối cấm người nhà kẻ hạ bén mảng lại gần. Mùi vôi chết bốc lên từ đống gạch vỡ sau hồi đình làng Hạ dường như vẫn còn vương vấn trên vạt áo của đám tuần giang, biến cả huyện nha thành một tổ kiến vừa bị nhát cuốc bổ trúng tim.

Lão Đỗ từ trên xe trạm trèo xuống trước. Vừa chạm chân xuống đất bùn, lão thư lại già lập tức co rúm hai vai, cúi gằm mặt lủi nhanh qua dãy hành lang tối tăm về phía phòng hộ lại, không dám ngoái đầu nhìn lại nửa bước. Lão sợ cái bóng của Biền sứ Lưu Đôn, sợ dải giấy niêm phong đỏ lòm trên cửa phòng quan lớn Đàm, và hơn hết, lão sợ đứng cạnh kẻ đang bước xuống sau lưng mình.

Vương Quang bước xuống xe.

Đế ủng da trâu nện xuống mặt đá lát sân một tiếng cộp chắc nịch. Hắn đưa tay trái sửa lại vạt áo dài chàm sẫm, cảm nhận tấm thẻ sắt đen Hành Trình Ký Lục cấn nhẹ bên hông sườn.

Mấy tên lính lệ đứng gác ở chân cột hiên thấy có bóng người bước vào, theo thói quen định giơ cán giáo ra quát nạt. Nhưng khi mũi giáo vừa chìa ra nửa chừng, mắt chúng bỗng chạm phải sắc áo chàm lạ lẫm, đôi ủng da mới tinh và tấm thẻ sắt đen tuyền bọc góc đồng xỉn giắt bên thắt lưng. Tên lính đứng đầu nhìn thấy tấm thẻ sắt liền khựng lại; hắn không dám quát tiếp, chỉ lặng lẽ thu cán giáo về, liếc mắt nhìn sang vết sẹo mờ xám nơi hốc mắt phải của Vương Quang rồi nép sang một bên tránh đường.

Vương Quang không đáp, cũng không nhìn đám lính. Hắn chỉ khẽ nghiêng đầu theo phép tắc công môn rồi lẳng lặng rẽ vào lối đi lát gạch nghiêng dẫn xuống tàng thư lầu.

Căn gác chứa hồ sơ nằm lọt thỏm dưới bóng râm của hai cây đa cổ thụ mục rỗng sau công đường. Nơi này quanh năm ẩm ướt, chân tường phủ rêu xanh rì, lớp vôi trát bong tróc từng mảng lớn để lộ những hàng gạch vồ xám ngoét bở bục.

Vương Quang đưa bàn tay trái đẩy cánh cửa liếp bước vào.

Mùi giấy bản ẩm mốc, mùi mực tàu chua loét và mùi bồ kết xông gián xộc thẳng vào cánh mũi. Trên chiếc bàn dài bằng gỗ tạp kê sát góc tường, ba tên chép mướn cùng cảnh ngộ với hắn trước đây đang còng lưng viết dưới ánh sáng tù mù của một ngọn đèn dầu lạc. Tiếng ngòi bút lông cọ sột soạt trên mặt giấy bản là âm thanh duy nhất phá vỡ sự tĩnh mịch ngột ngạt.

Thấy tiếng ủng da bước vào, cả ba người đồng loạt ngẩng đầu lên.

Kẻ ngồi đầu bàn là một gã thư lại họ Lê trạc bốn mươi, lưng còng gập xuống như con tôm luộc, hai ngón tay cầm bút đóng chai vàng ệch. Gã nheo đôi mắt cận thị nhìn bóng người trước mặt, toan buông lời càu nhàu vì gió lùa làm chao ngọn đèn.

Nhưng khi nhận ra khuôn mặt xanh xao của Vương Quang trong bộ áo dài nẹp chỉ đen tươm tất, cây bút lông trên tay gã họ Lê bỗng khựng lại giữa không trung. Một giọt mực đen đặc tích tụ nơi đầu ngọn lông rơi tõm xuống góc trang giấy trắng, loang ra thành một vệt tròn xấu xí.

"Chú... Chú Quang đấy à?" Gã họ Lê cất giọng khàn đặc, ngập ngừng buông bút: "Nghe đồn ngoài bãi đê vỡ móng... Lão Đỗ bị quân tuần giang giữ lại... Sao chú lại ăn mặc thế này?"

Ánh mắt gã trượt từ cổ áo chàm sạch sẽ xuống đến đôi ủng da trâu ôm sát bắp chân, rồi dừng lại trừng trừng nơi tấm thẻ sắt đen bên hông Vương Quang.

Hai tên chép mướn trẻ tuổi ngồi cạnh cũng vô thức nín thở, vội vã thu tay lại dưới mặt bàn. Bọn họ là những kẻ cùng đinh sống bằng nghề bán chữ mướn cho nha môn, cả đời chỉ thấy thẻ bài bằng gỗ thị của sai dịch hay thẻ đồng của nha lại cấp phủ. Tấm thẻ sắt đen tuyền bọc góc đồng xỉn với dấu triện mây cuộn kia là thứ bọn họ chưa từng thấy bao giờ, nhưng chất kim loại lạnh lẽo và bốn chữ Hành Trình Ký Lục khắc chìm trên đó tỏa ra một thứ uy quyền công môn thượng tầng mà những kẻ ngồi mòn đũng quần nơi xó gác huyện không bao giờ dám chạm tay vào.

Vương Quang nhìn lướt qua chiếc bàn dài.

Chỗ ngồi quen thuộc của hắn suốt ba năm qua ở góc bàn phía trong nay đã bị dọn sạch. Một chồng sổ đinh đóng dở bằng chỉ gai thô nằm chỏng chơ ở đó, bên trên là một trang giấy mới chép được nửa chừng bằng nét chữ run rẩy, vụng về của một tên chép mướn mới được gọi vào thay chân hắn. Trên tờ danh sách điểm chỉ lĩnh tiền công gạo tháng này dán ở thân cột cái, cái tên Vương Quang đã bị một nét mực đỏ gạch chéo dứt khoát.

Ba năm cặm cụi bán chữ kiếm từng bát cháo hoa ở tàng thư lầu, chỉ sau một buổi sáng lội bùn bãi Cổ Miễu, dấu vết của hắn ở chốn này đã bị xóa sạch như một vệt phấn trên bảng đá. Chốn công môn là như vậy: kẻ dưới đáy biến mất thì lập tức có người khác trám vào, chẳng ai bận tâm một tên chép thuê què quặt sống chết ra sao nơi dòng nước xiết.

"Tôi về lấy ít đồ cũ," Vương Quang cất giọng bình thản, không cao không thấp.

Hắn không giải thích, cũng không bước lại gần bàn viết. Hắn đi thẳng về góc gác xép tăm tối nhất — nơi kê một chiếc chõng tre ọp ẹp trải manh chiếu rách, chỗ hắn vẫn ngả lưng suốt ba năm qua sau những đêm thức trắng chép sổ sách cho huyện nha.

Hắn ngồi xuống mép chõng tre, cẩn thận tháo dải vải thô quấn cổ tay phải ra.

Dưới ánh sáng vàng vọt hắt qua khe liếp, thanh gá bằng đồng đen hình móng ngựa cấn chặt vào cổ tay hắn dần lộ ra. Miệng vết loét ở chỗ da thịt tiếp giáp với kim loại vẫn rỉ ra thứ dịch đỏ nhờ nhờ, tanh nồng. Con mắt phải của hắn giật thót từng hồi buốt nhói; hắn khép hờ mi mắt lại, nén nhịp thở chờ cơn đau chạy dọc lên thái dương lắng dần xuống. Thương tật mới xảy ra chưa đầy hai ngày, thân thể này vẫn là một gánh nặng lạ lẫm mà hắn đang phải cắn răng học cách chịu đựng từng canh giờ.

Hắn đưa bàn tay trái mở nắp chiếc lọ gốm nhỏ mà kẻ áo đen đưa cho ngoài bờ giếng đình Hạ. Mùi mỡ lợn trộn bột lưu huỳnh cay nồng lập tức xộc thẳng lên mũi.

Vương Quang quẹt một ngón tay mỡ, nghiến chặt răng bôi đều lên miệng vết thương đang mưng mủ quanh thanh nẹp đồng.

Cơn đau buốt rát thấu tận tủy xông thẳng lên đỉnh đầu, khiến toàn thân hắn co giật nhẹ một cái, mồ hôi lạnh túa ra ướt đẫm trán. Nhưng chỉ vài nhịp thở sau, cảm giác ngứa ngáy nhức nhối như giòi bò dưới lớp biểu bì bỗng dịu hẳn đi. Thứ mỡ lưu huỳnh lạnh ngắt ngấm sâu vào thớ thịt, phong bế miệng vết loét, để lại một cảm giác tê dại cứng đờ.

Vương Quang cẩn thận lấy dải vải chàm mới quấn lại cổ tay. Động tác của hắn vẫn còn rất vụng; mỗi lần gập ngón tay, hắn lại phải lựa một góc nghiêng nhất định để thanh gá kim loại không cọ mạnh vào vết thương chưa khô miệng.

Ngồi trên mép chõng tre, nhìn vào khoảng tối mịt mùng dưới gầm sàn, lồng ngực Vương Quang bỗng thắt lại.

Hắn nhớ tới lời hẹn.

Lời hứa ba ngày với âm sai cõi dưới.

Đêm mưa gió bão bùng ở ngôi miếu hoang bến sông cách đây hai hôm, khi hắn vô tình chạm tay vào khế ước cõi chết, bàn tay phải bị phế nát và con mắt phải bị uế khí xâm lấn, hắn đã phải đối mặt với bóng đen mang xích sắt bước ra từ lòng sông Đáy. Để giữ lại hơi thở mỏng manh, hắn đã lập một giao ước đổi mạng: hạn định đúng ba ngày ba đêm. Hôm nay đã là chiều muộn ngày thứ hai.

Chỉ còn đúng một đêm nay và ngày mai nữa là chạm mốc hạn kỳ.

Âm sai cõi dưới không cần biết hắn là tên chép mướn cùng đinh hay là Ký lục mang thẻ sắt của Khâm Thiên Giám. Đến giờ Dần ngày mười sáu tháng Chạp, nếu hắn không giao nộp đúng thứ đã cam kết trong khế ước, hoặc không tìm ra một danh phận thế mạng hợp lệ theo luật cõi âm, sợi xích sắt câu hồn lạnh ngắt kia sẽ móc thẳng vào cổ họng hắn lôi xuống đáy bùn lầy sông Đáy.

Hai tầng khế ước đang siết chặt lấy cổ hắn như hai sợi thòng lọng đan chéo.

Một bên là hoàng quyền trần gian với chiếc vòng kim cô mang tên Hành Trình Ký Lục, sẵn sàng dùng đinh sắt đóng qua cổ họng nếu hắn làm lộ cơ mật.

Một bên là quật lệnh cõi chết đang đếm ngược từng khắc sinh tử, chỉ còn chưa đầy ba mươi sáu canh giờ.

Vương Quang thở hắt ra một hơi dài, kéo tay áo xuống che kín thanh nẹp đồng. Hắn cúi người lôi từ gầm chõng ra một chiếc bọc vải thô cũ kỹ bám đầy bụi tro.

Bên trong chẳng có gì đáng giá: một chiếc ống tre đựng ba ngòi bút lông cùn vẹt đầu, một thỏi mực nho rẻ tiền đã mòn quá nửa, một cuộn chỉ gai và mảnh đá mài nhỏ hắn vẫn dùng để gọt dao rọc giấy bản.

Hắn gom tất cả lại, nhét gọn vào chiếc túi da trâu đeo bên sườn. Bàn tay trái vô thức chạm vào lồng ngực. Mảnh gỗ dâu mục nát nằm im lìm dưới lớp vải áo dày, cứng cáp và lạnh lẽo như một thanh xương sườn thừa.

"Vương Ký lục có ở trong này không?"

Một tiếng gọi đanh gọn, mang khẩu âm vùng kinh lộ bỗng vang lên từ chân cầu thang gác tàng thư, cắt đứt dòng suy nghĩ của hắn.

Ba tên chép mướn giật thót mình, vội vàng buông bút đứng dậy nép sát vào vách tường gạch vồ.

Một viên trạm tốt mặc áo chẽn nẹp đồng, chân quấn xà cạp da trâu gọn gàng, đầu đội nón dấu sơn then sải bước lên bậc thang gỗ. Trên lưng gã đeo một chiếc ống trích bằng da bò bịt đồng sáng loáng, tay cầm một phong bì bằng giấy bản dày dán kín mép bằng sáp đen đặc. Đi sau viên trạm tốt là một phu dịch ôm theo một chiếc hộp gỗ đào dài chừng hai gang tay.

Viên trạm tốt bước thẳng tới trước mặt Vương Quang. Đôi mắt sắc lẹm của người này nhìn lướt qua khuôn mặt xanh xao của hắn, dừng lại ở tấm thẻ sắt bên hông rồi cất giọng lạnh nhạt theo đúng quy chuẩn công môn:

"Vương Ký lục, xuất trình bài lệnh."

Vương Quang tháo tấm thẻ bài sắt đen bên thắt lưng đưa ra. Viên trạm tốt đón lấy, đưa ngón tay cái miết mạnh lên dấu triện tròn hình mây cuộn bọc đồng xỉn ở góc dưới, kiểm tra từng đường rãnh khắc tỉ mỉ rồi đối chiếu với một tờ danh sách nhỏ kẹp bên hông ống trích. Xác nhận đúng ấn ký độc môn và vết tật ở mắt phải của đương sự, gã mới hai tay trao trả lại thẻ sắt cho Vương Quang:

"Xác nhận danh phận Ngoại ngạch Ký lục. Có công văn hỏa tốc của Ty Khảo Sát thuộc ngạch Hành Trình, chuyển từ trạm dịch Thượng Lưu xuống."

Dứt lời, viên trạm tốt trao phong thư sáp đen cho Vương Quang, đồng thời ra hiệu cho tên phu dịch đặt chiếc hộp gỗ đào lên mặt chõng tre:

"Theo quy thức bổ nhiệm ngoại ngạch của Ty Khảo Sát, cấp phát thêm cho Vương Ký lục một cuốn Hành Trình Yếu Lược ghi chép điều luật công môn và cách thức lập biên bản hiện trường; một thanh Thiết Xích Khảo Sát bằng thép nguội dùng để cạy rãnh đá kiêm phòng thân; một bộ Châm Bàn Thủy Chuẩn cỡ nhỏ để đo dòng chảy. Ký nhận vào sổ trạm."

Vương Quang mở nắp hộp gỗ đào. Bên trong lót một lớp vải dạ thô, đặt ngay ngắn một thanh dùi sắt ngắn chừng một thước hai tấc, đầu vát nhọn, chuôi quấn dây gai chống trượt; cạnh đó là chiếc đĩa la bàn nhỏ bằng đồng thau và một cuốn sách bìa bọc da cừu đen mỏng, mép giấy ép sáp chống nước.

Đây chính là công cụ và quy thức mà một Ký lục đại diện cho triều đình bắt buộc phải nắm giữ: không chỉ có bút mực giấy bản, mà còn có luật lệ để trói tay quan lại bản địa, công cụ để đo đạc đất đai, và một thanh thép nguội để tự vệ khi bước vào những vùng đất dữ. Hắn cầm bút lông ký tên mình vào cuốn sổ da trâu của trạm dịch.

Viên trạm tốt thu lại sổ, khoanh tay trước ngực đứng nghiêm tại chỗ, cất giọng nhắc nhở:

"Quy trình mật: kiểm tra dấu niêm phong và tiếp nhận công vụ tại chỗ."

Vương Quang đứng bên mép chõng tre, dùng móng tay cái cạy nhẹ lớp sáp niêm phong màu đen đặc. Lớp sáp bở ra dưới ngón tay, để lộ tờ công lệnh viết trên giấy bản dày màu ngà xỉn. Trên đầu tờ giấy đóng dấu triện đỏ hình mây cuộn của Ty Khảo Sát.

Dưới dấu triện, những dòng chữ thảo viết bằng thứ mực đen nhánh không phai hiện ra rõ ràng: Lệnh Hành Trình — Hiệp số 04. Đương sự: Vương Quang — Ngoại ngạch Ký lục. Địa hạt vụ việc: Thượng nguồn sông Đáy, ngã ba Cổ Am. Hiện trạng báo về: Mực nước cạn ba thước trong một đêm, đáy sông lộ nhiều cọc gỗ mục nghi có niên đại từ thời Lý, xác súc vật trôi dạt chậm phân hủy bất thường. Hạn trình diện: Giờ Dần, ngày mười sáu tháng Chạp tại Trạm Dịch Cổ Am. Quy định bảo mật: Đọc xong, đương sự hủy bản lệnh tại chỗ.

Ngón tay Vương Quang siết chặt lấy mép giấy bản.

Giờ Dần, ngày mười sáu tháng Chạp.

Đó chính là thời khắc tròn ba ngày ba đêm kể từ khi hắn ký vào khế ước cõi chết ở ngôi miếu bến sông.

Hạn trình diện của Khâm Thiên Giám và hạn đòi mạng của âm sai cõi dưới trùng khớp vào nhau đến rợn người, cùng hội tụ về một điểm: ngã ba Cổ Am.

Nơi đó cách bãi bồi làng Hạ hơn bốn mươi dặm đường sông ngược về phía tây bắc, vùng đất giáp ranh hiểm trở giữa đồng bằng phù sa và những dãy núi đá vôi tai mèo dựng đứng. Nước cạn ba thước trong một đêm, cọc gỗ mục nghi thời Lý lộ ra, xác vật chết chậm phân hủy... Đó không còn là một vụ tranh chấp đất đai hay cạo sửa sổ đinh tầm thường của lũ quan hào xó huyện. Một cấu trúc phong cương cổ xưa đang rạn nứt trên thượng nguồn, và hắn bị đẩy thẳng vào tâm điểm của vết nứt ấy.

Viên trạm tốt đứng đối diện khẽ ho một tiếng nhắc nhở:

"Vương Ký lục, quy tắc bảo mật."

Vương Quang bừng tỉnh khỏi dòng suy tính. Hắn bước lại gần ngọn đèn dầu lạc trên bàn chép mướn, đưa góc tờ công lệnh vào ngọn lửa le lói.

Lửa bén vào mép giấy bản, bùng lên một đốm sáng vàng cam rực rỡ rồi nhanh chóng thiêu rụi từng dòng chữ thảo đen nhánh. Những chữ Lệnh Hành Trình, Cổ Am, Giờ Dần cong queo lại, biến thành một nhúm tro tàn đen thẫm rơi lả tả xuống nền đất nện ẩm ướt.

Viên trạm tốt nhìn đống tro tàn đã tắt hẳn, khẽ chắp tay nghiêng mình theo đúng nghi thức:

"Đã hoàn tất quy trình bàn giao mật lệnh. Ngựa trạm công vụ đang đợi thầy Ký ở bến ngoài thành. Xin cáo từ."

Dứt lời, viên trạm tốt cùng người phu dịch xoay người bước nhanh xuống cầu thang gác tàng thư, tiếng ủng sắt nện trên bậc gỗ dội lại từng nhịp khô khốc rồi chìm hẳn vào tiếng mưa phùn ngoài sân.

Căn gác xép tàng thư lầu lại rơi vào sự im lặng ngột ngạt.

Ba người chép thuê cũ vẫn đứng nép bên góc tường, nhìn đống tro tàn đen nhánh dưới chân Vương Quang rồi nhìn lên khuôn mặt lạnh ngắt của hắn bằng ánh mắt run rẩy, e dè như nhìn một kẻ không còn thuộc về thế giới trần tục này nữa.

Vương Quang cài thanh Thiết Xích Khảo Sát vào thắt lưng da bên sườn trái, nhét cuốn Hành Trình Yếu Lược và đĩa châm bàn vào túi da trâu, rồi chỉnh lại chiếc nẹp đồng trên cổ tay phải. Bàn tay phải của hắn không cầm được đao kiếm nặng, nhưng thanh nẹp đồng đen trên cẳng tay có thể dùng làm mộc che chắn đòn hiểm, còn tay trái của hắn sẽ phải học cách cầm chắc thanh dùi thép này để sinh tồn. Hắn không còn là tên chép mướn chỉ biết cúi đầu chịu nhục; chiếc áo chàm này đại diện cho hoàng quyền, và hắn phải tự giữ lấy mạng mình trước khi trông cậy vào triều đình hay cõi âm.

Hắn dừng lại nửa nhịp, đưa mắt nhìn quanh căn gác tàng thư một lần cuối cùng: nhìn chiếc bàn gỗ tạp với đĩa đèn dầu lạc khét lẹt, nhìn chồng sổ đinh dang dở mang nét chữ của người khác, và nhìn chiếc chõng tre thấp bé ọp ẹp nơi mình đã nằm co ro suốt ba năm qua.

Từ đêm nay, chiếc chõng tre này sẽ có một kẻ chép mướn cùng đinh khác đến ngả lưng. Còn chỗ ngủ của hắn sẽ là những trạm dịch dọc đường thiên lý gập ghềnh, những góc miếu hoang rỉ máu, và những bãi bồi sụt lở chưa biết ngày về.

Hắn không nói gì thêm với ba người bạn cũ. Vương Quang khẽ kéo thấp vành nón che khuất nửa khuôn mặt mang hốc mắt phải mờ xám, bước qua bậu cửa liếp, đi thẳng vào màn mưa đêm mịt mùng buốt giá của huyện lỵ.

0
Ủng hộ tác giả Cương Vương Nếu bạn yêu thích tác phẩm, hãy ủng hộ mình ly cafe nhé <3