Quyển 2: Giáo
Chương 17: Người Giữ Giáo
Bách Việt Hùng Đồ
Mục lục
48 chươngCuộn, vuốt hoặc dùng hai nút để xem thêm Đã tải 48/48 chương
Sáng hôm sau, khi Nam Kha ra sân tập lúc trời vừa hửng đông, vị phó tướng đã ở đó rồi.
Ông ta ngồi ở bậc đá trước lán binh lính ấp Dĩnh, lưng thẳng, chân xếp bằng, hai tay đặt cây giáo dài ngang đùi. Tay phải ông cầm một hòn đá mài nhỏ vuốt dọc lưỡi giáo đều và chậm. Mỗi nhát vuốt phát ra một tiếng rít khẽ mà Nam Kha nghe rõ trong buổi sáng yên tĩnh. Tiếng kim loại cọ đá mỏng và sắc, kiểu tiếng mà nếu nghe một lần thì quên nhưng nếu nghe mỗi sáng thì thành nhịp, thành thói quen, thành một phần của ngày. Nó y như tiếng trường mâu của Dĩnh Khảo Thúc quét gió mỗi sáng ở sân phía sau lán tướng.
Nam Kha dừng lại nhìn, đứng cách ông ta chừng mười bước.
Ông ta không ngẩng lên, không chào. Nam Kha chắc chắn ông ta biết có người đứng đó, nhưng giáo chưa xong thì thế giới chờ được.
Hòn đá mài vuốt thêm năm nhát, sáu nhát, bảy nhát, rồi ông ta giơ lưỡi giáo lên ngang mắt, nhìn nghiêng, kiểu thợ rèn kiểm tra sản phẩm. Sau đó ông gật đầu nhẹ biểu thị hài lòng rồi đặt hòn đá xuống bậc đá và đứng dậy. Lúc này ông ta mới nhìn Nam Kha và nhìn bằng đôi mắt mà Nam Kha đã thấy chiều qua nhưng giờ dưới ánh sáng sớm thì rõ hơn. Đôi mắt đó hẹp và sâu, không lạnh mà trống, kiểu mắt của người đã nhìn quá nhiều thứ nên không còn thứ nào khiến ông ta phải mở mắt to hơn bình thường.
"Ngươi dậy sớm."
Phó tướng nói bằng giọng phẳng, không khen không chê, chỉ ghi nhận.
"Ông dậy sớm hơn."
Nam Kha đáp.
Ông ta không đáp câu đó mà quay đi, bước về phía khu lính ấp Dĩnh. Nam Kha hiểu rằng cuộc trò chuyện đã kết thúc, không phải vì ông ta ghét mà vì ông ta đã nói đủ. "Đủ" của ông ta, Nam Kha sẽ phải học cách đo vì nó ngắn hơn "đủ" của bất cứ ai anh từng gặp, kể cả Đăng.
Ba trăm binh lính ấp Dĩnh tập hợp ở sân phía đông doanh trại lúc mặt trời vừa lên khỏi rặng cây.
Nam Kha đứng ở rìa sân, nhóm Việt đứng sau anh gồm hai mươi ba người. Anh nhìn ba trăm lính ấy xếp hàng mà cảm giác giống hệt lần đầu tiên anh bước vào doanh trại Dĩnh Khảo Thúc. Cái cảm giác nhìn thấy thứ mình đã đọc trong sách bỗng sống dậy trước mắt, nhưng lần này nặng hơn vì ba trăm lính này không phải lính bình thường.
Họ đứng im, lưng thẳng và đều, không ai nhúc nhích, không ai nói gì. Cái im ấy không phải im vì sợ mà im vì quen, cơ thể đã nhớ thay bộ não, nhớ từ bao nhiêu năm tập và đánh cùng nhau. Giáp họ mặc không mới nhưng sạch, mỗi miếng đồng được đánh bóng, mỗi dây buộc được siết chặt. Vũ khí họ cầm trên tay không run, không lệch, giáo dựng thẳng như cột, khiên áp sát hông, tất cả đều ở đúng vị trí mà không ai phải chỉnh.
Phó tướng đứng trước ba trăm người, không nói, chỉ nhìn quét một lượt từ trái sang phải, rồi gật đầu. Ba trăm người cùng bước cùng lúc, tiếng bước chân dội trên mặt đất nện như một tiếng trống lớn. Rồi họ dừng cùng lúc, rồi xoay cùng lúc. Nam Kha đứng đó mà lạnh sống lưng, không phải vì sợ mà vì lần đầu tiên anh hiểu sự khác biệt giữa nhóm người biết đánh và quân đội.
Nhóm Việt biết đánh. Họ giỏi rừng, giỏi phục kích, giỏi trinh sát, mỗi người là một chiến binh cá nhân xuất sắc. Nhưng đặt cạnh ba trăm lính ấp Dĩnh thì rõ ràng như ban ngày ban mặt: họ là hai mươi ba ngón tay rời nhau, còn ba trăm lính kia là một nắm đấm.
Anh nhìn sang Đăng đang đứng cạnh anh với rìu trên vai, mắt cũng đang nhìn ba trăm lính tập. Trong mắt Đăng, lần đầu tiên Nam Kha thấy một thứ gì đó lạ. Không phải nể phục, Đăng không dễ nể ai. Mà đó là một sự chú ý rất sắc, kiểu chú ý của người đang xem một thứ mình chưa biết và muốn biết. Nam Kha nghĩ rằng Đăng đang nhìn binh lính ấp Dĩnh bước đều mà lần đầu tiên hiểu "đánh mạnh" khác "đánh đúng". Nó giống cách Đăng nhìn Dĩnh Khảo Thúc luyện mâu hồi ở sân tập mà lần đầu thấy "đánh đúng" khác "đánh mạnh".
Phó tướng quay sang nhìn nhóm Việt một lúc lâu, ánh mắt đi từng người một, dừng ở Đăng lâu nhất, lâu hơn cả nhìn Nam Kha. Rồi ông ta nói ngắn:
"Đi."
Không giải thích đi đâu, không bàn kế hoạch, chỉ một chữ đi. Ba trăm lính quay đầu bước và nhóm Việt chạy theo.
Chuyến chinh phạt đầu tiên cùng ba trăm lính ấp Dĩnh đánh ấp biên giới nước Vệ, phía tây bắc Trịnh.
Trên đường đi, Nam Kha lần đầu thấy quân đội di chuyển thật sự. Không phải kiểu nhóm Việt đi rừng, mỗi người một kiểu, len lỏi và lặng lẽ. Ba trăm lính đi trên đường lớn, đi giữa ban ngày, không giấu, không trốn. Họ bước đều, hàng thẳng, tiền quân cách hậu quân đúng khoảng cách mà không ai phải đo, xe hậu cần theo sau. Lương thực chia đều, nước uống chia đều, nghỉ theo hiệu lệnh, đi theo hiệu lệnh, mùi mồ hôi cũ trộn mùi đồng giáp và mùi da thuộc bốc lên từ cả đoàn người tạo thành một thứ mùi riêng mà Nam Kha chưa ngửi thấy ở đâu ngoài quân đội. Cái mùi nặng và hăng, nhưng quen dần thì lại thấy yên tâm vì nó có nghĩa là đang đi cùng người và cả đoàn quân chuyển động như một cơ thể sống có nhịp tim riêng.
Phó tướng đi ở đầu đoàn, giáo trên vai, không quay lại kiểm tra vì không cần. Ba trăm người phía sau đã đi cùng ông ta đủ lâu, nếu có gì sai thì tiếng bước chân sẽ thay đổi. Ông ta nghe bước chân như nghe nhạc, sai một nốt là biết.
Nhóm Việt đi cánh phải, trinh sát hai bên đường. Lĩnh đi cạnh Nam Kha, cậu im lặng một lúc rồi hỏi nhỏ bằng tiếng Lạc Việt cổ, mắt vẫn nhìn thẳng:
"Lính của ông ấy, anh tin được không?"
"Lính của Khảo Thúc."
Nam Kha đáp.
"Tin được."
Lĩnh gật đầu không hỏi thêm, nhưng vai cậu thả nhẹ hơn một chút so với lúc xuất phát. Nam Kha nhận ra rằng Lĩnh không hỏi vì nghi ngờ, cậu hỏi vì cần nghe Nam Kha nói "tin được" để cậu cho phép mình bớt gồng. Vì gồng suốt thì mỏi và Lĩnh đã gồng từ ngày đầu gặp nhóm người lạ này.
A Phúc chạy phía trước, khuất trong bụi rậm rồi hiện ra. Mỗi lần cậu quay về báo "đường sạch" thì lính ấp Dĩnh gần nhất gật đầu mà không nói gì. Vì lính của phó tướng cũng ít nói y như ông ta, cả đoàn quân ba trăm người mà yên lặng đến mức Nam Kha có lúc quên mất phía sau mình có ba trăm người đang bước.
Đêm đầu tiên dừng chân, Nam Kha ngồi bên lửa nhóm Việt, nhìn sang phía lửa lính ấp Dĩnh. Anh thấy phó tướng ngồi đó một mình, xa đám lính. Ông ta lại đang mài giáo, hòn đá vuốt dọc lưỡi giáo trong ánh lửa, tiếng rít khẽ lẫn vào tiếng củi cháy. Anh hiểu rằng ông ta mài giáo mỗi sáng là thật, không phải lúc ở doanh trại mới mài. Đi đánh trận cũng mài, trời mưa cũng mài, dù lưỡi giáo đã sắc đến mức có lẽ cắt được cả gió thì ông ta vẫn mài. Vì mài giáo không phải để giáo sắc mà để giữ mình, giữ cái nhịp mà ông ta cần để biết mình vẫn là mình.
Nam Kha đứng dậy, bước qua khoảng tối giữa hai đống lửa đến chỗ ông ta. Ông ta không ngẩng lên mà vẫn mài, nhưng khi Nam Kha ngồi xuống cách ông ta một sải tay thì ông ta không xua đi, cũng không mời. Ông chỉ để Nam Kha ngồi như để một hòn đá ngồi cạnh một hòn đá khác, không quan hệ gì nhưng cũng không phiền.
"Ông mài giáo sáng nào cũng vậy?"
Nam Kha hỏi, dù anh đã biết câu trả lời. Nhưng anh muốn nghe ông ta nói, vì ông ta nói quá ít, và mỗi câu ông ta nói đều có trọng lượng mà Nam Kha muốn cân.
Ông ta im lặng một lúc, mài thêm hai nhát, rồi nói. Giọng vẫn phẳng nhưng câu này dài hơn mọi câu Kha đã nghe ông ta nói, dài đến mức gần như là một bài diễn văn theo tiêu chuẩn của ông:
"Chủ tướng tập mâu mỗi sáng. Ta mài giáo. Ai cũng có cách giữ mình."
Nam Kha im lặng nghe câu ấy lắng xuống và anh hiểu rằng ông ta không phải phiên bản khác của Dĩnh Khảo Thúc. Ông ta là người bên cạnh Dĩnh Khảo Thúc, người giữ mình bằng cách khác nhưng gốc thì cùng, gốc ấy là hai mươi năm đi cùng một người, ăn cùng bếp, ngủ cùng trại, đánh cùng trận, cho đến khi cách sống của người ấy ngấm vào mình lúc nào không hay. Ông ta mài giáo mỗi sáng vì Dĩnh Khảo Thúc tập mâu mỗi sáng, không phải bắt chước mà là song hành, hai đường song song chạy cạnh nhau suốt hai mươi năm.
Anh nhìn hòn đá mài trong tay ông ta nhỏ tròn, mòn nhẵn ở giữa vì đã mài quá nhiều giáo. Lúc này anh nghĩ đến bà ngoại ở nhà, bà cũng có một hòn đá mài dao trong bếp, mòn vẹt ở giữa, bà cũng mài dao mỗi sáng trước khi nấu cơm suốt bao nhiêu năm. Mỗi lần về ngoại, tiếng dao mài trên đá là thứ Nam Kha nghe trước cả tiếng bà gọi dậy ăn sáng, tiếng ấy nghĩa là bếp đã sáng, cơm sắp có, bà vẫn ở đó. Anh nhìn hòn đá trong tay ông ta mà cổ họng bỗng nghẹn, không phải vì ông ta mà vì bà, vì hòn đá mài, vì cái thói quen nhỏ mà ba nghìn năm không thay đổi được. Người ta vẫn mài, vẫn giữ, vẫn lặp lại một việc mỗi sáng để biết mình vẫn còn đây.
Ông ta nhìn Nam Kha, có lẽ thấy gì đó trên mặt Nam Kha mà ông ta không hỏi, vì ông ta là kiểu người không hỏi chuyện của người khác. Rồi ông ta quay lại mài và hai người ngồi đó, im lặng bên lửa nghe giáo mài trên đá.
Rồi Nam Kha hỏi vì anh đã định hỏi từ sáng mà chưa hỏi được.
"Tôi vẫn chưa biết tên ông."
Hòn đá dừng lại giữa chừng. Ông ta không ngẩng lên.
"Dĩnh Quốc."
"Ông cũng họ Dĩnh?"
"Không."
Hòn đá mài tiếp, đều như cũ, không nhanh hơn không chậm hơn.
"Chủ tướng nhặt ta ở ngoài hàng rào ấp Dĩnh. Ta lấy tên đất."
Ông mài ba nhát nữa.
"Tên cũ không ai gọi nữa."
Nam Kha ngồi im. Anh nghĩ rằng suốt một ngày qua, người này chỉ là ông ta. Anh cũng nghĩ rằng ở phía bên kia đống lửa có ba trăm người cũng gần như không gọi tên ông bao giờ. Họ gọi ông bằng thứ khác, bằng cách ngồi thẳng lưng lên khi ông đi ngang và cái đó cũng là một cái tên.
Trận đánh ở ấp biên Vệ ngắn. Quân Vệ giữ ấp chỉ chừng tám mươi người, phân nửa là dân binh cầm giáo gỗ và khi ba trăm lính ấp Dĩnh dàn đội hình trước ấp thì Nam Kha lần đầu tiên thấy chiến thuật dàn trận thời Xuân Thu ở quy mô thật. Xe chiến ở giữa, bộ binh hai bên, cung thủ phía sau, hiệu lệnh bằng cờ, tiến thoái bằng trống. Mỗi tổ mười người, mỗi đội năm tổ, xếp lớp, xếp hàng. Khi trống vang lên thì tất cả tiến, cùng nhịp, giáo chĩa về phía trước, khiên nâng ngang ngực. Bức tường người ấy đi tới như sóng đều, không vội, không hoảng, vì họ không sợ tám mươi người phía trước, họ đã đánh những trận lớn hơn thế nhiều.
Nhóm Việt trinh sát vòng ngoài, chặn đường rút. A Phúc dẫn bốn người vòng phía sau ấp, nhanh chóng và lặng lẽ, mất hút trong cỏ cao như chưa từng ở đó. Lĩnh giữ mặt bắc với sáu người, giáo thấp, vai gồng, mắt đếm từng bóng người chạy ra từ cổng ấp rồi quay lại khi thấy đường rút đã có người chặn.
Nam Kha đứng với Dĩnh Quốc trên đồi cao nhìn xuống. Anh thấy rõ khoảnh khắc quân Vệ vỡ: không phải vỡ ồn ào như trong phim, không ai hét xung phong, không ai quay lưng bỏ chạy cùng lúc. Mà họ vỡ từ từ như một bức tường đất gặp nước, mục từ chân trước, hàng đầu lùi nửa bước, hàng sau thấy hàng đầu lùi thì cũng lùi. Rồi lùi thành chạy, chạy thành tan và tiếng giáo đồng va vào nhau nghe rõ trên đồi, lẫn với tiếng la ngắn của người bị đâm và mùi đất bị xới tung dưới chân hàng trăm người đang tiến.
Trận kết thúc trước khi mặt trời lên đỉnh. Quân Vệ thua và rút lui, mất ấp. Ba trăm lính ấp Dĩnh vào ấp, thu lương. Dĩnh Quốc ra lệnh rằng không giết dân, không đốt nhà, chỉ lấy quân lương và vũ khí. Lệnh gọn và sạch, đúng kiểu quân Dĩnh Khảo Thúc: đánh là đánh, xong là xong.
Nam Kha đứng trên đồi nhìn xuống mà nghĩ rằng tất cả những chuyến tuần biên, tất cả những lần phục kích toán Tống mười người trong rừng, tất cả những thứ anh tự hào rằng nhóm Việt đã làm được, đặt cạnh chuyện này thì giống một đứa trẻ tự hào vì bắt được con cá ở ao nhà rồi nhìn thấy ngư dân kéo lưới ngoài biển. Cái anh làm trước giờ không sai nhưng nó nhỏ và anh cần hiểu cái lớn để biết mình đang đứng ở đâu trong bức tranh tổng thể.
Trên đường về, Nam Kha đi cạnh Đăng, hai người không nói gì nhưng Nam Kha biết Đăng cũng đang nghĩ, đang nhai lại những gì vừa thấy. Vì Đăng đánh giỏi nhưng đánh một mình, đánh ba người, đánh mười người, còn ba trăm người cùng đánh là thứ Đăng chưa bao giờ thấy. Cái cách ba trăm người ấy bước cùng nhịp, chém cùng lúc, tiến cùng hướng, đó không phải sức mạnh cá nhân, đó là thứ khác, thứ mà Nam Kha biết tên nhưng Đăng chưa biết gọi là gì.
"Anh thấy sao?"
Nam Kha hỏi nhỏ bằng tiếng Lạc Việt cổ, chỉ hai người nghe.
Đăng im lặng một lúc, cái im quen thuộc của người đang tìm từ. Rồi Đăng nói ngắn, cũng bằng tiếng Lạc Việt cổ:
"Mạnh. Nhưng không phải vì từng người mạnh."
Nam Kha gật đầu. Đăng vừa nói ra điều mà sách giáo khoa quân sự mất cả chương để giải thích. "Đúng."
Nam Kha đáp.
"Anh muốn học cái đó không?"
Đăng nhìn Nam Kha, rồi nhìn về phía ba trăm lính đang bước phía trước, lưng thẳng, hàng thẳng, bước đều. Rồi Đăng gật đầu một cái thật nặng, kiểu gật của người vừa quyết xong một điều quan trọng.
Ngày thứ tư trên đường về, đoàn quân gặp một gia đình nông dân bên đường. Đúng hơn là gặp cái còn lại của một gia đình: lều rách, đồ đạc tung tóe, một ông già ngồi bệt dưới đất, máu khô trên mặt, một bà già ôm đứa trẻ nhỏ. Hai người đàn ông trẻ nằm sấp trên đất, tay bị trói bằng dây thừng, mắt bầm, áo rách.
Dĩnh Quốc dừng đoàn quân bằng một cái giơ tay. Ông ta bước đến, nhìn, hỏi ông già một câu ngắn:
"Ai?"
"Cướp."
Ôing già đáp, giọng run, mắt nhìn ba trăm lính mà không biết sợ hay mừng.
"Ba người. Lấy hết lương. Đánh cháu tôi."
"Hướng nào?"
Ông già chỉ tay về phía tây. Dĩnh Quốc quay sang, gọi một tổ mười người, ra lệnh bằng hai từ:
"Tìm. Giết."
Mười người tách đoàn, chạy về phía tây và không hỏi thêm, không cần biết cướp bao nhiêu người, có vũ khí gì. Họ chỉ tìm,rồi giết, vì lệnh đã rõ và lệnh của Dĩnh Quốc thì không ai hỏi lại.
Nam Kha đứng nhìn. Dĩnh Quốc quay lại, bước ngang gia đình nông dân rồi dừng lại. Ông ta cúi xuống cởi dây trói cho hai người đàn ông trẻ, không nhẹ nhàng nhưng cũng không thô bạo, rồi đứng lên, đi tiếp. Ông ta không nói gì với gia đình, không an ủi, không hứa hẹn. Làm xong thì đi, vì nghĩa khí của ông ta không qua lời nói mà qua hành động. Vừa rồi ông ta đã cởi dây, đã ra lệnh giết cướp, thế là đủ.
Nam Kha nhìn cảnh ấy mà nhớ Dĩnh Khảo Thúc, nhớ cái cách ông tự tay kéo tên lính trẻ bị đánh ngã đứng dậy, vỗ lưng, nói "lần sau nhớ giữ chân". Anh hiểu rằng hai mươi năm bên cạnh Dĩnh Khảo Thúc không phải lãng phí, nó ngấm vào người Dĩnh Quốc từng giọt, từng hành động nhỏ, cho đến khi ông ta cũng trở thành kiểu người mà khi ở cạnh thì ai cũng yên tâm hơn. Dù rằng ông ta không bao giờ nói ra điều gì để ai yên tâm cả.
Tối cuối cùng trước khi về doanh trại, Nam Kha lấy một bát cơm từ nồi nhóm Việt và đi qua khoảng tối giữa hai đống lửa. Mùi cơm nóng bốc lên từ bát xộc vào mặt anh và anh nghĩ rằng mùi cơm nóng buổi tối có lẽ là thứ giống nhau nhất giữa mọi thời đại. Sau đó anh đặt cạnh chỗ Dĩnh Quốc ngồi mài giáo.
Ông ta nhìn bát cơm, rồi nhìn Nam Kha. Dĩnh Quốc không nói gì nhưng tay ông ta dừng mài. Ông ta nhìn bát cơm lâu hơn nhìn Nam Kha, lâu đến mức Nam Kha biết ông ta đang nghĩ gì đó mà ông ta sẽ không bao giờ nói ra. Có lẽ ông ta đang nghĩ rằng Dĩnh Khảo Thúc cũng hay xới cơm cho người mới, có lẽ ông ta đang nghĩ rằng thằng nhỏ này làm giống chủ tướng mà không biết, hoặc có lẽ ông ta chỉ đang nghĩ bát cơm này có mặn không vì ông ta ăn nhạt.
Rồi ông ta cầm bát cơm ăn chậm từng miếng. Ông không cảm ơn, không gật đầu mà chỉ ăn,. Khi ăn xong ông ta đặt bát xuống, cầm lại hòn đá mài tiếp. Nam Kha cũng không nói gì mà chỉ ngồi đó nghe giáo mài trên đá, nghe lửa cháy, nghe đêm.
Nhưng lần này, khi Nam Kha đứng dậy đi về, ông ta nói, không quay lên, giọng phẳng, nhưng có gì đó khác trong cái phẳng ấy. Nó nhẹ hơn, mỏng hơn, như một vết nứt rất nhỏ trên mặt đá:
"Chuyến sau, ngươi đi cánh trái. Ta xem."
Nam Kha dừng bước. Anh biết cánh trái nghĩa là gì, vì anh đã đọc đủ sách sử và đã xem đủ trận thật để hiểu: cánh trái là cánh yếu, cánh mà nếu giữ không vững thì toàn quân bị đánh bọc sườn, cánh mà chỉ giao cho người tướng tin được hoặc người tướng muốn thử sức. Và ông ta vừa giao cho anh, không phải vì tin tưởng mà vì muốn xem.
"Được."
Nam Kha đáp.
Rồi anh đi về, bước qua khoảng tối giữa hai đống lửa về phía nhóm Việt. Nơi Đăng đang ngồi gác, lưng dựa cây, rìu bên cạnh, mắt nhìn vào bóng tối, kiên nhẫn và yên lặng như mọi đêm. Lĩnh đang kiểm tra giáo và A Phúc đã ngủ, co người trong chăn mỏng, mặt quay vào lửa, miệng hé mở, ngủ kiểu trẻ con dù cậu đã không còn trẻ con từ lâu.
Nam Kha nằm xuống, nhìn lên trời. Sao vẫn dày, vẫn đẹp, dải Ngân Hà vẫn kéo ngang qua bầu trời như một vệt sương sáng. Anh nhìn nó lần thứ không biết bao nhiêu kể từ khi tỉnh dậy ở thời đại này. Nhưng mỗi lần nhìn vẫn thấy mới, vì mỗi lần anh nhìn bên cạnh một người khác, mỗi người khác làm bầu trời ấy khác đi một chút. Đêm nay, bên cạnh hai mươi ba người của anh và ba trăm lính của một ông già ít nói, bầu trời rộng hơn mọi đêm trước, rộng hơn vì phía trước rộng hơn, vì cánh trái đang chờ, vì ông ta đã bắt đầu xem. Bắt đầu xem nghĩa là còn chưa tin, nhưng chưa tin vẫn hơn không nhìn.
Anh nhắm mắt và trước khi ngủ, anh nghĩ đến bà ngoại, đến hòn đá mài dao trong bếp, mòn vẹt ở giữa, đến tiếng dao mài trên đá lúc năm giờ sáng mỗi ngày. Anh nghĩ rằng nếu bà gặp ông ta, hai người sẽ không nói gì với nhau. Vì bà cũng ít nói, ông ta cũng ít nói, nhưng hai người sẽ hiểu nhau, vì họ cùng thuộc về kiểu người giữ mình bằng một thói quen nhỏ lặp đi lặp lại mỗi ngày.
Từ phía binh lính ấp Dĩnh, tiếng đá mài trên giáo vọng lại khẽ và đều. Nam Kha nghe tiếng ấy mà nhắm mắt dễ hơn, vì nó giống một thứ tiếng anh đã nghe rất lâu rồi ở một nơi rất xa. Anh không cần nhớ lại nơi nào vì cơ thể anh đã nhớ thay, giống cách ông ta nhớ.
Thảo luận
Bình luận chương
0 bình luận
Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên bình luận chương này.