Quyển 1: Titanis
Chương 17: Đứt Gãy Phi Sinh Học
Nghịch Giới
Mục lục
18 chươngCuộn, vuốt hoặc dùng hai nút để xem thêm Đã tải 18/18 chương
Mười giờ ba mươi lăm phút sáng.
Vết bỏng trên ngực trái Vane rát buốt như bị dí một đầu sắt nung đỏ. Hắn không thò tay vào túi áo để vứt mảnh kim loại đi. Qua lớp vải bạt cháy xém, hắn cảm nhận được vật thể đó vừa đột ngột lạnh ngắt trở lại, đồng thời mọi rung động tần số cao trên bề mặt nó tắt phụt.
Dưới chân họ, sâu ba mươi lăm mét trong lòng đất, một điều đáng sợ hơn mọi tiếng nổ vừa xảy ra.
Nhịp gõ ba mươi giây biến mất.
Một giây. Năm giây. Mười giây.
Không có cú giật cơ học nào dội lên từ đáy giếng thăm dò. Không có chuỗi rung động thứ cấp nào chạy qua các thớ đá. Khoảng sâu bên dưới nền móng rơi vào một sự tĩnh lặng chết chóc, phẳng lặng như mặt nước đóng băng trước cơn bão tuyết.
Trên sàn tầng hai ngập bụi vôi, những người lính vận tải đang băng bó cho nhau bỗng ngừng tay. Kaden ngẩng đầu khỏi thi thể lạnh ngắt của Rorik, nhìn xuống mặt sàn xi-măng:
“Đại úy... Tiếng đập dưới đất im rồi.”
“Không phải nó dừng lại,” Harlen chống tay vào tường, giọng viên thiếu úy công binh lạc đi vì kinh hãi. Gã nhìn chằm chằm vào khe nứt dài ba mét trên sàn nhà đang há miệng rộng thêm từng phân một mà không phát ra bất kỳ tiếng động nào. “Liên kết của nền đá bên dưới không còn giữ được nữa... Toàn bộ khối móng sắp trượt rồi!”
Vane không nhìn xuống sàn. Hắn chộp lấy khẩu súng trường của Rorik nằm bên cạnh vũng máu, quàng dây qua vai phải rồi ra lệnh ngắn gọn, phân rõ từng mũi rút lui:
“Bỏ cứ điểm! Kaden, dẫn toán đầu xuống tầng một mở chốt cổng thép phía tây, cắt dây trói cho hai lính công binh để họ tự chạy! Harlen, theo sát Kaden xử lý kết cấu cửa nếu bị kẹt! Brant, khiêng sáu cáng thương binh ra bãi xe hốc đá, điều phối người lên những chiếc xe còn chạy được! Tôi giữ hậu đội!”
Vane cúi xuống, nắm lấy cổ áo Brant xốc thẳng dậy, chỉ tay dứt khoát về phía cầu thang rồi làm ký hiệu tay: Rút lui toàn bộ.
“Rút đi đâu?” Một người lính vận tải hoảng loạn gào lên, chỉ tay về phía lỗ thủng trần nhà nơi tiếng chân cự thú vẫn đang rầm rập ngoài sân. “Ngoài kia toàn là quái vật! Cửa cống phía bắc đã nổ sập rồi, ra ngoài là chết!”
“Không ra ngoài thì ba phút nữa cái tháp này sẽ chôn sống tất cả!” Vane đạp mạnh vào một hòm đạn rỗng mở lối đi. “Đàn chính đã trôi qua quá nửa về phía nam! Chúng ta mở cổng phụ phía tây tầng một, chạy ra hẻm đá chỗ bãi đỗ xe vận tải! Mười hai người khỏe nhất nhấc sáu chiếc cáng lên! Đi ngay!”
Không còn thời gian cho sự do dự. Bản năng sinh tồn đẩy ba mươi con người còn khả năng di chuyển bật dậy.
Mười hai người lính vận tải lao vào góc tường đông nam, mỗi cặp hai người xốc một chiếc cáng sắt chở sáu thương binh nặng. Những người còn lại vơ vội các túi đạn súng trường và bi-đông nước, dìu nhau lao xuống cầu thang sắt dẫn về tầng một.
Khi cáng thương cuối cùng vừa chạm tới chiếu nghỉ cầu thang giữa tầng hai và tầng một, cả khối tháp canh bỗng rùng mình.
Không có tiếng nổ. Không có sóng xung kích.
Chỉ có một âm thanh khô gọn như tiếng một sợi cáp thép bị kéo căng đến cực hạn rồi đứt phựt.
Ngay sau âm thanh đó, vết phân tách mảnh như sợi chỉ từ miệng giếng thăm dò tầng âm hai đột ngột phát triển xuyên thẳng qua sàn bê tông, chạy dọc bức tường chịu lực phía đông từ chân móng lên tới đỉnh tháp. Không có đá dăm văng ra, không có khói nhiệt. Nơi đường phân tách đi qua, liên kết giữa bê tông và các thanh dầm thép chữ I lập tức mất tác dụng, tách rời thành hai bề mặt nhẵn lạnh.
Nửa phía đông của tháp canh số bảy — phần công sự nhô ra sát mép vực Karst — mất toàn bộ điểm tựa.
RẦM... RẮC...
Khối kiến trúc nặng hàng ngàn tấn từ từ nghiêng hẳn mười lăm độ về phía hẻm vực phía đông.
Cầu thang sắt vặn xoắn. Chiếu nghỉ bằng thép tấm nghiêng dốc khiến bốn người lính khiêng hai chiếc cáng cuối cùng trượt chân ngã nhào. Chiếc cáng chở người phụ xe gãy chân trượt văng theo mặt sàn dốc, va mạnh vào lan cầu thang bị cong vênh rồi mắc kẹt cứng giữa khe hẹp của hai cột dầm. Từ tầng âm một bên dưới, dòng nước ngầm nhiễm axit màu xanh rêu trào ngược qua nắp hầm, đổ tràn xuống sàn tầng trệt, bốc hơi xèo xèo trên lớp bụi vôi.
“Cáng kẹt rồi! Không rút ra được!” Người lính khiêng cáng phía trước gào lên tuyệt vọng khi cả thân người cậu ta bị ép chặt vào thanh sắt lan can đang rên rỉ.
“Đừng kéo dọc! Nâng bổng đầu cáng bên trái lên!”
Vane lao từ bậc thang trên xuống, móc cánh tay phải vào thanh giằng tường tây để giữ trụ, bàn tay trái đang sưng tấy vì chấn thương nắm chặt lấy gờ sắt của chiếc cáng bị kẹt. Khớp vai trái của hắn giật lên một cơn đau buốt thấu óc, máu từ vết thương trên trán rỉ xuống mắt, nhưng hắn nghiến chặt răng, dùng hết sức bình sinh bẩy ngược góc cáng lên hai phân.
Hai người lính vận tải bên dưới lập tức hiểu ý, dùng vai húc mạnh vào đáy cáng, giải thoát nó khỏi khe dầm bị vặn xoắn rồi lao thốc xuống sàn tầng một.
Ở cuối hành lang phía tây tầng một, Kaden — sau khi cắt dây trói cho hai người lính công binh dưới chân cầu thang — đã cùng Harlen tiếp cận được cánh cửa thép phụ dẫn ra hẻm đá.
Bốn người lính dùng búa tạ đập bung ba thanh chốt ngang. Nhưng khi họ gồng mình đẩy cánh cửa thép, nó không hề nhúc nhích.
Độ nghiêng mười lăm độ của tòa tháp đã làm biến dạng toàn bộ khung bao bằng thép chữ U. Mép trên của cánh cửa bị dầm bê tông lún xuống ép chặt, kẹt cứng hoàn toàn.
“Khung cửa vặn rồi!” Kaden hét lạc giọng, hai bàn tay bật máu vì ghì xà-beng. “Không bẩy ra được!”
Phía sau lưng họ, khe phân tách trên bức tường phía đông đã mở rộng bằng một gang tay. Ánh sáng xám xịt của bầu trời bên ngoài và vực sâu hun hút của lòng sông Karst đã lộ ra qua vết rạn. Khối tường phía đông đang trượt dần khỏi nền móng, kéo theo trần bê tông tầng một kêu răng rắc dữ dội.
“Lùi hết lại!” Harlen gạt Kaden sang một bên, quỳ thụp xuống chân cửa thép.
Viên thiếu úy công binh lôi từ trong túi áo ngực ra thỏi thuốc nổ dẻo công binh cuối cùng bằng nắm tay — lượng thuốc nổ nhỏ vốn dùng để phá khóa công sự. Gã nhét chặt thỏi thuốc nổ vào khe hở bản lề dưới đã bị cong vênh, cắm kíp nổ giật tay:
“Quay mặt vào tường! Đè người lên cáng thương binh! Há miệng ra để tránh rách màng nhĩ!”
Toàn bộ ba mươi con người dồn ứ vào góc hành lang chữ L, lấy thân mình che chắn cho sáu chiếc cáng nằm sát đất.
Harlen giật dây rồi bổ nhào vào sau một trụ bê tông.
ĐOÀNG!
Vụ nổ trong hành lang kín đập một luồng áp lực đặc quánh vào lồng ngực tất cả mọi người.
Khói đen và bụi vữa mù mịt quất rát mặt. Một mảnh sắt nhỏ từ bản lề văng sượt qua bắp tay Kaden làm rách toạc lớp vải áo bạt, máu tứa ra. Hai người lính vận tải đứng gần nhất bị sóng âm làm choáng váng, ngã khuỵu xuống sàn, tai ù đặc phải mất vài giây lắc đầu liên tục mới nhìn rõ phương hướng.
Nhưng bản lề dưới của cánh cửa thép đã bị thổi bay, mép cửa gãy xệ xuống một góc.
“Đẩy cửa! Giữ lấy mép khung!” Vane từ phía sau vượt lên, dùng báng súng chèn vào khe hở vừa tạo ra.
Kaden nén cơn choáng, cùng bốn người lính khỏe mạnh lao tới, dùng cả vai và lưng húc mạnh vào tấm thép đã gãy bản lề. Hai người lính công binh vừa được cởi trói cũng lao vào hợp sức, dùng thanh xà-beng sắt chèn cứng vào mép trên để ngăn khung cửa sập xuống kẹt lại.
Rầm!
Tấm cửa thép đổ ập ra bên ngoài, rơi phập xuống lớp bùn đất.
Ánh sáng ban ngày đục ngầu và luồng gió lạnh buốt sặc mùi bụi khoáng lập tức tràn vào hành lang ngột ngạt.
“Đưa thương binh qua trước! Chạy sát vách núi!” Vane đứng chặn ngay ngưỡng cửa đang rung lắc, một tay ghì thanh xà-beng phụ giữ khung cửa, gào thét đốc thúc từng cặp khiêng cáng thoát ra ngoài.
Bãi đỗ xe phía tây nằm trong một hốc núi đá vôi lõm sâu vào sườn đồi, cách chân tháp canh chừng tám mươi mét. Nhờ vách núi che chắn, dòng chính của đàn cự thú không quét trực tiếp qua hốc này, nhưng mặt đất vẫn bị cày nát bởi những tảng đá lở.
Mười một chiếc xe vận tải hạng nặng của phân đội mười bốn giờ chỉ còn lại bốn chiếc đậu sát vách đá trong cùng là giữ được nguyên hình dạng; bảy chiếc đậu vòng ngoài đã bị đá lở và những con thú chạy lệch hướng húc bẹp cabin, gãy trục bánh xe, dầu diesel chảy lênh láng trên bùn.
Brant chạy tập tễnh dẫn đầu đoàn người lao vào bãi xe. Cậu ta chỉ huy đám tài xế kiểm tra nhanh bốn chiếc xe trong vách đá, nhưng chiếc xe số bốn ở góc trong cùng đã bị một tảng đá vôi lớn rơi xuống chắn ngang mũi xe, két dầu máy dưới gầm bị đá sắc đâm thủng chảy cạn sạch.
“Bỏ xe số bốn! Chỉ còn ba chiếc chạy được!” Brant gào lên bằng giọng khàn đặc, vung tay chia người lên ba chiếc xe tải số một, số hai và số ba. “Đưa ba cáng thương binh lên thùng xe số một, ba cáng lên xe số ba! Toàn bộ người còn lại chia đều lên hai xe đó! Xe số hai đậu phía ngoài không chở thương binh, nổ máy đi kèm mở đường!”
Đám tài xế sống sót nhảy phắt lên buồng lái của ba chiếc xe còn hoạt động.
Tiếng xả khí nén xì xèo và tiếng động cơ diesel gầm rú bùng lên giữa tiếng sấm rền của đại di cư. Sáu chiếc cáng thương binh cùng hai mươi lăm người lính nhanh chóng được kéo lên thùng chiếc xe số một và xe số ba. Chiếc xe số hai nằm chếch ở rìa ngoài cùng chỉ có một tài xế trong buồng lái và một người phụ xe trẻ tuổi — chính là cậu lính từng cầm khẩu súng pháo hiệu ở Chương 11 — đứng trên thùng xe giữ khẩu súng máy mười hai ly bảy duy nhất còn hoạt động.
Đúng lúc Vane, Kaden và Harlen — những người cuối cùng thoát ra khỏi cửa tháp canh — vừa chạy tới bám vào thành thùng chiếc xe số ba, từ màn bụi vàng xám ngoài rìa hốc đá, một bóng đen đồ sộ bỗng lảo đảo trượt xuống sườn dốc.
Đó là một con cự thú dòng bọc giáp nặng chừng ba mươi tấn, bị thương nặng ở sườn phải nên tụt lại ở cuối đàn. Nó đang hoảng loạn tìm đường vượt qua hốc núi để đuổi theo đàn chính thì tiếng nổ rền của ba khối động cơ diesel đột ngột vang lên ngay sát bên sườn làm nó giật mình.
Theo phản xạ tự vệ mù quáng trước âm thanh lớn, con thú quay phắt đầu về phía phát ra tiếng máy nổ. Bốn móng guốc của nó định bẻ hướng nhưng nền bùn khoáng trơn trượt dưới chân khiến khối thân xác ba mươi tấn mất hoàn toàn độ bám, trượt thẳng theo độ dốc địa hình lao sầm về phía ba chiếc xe vận tải.
Khoảng cách chỉ có bốn mươi mét — quá gần để những chiếc xe tải nặng nề vừa vào số một kịp vọt đi.
“Nhảy sang xe số ba! Bỏ xe số hai lại!” Brant từ buồng lái chiếc xe số một thò đầu ra hét lớn khi thấy con thú trượt thẳng vào hướng chiếc xe số hai đang đỗ chắn phía ngoài.
Người tài xế trong buồng lái xe số hai vội vã đạp tung cửa, nhảy vọt qua khoảng trống hai mét, được Kaden và hai người lính trên thùng xe số ba chộp lấy tay kéo lên kịp thời.
Nhưng trên thùng chiếc xe số hai, người phụ xe trẻ tuổi không nhảy.
Cậu ta nhìn thấy rất rõ: nếu con thú đâm xuyên qua chiếc xe số hai mà không bị cản lực, đà trượt của nó sẽ húc lật tiếp chiếc xe số ba đang chở đầy thương binh ngay phía sau.
Đôi tay người lính trẻ run bắn lên, nhưng cậu ta nghiến chặt răng, ghì chặt hai tay cầm của khẩu súng máy mười hai ly bảy trên giá thép, kéo khóa nòng:
“Lùi xe số ba ra! Chạy đi!”
Cậu ta bóp chặt lẫy cò, xả một loạt đạn xuyên phá mười hai ly bảy ở cự ly chưa đầy hai mươi mét vào thẳng vùng mặt và cổ họng của con cự thú đang trượt tới.
Cạch-cạch-cạch-cạch-cạch!
Luồng đạn cỡ lớn găm liên tiếp vào mảng da mềm dưới hàm và làm vỡ toác phiến sừng má bên phải của con thú. Cơn đau chói lòa ở vùng đầu buộc con quái vật theo bản năng giật mạnh cổ sang bên trái để né luồng đạn.
Cú ngoặt đầu trong tích tắc đó làm trọng tâm của khối thịt ba mươi tấn lệch đi một góc nhỏ — trượt khỏi đuôi chiếc xe số ba chở thương binh, nhưng đâm sầm toàn bộ sức nặng vào chính giữa thân chiếc xe tải số hai.
RẦM!
Chiếc xe tải sáu tấn bị húc văng ngang, đập bẹp dí vào vách núi đá vôi. Khung gầm bằng thép gãy gập. Thùng nhiên liệu bên hông xe vỡ toác, dầu diesel bắn tung tóe vào cổ ống xả đang nóng đỏ, lập tức bùng lên thành một ngọn lửa vàng rực kèm khói đen đặc quánh.
Người phụ xe trẻ tuổi bị lực va chạm hất văng vào vách đá phía sau bức tường lửa, biến mất hoàn toàn dưới khối sắt vụn đang bốc cháy ngùn ngụt. Con cự thú bị thương cũng bị bộ khung thép biến dạng của chiếc xe găm chặt vào ngực và chân trước, rống lên những tiếng man dại khi ngọn lửa dầu liếm lên lớp dịch tủy rỉ ra từ vết thương của nó.
Khối xác xe cháy rực và thân hình con thú giãy giụa đã vô tình tạo thành một nút chặn bằng lửa bịt kín lối vào hốc đá.
“ĐI!”
Vane đứng trên bậc lên xuống bên ngoài buồng lái chiếc xe số ba, đập mạnh tay vào thành cửa sắt.
Hai chiếc xe vận tải còn lại — chiếc số một và chiếc số ba, chở theo tổng cộng ba mươi lăm con người gồm hai mươi chín người còn tự di chuyển được và sáu thương binh nặng nằm trên cáng — gầm rú cài số vượt qua sườn dốc bùn lầy, lao vọt ra khỏi hốc đá để rẽ vào con đường mòn khai thác gỗ cũ dẫn lên triền rừng biên giới phía tây.
Ngay khi bánh sau của chiếc xe số ba vừa thoát khỏi chân đồi, Vane ngoái đầu nhìn lại qua màn khói dầu đen kịt.
Ở phía sau lưng họ, sự sụp đổ cuối cùng đã diễn ra.
Không có tiếng nổ long trời lở đất. Ngọn đồi đá vôi nơi Tháp canh số bảy đứng vững suốt ba mươi năm qua đột ngột tách rời làm đôi theo một mặt phẳng nghiêng sắc lạnh.
Cả khối sườn đồi phía đông — mang theo toàn bộ khối tháp canh bê tông cốt thép, khẩu pháo mười hai inch gãy nát, các tầng hầm ngập nước và thi thể của những người đã nằm lại — lặng lẽ trượt xuống theo bề mặt nhẵn bóng.
Khối lượng khổng lồ của đá tảng và bê tông đổ ụp xuống đáy vực Karst sâu bốn mươi mét.
Một cột bụi vôi trắng xóa bốc cao che khuất cả bầu trời thung lũng, nuốt chửng mố cầu gãy và xóa sổ vĩnh viễn Chốt tiền tiêu số bảy khỏi mặt đất.
Trên con đường dốc gập ghềnh dẫn vào rừng rậm, hai chiếc xe vận tải lấm lem bùn máu vẫn rú ga lao sâu vào màn sương mù, bỏ lại đằng sau một thung lũng đang chìm trong tiếng gầm của đại di cư và một mặt cắt địa chất phẳng lì lộ ra giữa sườn núi.
Thảo luận
Bình luận chương
0 bình luận
Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên bình luận chương này.