Bách Việt Hùng Đồ

Quyển 2: Giáo

Chương 20: Trước Trận Hứa

Đăng: 16/10/2026 01:47 3,027 từ 3 lượt đọc

Quân Trịnh đóng trại ngoài thành Hứa vào chiều thứ năm sau khi rời doanh trại ấp Dĩnh. Nam Kha đứng trên một ngọn đồi thoải nhìn xuống cánh đồng phía trước thành, nơi hàng trăm lều quân đã dựng xong từ giữa trưa. Khói bếp bốc lên từ nhiều nơi cùng lúc, mùi cơm trộn với mùi đất ướt sau trận mưa nhẹ hôm qua. Anh nhìn thành Hứa nhỏ ở xa, tường đất xám, thấp hơn tường thành Trịnh rất nhiều. Anh nghĩ rằng trận này thắng dễ, nước Hứa nhỏ, quân ít, tướng không giỏi bằng tướng Trịnh. Dĩnh Khảo Thúc sẽ xông vào như mọi trận, đánh từ sáng đến trưa, trưa nắng thì nghỉ ăn cơm rồi đánh tiếp. Quân Hứa sẽ thua và Trịnh sẽ thắng và tất cả sẽ kết thúc trong một ngày hoặc có lẽ hai không hơn.

Xa hơn về phía đông, bên kia khúc sông cạn, là trại quân Tề, cờ khác, lều dựng thưa hơn. Xa hơn nữa về phía đông nam là quân Lỗ, ít người nhất trong ba cánh. Ba nước đánh một nước nhỏ. Nam Kha nhìn ba đám khói bếp bốc lên ở ba chỗ khác nhau trên cùng một cánh đồng và nghĩ rằng ở thế kỷ hai mươi mốt người ta gọi cái này là liên minh. Còn ở đây thì không ai gọi nó là gì cả, vì ba ông vua đang cùng muốn một thứ thì tự khắc quân họ đứng cạnh nhau. Khi ba ông ấy thôi cùng muốn thì quân họ cũng tự khắc quay giáo. Anh cũng biết từ sách, rằng người trèo tường trước sẽ là người Trịnh, vì Trang Công muốn thế, vì đất Hứa sau trận này sẽ không chia ba.

Nhưng Dĩnh Khảo Thúc sẽ không trở về.

Nam Kha biết. Và cái biết ấy, sau bao nhiêu tháng mang, bao nhiêu đêm nghĩ, bao nhiêu kế hoạch bố trí, nó không nhẹ đi mà nặng hơn. Nó nặng theo cách ngược đời rằng càng gần ngày thì càng thật và càng thật thì càng đau. Vì khi nó còn xa thì nó còn là chữ trên giấy, còn là "có thể". Nhưng bây giờ nó đây, thành Hứa đây, đội hình đây, Tử Đô đây, và chữ "có thể" đã chết, chỉ còn "sẽ" hoặc "không". Cái "không" phụ thuộc vào bao nhiêu thứ mà anh đã xếp, đã tính, đã nhờ, nhưng vẫn chưa đủ để anh yên tâm.

Bữa cơm chiều ở lán tướng. Dĩnh Khảo Thúc ngồi giữa như mọi khi, trường mâu dựng ở góc lều như mọi khi, bát cơm trên tay, ăn chậm, nhai kỹ. Xung quanh ông là đội trưởng Cơ, hai viên phó tướng, Dĩnh Quốc ngồi bên trái, Nghĩa bên phải, Nam Kha ngồi phía đối diện. Bữa cơm vang tiếng nói chuyện bình thường về chuyện bình thường, chuyện về lương khô còn bao nhiêu ngày, ngựa kéo xe chiến đi đường dài có con hơi khập khiễng cần thay, nước uống lấy từ suối phía đông hay phía tây. Dĩnh Khảo Thúc nghe, gật đầu hỏi và trả lời, xen vào đôi câu bông đùa kiểu Dĩnh Khảo Thúc, không hài nhưng ấm, kiểu "ngựa khập khiễng thì cho nó ngồi xe, người khỏe thì đi bộ". Mọi người cười và tiếng cười ấy bình thường, bình thường đến mức Nam Kha muốn giữ nó lại, muốn đóng gói tiếng cười ấy vào trong một cái hộp và cất đi. Vì sau ngày mai sẽ không ai cười kiểu này nữa ở lán tướng ấp Dĩnh, vì người khiến mọi người cười sẽ không còn ngồi ở giữa nữa.

Dĩnh Khảo Thúc xới cơm. Bát đầu tiên ông đẩy sang Nghĩa, ông không nhìn, không nói, tay xới, tay đẩy, đều và gọn đúng như hàng trăm lần trước đó. Bát cơm đầu tiên luôn là bát của con, rồi ông mới xới cho mình. Nghĩa nhận bát cơm và ăn, cũng không nhìn, cũng không nói. Vì với hai cha con, việc ấy bình thường đến mức vô hình, bình thường đến mức Nghĩa sẽ không nhớ cho đến khi không còn ai xới cho cậu nữa. Lúc đó, lúc cậu ngồi ăn một mình lần đầu tiên sau cái chết của cha, cậu sẽ nhìn xuống bát cơm tự xới và nhớ ra, nhớ như bị đấm, rằng bát cơm đầu tiên bao giờ cũng là bát của cậu. Lúc đó không ai xới nữa và cái "không ai" ấy sẽ nặng hơn bất cứ cây giáo nào cậu từng vác.

Nhưng bây giờ Nghĩa chưa biết. Cậu ăn bình thường và cái bình thường ấy là thứ đặc ân mà Nam Kha không có. Vì Nam Kha biết và biết mà nhìn người khác không biết thì đau kiểu riêng, kiểu đau của người đứng trên bờ nhìn người khác bơi mà biết dòng nước sắp cuốn nhưng không hét được vì không ai sẽ nghe, không ai sẽ tin và dòng nước cứ chảy.

Dĩnh Khảo Thúc ăn xong rồi đặt bát, gãi cằm. Sau đó ông quay sang Nghĩa nhìn con và ông làm một việc mà ông hiếm khi làm trước mặt người khác. Ông đưa tay vỗ vai Nghĩa chậm một cái, bàn tay lớn đặt lên vai con trai rồi nhấn nhẹ, kiểu vỗ mà Nam Kha đã quen, bàn tay nặng nhưng ấm. Ông nói bằng giọng phẳng:

"Mai ngươi đi với Dĩnh Quốc, giữ hậu, không lên trước."

Nghĩa gật đầu.

"Dạ."

"Giữ hậu nghĩa là nhìn phía sau."

Dĩnh Khảo Thúc nói thêm. Câu ấy nghe như dặn dò chiến thuật, nhưng Nam Kha nghe ra cái ông không nói: ông muốn Nghĩa ở phía sau vì phía sau xa mũi giáo hơn. Ông không nói "cha muốn con an toàn" vì ông không biết nói kiểu ấy, ông chỉ biết nói bằng vị trí trên đội hình, bằng "giữ hậu, nhìn phía sau". Câu ấy dịch ra là "cha muốn con sống" nhưng ông sẽ chết trước khi Nghĩa hiểu câu dịch ấy.

"Dạ."

Nghĩa nói lần nữa ngắn gọn, đúng kiểu con nhà Dĩnh Khảo Thúc và cậu tiếp tục ăn.

Nam Kha nhìn bàn tay Dĩnh Khảo Thúc rời khỏi vai Nghĩa chậm như lưỡng lự. Anh nghĩ rằng nếu Dĩnh Khảo Thúc biết ngày mai là ngày cuối cùng ông sống, có lẽ ông cũng sẽ làm đúng những thứ này. Ông cũng xới cơm, cũng vỗ vai, cũng nói "giữ hậu nhìn phía sau" vì Dĩnh Khảo Thúc không có cách nào khác, không có từ nào khác. Cả đời ông là một cách duy nhất, cách thẳng và cái thẳng ấy đẹp và mù và sẽ giết ông. Nam Kha đã biết từ lâu và biết mà không thay đổi được thì chỉ còn cách nhìn.

Sau bữa cơm, Nam Kha đi dọc khu nhóm Việt. Không khí ở đây khác lán tướng. Nhóm Việt đã qua trận Kinh, đã mất A Sơn, đã biết mùi chiến trường. Cái biết ấy thay đổi họ theo cách mà Nam Kha nhận ra rõ nhất qua những thứ nhỏ nhất. Cách Lĩnh ngồi mài dao mà vai không gồng nữa, hai bả vai tự nhiên lần đầu tiên kể từ ngày Nam Kha gặp cậu trong rừng. Cái thay đổi ấy nhỏ đến mức không ai ngoài Nam Kha để ý, nhưng nó nghĩa là nhiều, nghĩa là cậu đã tìm được chỗ đứng trong cơ thể mình, đã bớt phòng vệ, đã bắt đầu tin rằng mình thuộc về nơi này dù nơi này là sân trước trận chiến.

Lĩnh rút từ trong áo ra một bông lúa khô đã héo nâu, gầy hơn bông lúa A Sơn ngày xưa vì Lĩnh giữ nó kỹ quá, ép kỹ quá. Mỗi trận cậu lại lấy ra giắt vào giáp, trận xong lại tháo ra cất vào áo. Cứ thế bao nhiêu trận rồi, bông lúa mỗi lần mỏng đi một chút nhưng vẫn còn. Nam Kha nhìn cậu giắt bông lúa vào giáp bằng ngón tay cẩn thận, ấn sâu vào khe da, vỗ nhẹ lên ngực kiểm tra. Đúng nhịp, đúng cách, y hệt A Sơn ngày trước trận Kinh.

Vài lính Việt khác cũng làm theo. Không phải ai cũng có bông lúa, có người giắt cành lá, có người giắt sợi dây, nhưng cái cử chỉ giắt vào giáp trước khi đánh đã thành tục, thành thói quen của nhóm. Nam Kha nhìn mà nghĩ rằng đây là thứ mà sách sử không chép, sách chép trận đánh, chép thắng thua, chép ai chết, nhưng sách không chép rằng trước mỗi trận có một nhóm người nhỏ bé giắt lúa khô vào giáp vì nhớ người đã mất. Cái không chép ấy mới là lịch sử thật, lịch sử có mùi, có tay, có ngón tay run nhẹ khi ấn lúa vào khe da.

Mị Linh đến đứng cạnh Nam Kha. Nàng không chào,vì nàng không bao giờ chào.

"Đội Sương đã vào vị trí chưa?"

Nam Kha hỏi.

"Rồi."

Nàng đáp ngắn.

"Ba người cánh phải, sát Tử Đô. Hai người cánh trái, phòng bị. Năm người theo ta ở giữa, canh Dĩnh Khảo Thúc."

Nam Kha nhìn nàng.

"Nếu thấy Tử Đô nâng cung..."

"Ta bắn trước."

Mị Linh nói. Giọng nàng không có chút lưỡng lự nào, bằng phẳng như mặt nước, kiểu bằng phẳng mà chỉ người đã quyết xong mới có. Nam Kha biết nàng không nói cho oai, nàng nói thật, vì Mị Linh không biết nói cho oai, nàng chỉ biết nói thật và làm thật. Nếu Tử Đô nâng cung nhắm Dĩnh Khảo Thúc thì mũi tên của nàng sẽ bay trước mũi tên của hắn. Nàng tin vậy và cung của nàng đủ tốt để tin vậy. Nhưng chiến trường không phải sân tập và trong sân tập nàng trúng chín trên mười, nhưng trận Kinh nàng trúng ba trên mười. Ba trên mười có đủ không khi chỉ cần một mũi tên trượt thì Dĩnh Khảo Thúc chết?

Nam Kha không nói điều đó. Mị Linh biết và anh biết nàng biết. Hai người đứng im một lúc, không nhìn nhau, cùng nhìn về phía lều nhóm Việt. Nơi Lĩnh đang giắt lúa, nơi bà Cả đang vá áo, nơi An vẫn đang vẽ gì đó trên đất bằng que cây như hồi bé. Cái im lặng giữa hai người ở khoảnh khắc ấy không phải im lặng vì hết chuyện mà im vì cả hai đều hiểu rằng ngày mai, dù kế hoạch có đúng đến mấy, vẫn có thể sai. Cái sai ấy sẽ nặng đến mức không ai gánh nổi.

"Mị Linh."

Nam Kha nói nhẹ.

Nàng quay sang.

"Nếu không chặn được... nếu tên hắn bay trước tên nàng..."

Nàng nhìn Nam Kha. Trong mắt nàng có thứ gì đó cứng, cứng kiểu đá, không phải lạnh mà là nén, nén cảm xúc xuống sâu để giữ tay vững khi bắn. Rồi nàng nói:

"Thì ta giữ mũi tên đó."

Kha sững người.

"Giữ?"

"Mũi tên hắn bắn."

Mị Linh nói chậm và rõ.

"Ta sẽ nhặt và giữ. Nếu Khảo Thúc chết, ta giữ mũi tên làm bằng chứng."

Nam Kha nhìn nàng. Anh hiểu rằng nàng đã tính, tính cả trường hợp xấu nhất, tính rằng nếu không chặn được thì ít nhất giữ lại bằng chứng. Vì trong loạn chiến không ai chứng minh ai bắn ai, nhưng nếu mũi tên Tử Đô có dấu hiệu riêng, nếu Mị Linh nhặt được, thì một ngày nào đó, khi cần, bằng chứng ấy sẽ nói thay.

"Nàng giỏi."

Nam Kha nói nhẹ.

Mị Linh không đáp. Nàng quay đi bước về phía đội Sương. Lưng nàng thẳng, vai hẹp, cung trên lưng, bóng nàng nhỏ dần trong ánh hoàng hôn. Nam Kha nghĩ rằng trong tất cả những người anh có, Mị Linh là người anh không cần giải thích. Vì nàng hiểu, hiểu bằng bản năng chiến binh mà sách không dạy và sự hiểu ấy quý hơn bất cứ kế hoạch nào.

Đêm đến, Nam Kha đi ngang lều Đăng. Ông ta ngồi ngoài, đại phủ ngang đùi. Ông đang mài, chậm và đều, tiếng sắt trên đá quen thuộc đến mức nó đã trở thành một phần âm thanh của mỗi đêm trước trận, Nam Kha dừng lại nhìn, vì mỗi lần nhìn Đăng mài giáo anh đều thấy một sự bình thản kỳ lạ, kiểu bình thản không phải vì không sợ mà vì đã chấp nhận, đã gói gọn nỗi sợ vào trong một chỗ nào đó rất sâu và khóa lại, chỉ để lại bên ngoài một người đàn ông mài giáo.

"Đăng."

Nam Kha gọi.

Đăng ngẩng lên nhìn Kha.

"Gì?"

"Mai đánh, anh ở cánh trái với Nghĩa, giữ hậu cho Khảo Thúc."

Đăng gật đầu, không hỏi tại sao, không hỏi chi tiết. Vì với Đăng, Nam Kha nói thì Đăng làm, và cái tin ấy đơn giản và không điều kiện. Nó là thứ mà Nam Kha dựa vào mỗi khi mọi thứ khác lung lay.

"Nếu thấy ai trong phe mình nâng cung bắn về phía Khảo Thúc."

Nam Kha nói và cân nhắc từng chữ.

"Chặn."

Đăng dừng mài và nhìn Kha. Ông im một lúc rồi nói với giọng thấp:

"Phe mình?"

"Phải."

Đăng im lặng thêm một lúc nữa. Nam Kha thấy mắt ông ta thay đổi từ phẳng sang sắc, kiểu sắc của người vừa hiểu một điều mà người khác mất rất lâu mới nói ra. Đăng không hỏi ai, không hỏi tại sao, vì Đăng không cần hỏi, ông ta chỉ cần biết hướng là đủ.

"Được."

Đăng nói.

Một chữ là đủ.

Nam Kha gật đầu và bước đi. Sau lưng anh tiếng mài lại vang lên đều và chậm, nặng hơn lúc nãy một chút, như thể lưỡi đại phủ đã biết mình sẽ phải làm gì ngày mai, không chỉ chém kẻ thù phía trước mà còn chắn mũi tên phía sau. Cái nặng hơn ấy, Nam Kha nghe ra, nghe bằng tai người đã sống với Đăng đủ lâu để biết rằng mỗi nhịp mài khác nhau là một tâm trạng khác nhau. Nhịp này là nhịp của người đã quyết.

Khuya xuống, Nam Kha trở về lều mình nằm xuống, anh nhắm mắt nhưng không ngủ.

Anh nghe tiếng doanh trại, tiếng côn trùng, tiếng gió thổi qua vải lều, tiếng ngựa phì ở chuồng xa, tiếng ai đó ho khúc khắc ở lều bên, tiếng bước chân tuần canh đi ngang rồi xa dần. Tất cả những âm thanh nhỏ bé mà mỗi đêm anh đều nghe nhưng đêm nay chúng rõ hơn, sắc hơn, như thể tai anh đang cố ghi nhớ, ghi nhớ từng âm thanh vì sợ rằng sau ngày mai mọi thứ sẽ khác. Cái khác ấy sẽ bắt đầu từ một chỗ trống ở lán tướng nơi Dĩnh Khảo Thúc hay ngồi, một cây trường mâu không ai dựng ở góc, một bát cơm không ai xới cho Nghĩa.

Anh nghĩ về kế hoạch. Mị Linh ở cánh phải canh Tử Đô. Dĩnh Quốc giữ hậu cho Dĩnh Khảo Thúc, mười hai người tin cẩn xoay mặt ra sau. Đăng ở cánh trái với Nghĩa, sẵn sàng chặn nếu có biến. Lý Trực có hai người xen vào đội cung thủ phe Tử Đô. Cao Cát ở hậu cần, không vào trận, nhưng đã duyệt lại toàn bộ hai lần. Mọi thứ đã xếp, mọi người đã biết. Mọi đôi mắt sẽ nhìn đúng hướng.

Và anh vẫn sợ.

Sợ vì anh đã đọc Tả Truyện, đã biết Dĩnh Khảo Thúc chết ở trận Hứa và lịch sử đã viết xong. Anh đang cố xóa một dòng trong cuốn sách đã đóng gáy hai nghìn bảy trăm năm. Cuốn sách ấy rất dày, rất nặng và mỗi dòng trong đó không chỉ là chữ mà là quán tính, là hàng triệu sự kiện nhỏ chạy theo đường ray cũ. Còn anh, một sinh viên năm tư khoa sử, đang đứng trên đường ray ấy giơ tay ra bảo con tàu dừng lại.

Tàu có dừng không?

Anh không biết. Anh chỉ biết rằng nếu tàu không dừng, nếu Dĩnh Khảo Thúc vẫn chết dù anh đã cố, thì anh sẽ phải sống với câu hỏi ấy suốt đời rằng anh đã cố đủ chưa? Có cách nào tốt hơn không? Có nước cờ nào anh chưa đi? Và câu hỏi ấy sẽ không có câu trả lời, vì lịch sử không cho ai cơ hội thứ hai, kể cả kẻ xuyên không.

Anh mở mắt. Trần lều tối đen. Anh sờ túi áo, ngón tay chạm sợi dây thun đỏ và anh nắm nhẹ, nắm như nắm tay một người quen. Trong bóng tối, anh nói thầm bằng tiếng Việt hiện đại, rất nhỏ chỉ đủ cho mình nghe:

"Ngày mai mình sẽ cố hết sức. Được hay không thì ngày mai biết."

Câu ấy giống câu Dĩnh Khảo Thúc nói với tên lính trẻ trước trận Kinh: "Thắng hay không thắng, mai biết". Và Nam Kha cười nhẹ và buồn trong bóng tối, vì anh vừa nhận ra rằng anh đã học được cách nói chuyện với nỗi sợ từ Dĩnh Khảo Thúc, từ ông tướng gãi cằm bảo lính ăn no, từ người sẽ chết ngày mai mà không biết. Cái học ấy im lặng, không giáo trình, không bài giảng, nó thấm vào anh lúc nào anh không hay. Bây giờ, đêm trước trận, nó là thứ duy nhất giữ anh không gục.

Anh nhắm mắt và chờ ngày mai.

0