Quyển 2: Giáo
Chương 22: Mũi Tên
Bách Việt Hùng Đồ
Mục lục
53 chươngCuộn, vuốt hoặc dùng hai nút để xem thêm Đã tải 53/53 chương
Mũi tên trúng.
Nam Kha không nghe thấy tiếng trúng. Sáu mươi bước quá xa để nghe da rách, quá xa để nghe xương gãy. Nhưng anh nhìn thấy, nhìn rõ, nhìn bằng mắt người đã chạy qua nửa chiến trường mà vẫn không kịp. Dĩnh Khảo Thúc giật người về phía trước, cây trường mâu rơi khỏi tay, đập vào mặt tường thành phát ra tiếng kêu đục ngắn. Rồi ông ngã từ nửa chừng bức tường, ngã ngang, lưng đập xuống đất, bụi bốc lên quanh thân. Lá cờ Mao Hồ tuột khỏi lưng ông và nằm sấp trên đất cách đó ba bước. Mũi tên nằm ở vai phải nhô ra, thân tre run nhẹ theo nhịp thở, vì ông vẫn thở, vẫn còn sống, nằm trên đất giữa chiến trường mà mắt mở, nhìn lên trời.
Nam Kha tiếp tục chạy. Bốn mươi bước, ba mươi, hai mươi. Anh nghe tiếng mình thở, nghe tiếng giáp va trên ngực mỗi bước chạy, nghe tiếng ai đó hét ở phía bên, tiếng hét lan trong hàng quân như lửa cháy lan trên cỏ khô. "Dĩnh đại phu ngã" và lính xung quanh Dĩnh Khảo Thúc bắt đầu dồn lại, vừa đánh vừa lùi, vừa chém quân Hứa đang tràn đến vừa cố che chỗ ông nằm.
Rồi có người chạy ngang qua Nam Kha, chạy ngược chiều anh. Người ấy không dừng lại nhìn Dĩnh Khảo Thúc một giây nào. Hà Thúc Doanh, một viên tướng Trịnh mà Nam Kha mới chỉ biết mặt chứ chưa nói với nhau câu nào. Ông ta cúi xuống nhặt lá cờ Mao Hồ đang nằm sấp trên đất, phủi cũng không phủi mà kẹp vào nách, rồi bám tường leo lên đúng cái chỗ Dĩnh Khảo Thúc vừa rơi xuống. Ông ta leo nhanh, leo như người biết mình chỉ có mấy nhịp thở trước khi cả cánh quân này vỡ. Khi lên tới mặt thành ông giơ lá cờ lên quay một vòng rộng trên đầu rồi hét, hét to đến mức tiếng hét cắt ngang cả tiếng trống:
"Chúa công đã lên!"
Câu ấy không đúng. Chúa công vẫn ở trung quân, cách đây ba trăm bước, đứng trên xe. Nhưng lá cờ ở trên tường và lá cờ thì ai cũng nhìn thấy còn sự thật thì không. Nên quân Trịnh dưới chân thành ngẩng lên thấy cờ và tràn lên. Họ tràn cả loạt, thang dựng, người leo chồng lên người và hàng thủ trên mặt thành Hứa vỡ trong khoảng thời gian ngắn.
Nam Kha thấy hết chuyện đó bằng khóe mắt trong lúc vẫn chạy. Anh nghĩ một điều mà sau này anh xấu hổ vì đã nghĩ vào đúng lúc ấy, rằng đây chính là câu chép trong sách, rằng người ta sẽ nhớ Hà Thúc Doanh vì lá cờ và nhớ Dĩnh Khảo Thúc vì mũi tên. Không ai nhớ rằng lá cờ ấy nằm trên đất được ba nhịp thở vì người cắm nó lên đang nằm cạnh nó.
Và khi Nam Kha đến nơi, mười bước, năm bước, rồi không còn bước nào. Anh quỳ xuống, đầu gối đập vào đất cứng và anh nhìn Dĩnh Khảo Thúc.
Ông nằm ngửa. Máu từ vai phải chảy xuống, thấm vào đất. Đất khô hút nhanh, vết máu loang ra xung quanh ông như bóng đổ. Mũi tên vẫn ở đó, nhô lên, cắm sâu. Nam Kha biết bằng kiến thức sinh viên không phải kiến thức chiến binh, rằng mũi tên xuyên vào xương vai, vào chỗ không giáp, vào khe hở giữa miếng da bọc vai và miếng da bọc lưng. Đúng chỗ, đúng lúc, đúng kiểu mà chỉ người bắn giỏi thật sự mới trúng. Tử Đô bắn giỏi, hắn luôn bắn giỏi, cái giỏi ấy Nam Kha đã thấy ở sân tập ngày ấy, khi hắn gật nhẹ nhận lời khen mà mắt không cười. Bây giờ cái giỏi ấy đã làm xong việc của nó.
Dĩnh Khảo Thúc nhìn Nam Kha.
Mắt ông mở, vẫn sáng, chưa tắt. Trong mắt ông không có sợ, không có đau, chỉ có một sự tỉnh táo đến đáng sợ, kiểu tỉnh táo của người biết mình sắp chết mà vẫn nhìn rõ mọi thứ. Ông vẫn thấy trời xanh phía trên, vẫn thấy khói bay ngang, vẫn thấy mặt Nam Kha ở rất gần. Vẫn thấy mồ hôi chảy, bụi dính, mắt đỏ và ông nhìn Nam Kha mà không nói. Ông chỉ nhìn một lúc, rồi ông hít một hơi chậm và nông, vì phổi đã không chịu hít sâu nữa.
"Ngươi canh ta."
Dĩnh Khảo Thúc nói.
Không phải hỏi mà là phát biểu. Ông biết rằng Nam Kha đã bố trí, đã xếp người, đã canh Tử Đô. Vì Dĩnh Khảo Thúc không ngu, ông chỉ thẳng và người thẳng không có nghĩa là người mù. Ông đã thấy mười hai tên lính xoay mặt ra sau trong đội chắn hậu, đã thấy ba xạ thủ lạ mặt ở cánh phải canh ngang Tử Đô, đã thấy Nam Kha mặt giống đi đưa ma suốt mấy tháng. Ông hiểu bằng bản năng tướng lĩnh, rằng Nam Kha đã cố chặn thứ gì đó và thứ ấy bây giờ đã đến.
"Khảo Thúc."
Nam Kha nói và giọng anh vỡ, vỡ kiểu anh không muốn nhưng không giữ được.
"Tôi đã cố."
Dĩnh Khảo Thúc nhìn anh và im lặng. Rồi ông nói chậm, mỗi chữ tốn sức:
"Ta biết."
Hai chữ ấy nặng hơn cả trường mâu ông vẫn vác. Hai chữ ấy nghĩa là ông không trách, vì Dĩnh Khảo Thúc không biết trách, ông chỉ biết thừa nhận thực tế. Sống thẳng thì chết cũng thẳng và thực tế bây giờ là ông nằm đây, mũi tên trong vai, máu chảy và ông sắp chết.
Rồi ông nhếch miệng rất nhẹ, không đủ gọi là cười nhưng Nam Kha biết đó là cười, vì anh đã sống cạnh ông đủ lâu để biết rằng Dĩnh Khảo Thúc cười bằng khóe miệng nhếch một bên, bên trái cao hơn bên phải. Cái nhếch ấy bây giờ, trên gương mặt nhuốm bụi và máu, nó vẫn đúng, vẫn đúng kiểu Dĩnh Khảo Thúc. Va cái đúng ấy đau hơn bất cứ thứ gì.
"Mặt ngươi."
Ông nói, thở nặng giữa từng chữ.
"Lúc nào cũng giống đi đưa ma."
Nam Kha cắn môi, cắn đến chảy máu mà không biết. Vì câu ấy ông đã nói lần đầu ở bữa cơm đầu tiên, "ngươi ăn cơm xong mà mặt giống người đi đưa ma". Nam Kha đã cười gượng và Khảo Thúc cười ha hả. Bây giờ câu ấy quay lại, quay lại trên chiến trường, quay lại trên môi người sắp chết. Nó không còn bình thường nữa, nó nặng đến mức Nam Kha muốn nói gì đó nhưng cổ họng không ra tiếng. Cổ họng bị thứ gì đó chặn lại, vừa nóng vừa nghẹt và anh chỉ quỳ đó, nhìn Dĩnh Khảo Thúc, tay nắm thành nắm đấm, móng tay ấn vào lòng bàn tay.
Xung quanh, tiếng đánh vẫn vang, lính vẫn hét, quân Hứa vẫn tràn, quân Trịnh vẫn chặn, nhưng tất cả lùi ra xa, xa đến mức chỉ còn hai người ở đây. Nam Kha quỳ và Khảo Thúc nằm và khoảng cách giữa hai người là nửa cánh tay. Đủ gần để Nam Kha thấy sợi tóc bạc ở mai tóc Dĩnh Khảo Thúc, đủ gần để thấy vệt đất dính trên gò má phải ông, đủ gần để nghe ông thở, từng hơi, từng hơi, nông dần, ngắn dần.
"Nghĩa đâu?"
Ông nói.
Nam Kha quay lại nhìn. Nghĩa chưa đến. Nghĩa ở đội Dĩnh Quốc ở phía sau, cậu giữ hậu, đúng lệnh cha. Cậu không biết cha mình đang nằm trên đất, không biết mũi tên đã cắm, không biết cái "giữ hậu nhìn phía sau" mà cha dặn tối qua giờ trở thành lời dặn cuối cùng. Cái không biết ấy lúc này vừa là ân huệ vừa là tàn nhẫn, vì mỗi giây Nghĩa không biết là mỗi giây cậu còn được sống bình thường. Khi cậu biết thì cái bình thường ấy sẽ vỡ, vỡ kiểu không bao giờ lành lại.
"Nghĩa ở phía sau."
Nam Kha nói, giọng khàn. " Để tôi gọi."
Nam Kha quay sang tên lính gần nhất và hét:
"Đi gọi thiếu chủ Nghĩa, nhanh, nhanh."
Tên lính nhìn Dĩnh Khảo Thúc nằm trên đất, mặt trắng ra. Gã gật đầu rồi chạy. Nam Kha quay lại nhìn Dĩnh Khảo Thúc và ông vẫn nằm đó, mắt mở nhìn trời. Anh thấy tay ông đang sờ xuống đất, sờ sang phải tìm gì đó, ngón tay quờ trên mặt đất nứt nẻ. Nam Kha hiểu rằng ông tìm trường mâu.
Trường mâu nằm cách ông bốn bước, rơi trên đất, bám bụi, mũi mâu cắm nhẹ vào đất nứt, cán hướng lên trời. Nam Kha đứng dậy bước đến nhặt, cầm bằng hai tay. Trường mâu nặng hơn anh tưởng,trường mâu này Dĩnh Khảo Thúc vác bằng một tay mà anh cầm bằng hai tay vẫn nặng. Anh mang đến đặt cạnh Dĩnh Khảo Thúc, đặt dọc theo thân ông, cán ngang tay phải ông. Ngón tay Khảo Thúc chạm cán mâu, ông nắm yếu nhưng vẫn nắm. Khuôn mặt ông giãn ra một chút, giãn kiểu người vừa tìm thấy thứ quen thuộc giữa nơi lạ lẫm, dù nơi lạ lẫm ấy là cái chết.
Nghĩa đến.
Cậu chạy xuyên qua hàng lính đang lùi, xuyên qua đám bụi và khói, chạy bằng chân trần vì đã mất một chiếc giày đâu đó trên đường. Cậu chạy mà giáo ngắn vẫn cầm trên tay vì bản năng chiến binh không cho phép buông vũ khí dù đang chạy vì cha. Khi cậu đến nơi, khi cậu nhìn thấy Dĩnh Khảo Thúc nằm trên đất, mũi tên ở vai, máu loang, trường mâu nằm bên cạnh, cậu dừng lại.
Nghĩa dừng không phải dừng vì muốn mà dừng vì chân không bước nổi nữa, dừng kiểu cơ thể phản lại đầu, vì đầu bảo chạy đến cha nhưng mắt bảo "đó là cha đang chết". Cơ thể cậu không biết làm gì với thông tin ấy nên đứng im, đứng như cây cọc giữa chiến trường, giáo trên tay run, môi mở mà không ra tiếng.
Rồi cậu quỳ xuống. Quỳ sụp, đầu gối đập vào đất, tay buông giáo, giáo rơi kêu leng keng rồi lăn sang một bên. Cậu bò đến cạnh Dĩnh Khảo Thúc, bò bằng đầu gối và hai tay, bò kiểu trẻ con bò chứ không phải kiểu chiến binh bò. Khi cậu đến nơi, cậu đưa tay ra chạm mặt cha, chạm vào gò má dính đất của cha. Ngón tay cậu run, run đến mức không vuốt nổi mà chỉ đặt lên đó, đặt như sợ cha vỡ, sợ cha tan, sợ nếu chạm mạnh quá thì cha sẽ biến mất luôn.
"Cha."
Nghĩa gọi.
Giọng cậu vỡ. Không phải vỡ kiểu trẻ con khóc ré lên mà vỡ kiểu hai mươi sáu tuổi vỡ, kiểu một người lớn đang cố giữ giọng mà giọng không nghe lời nữa. Kiểu thanh âm bắt đầu bằng "cha" rồi kéo dài, kéo xuống, nghẹt lại ở cổ họng. Nửa sau của tiếng gọi ấy không phải là âm mà là hơi, hơi thở đứt quãng, hơi thở của người vừa va vào thứ quá to để chịu đựng được.
Dĩnh Khảo Thúc mở mắt nhìn Nghĩa. Và trong mắt ông, lần đầu tiên Nam Kha thấy thứ gì đó mềm, mềm kiểu ông chưa bao giờ để ai thấy, mềm kiểu chỉ con trai mới thấy được ở cha. Cái mềm ấy nhanh lắm, thoáng lắm, vì Dĩnh Khảo Thúc không quen mềm. Ông quen cứng, quen thẳng, quen vác trường mâu đi đầu, nhưng trước mặt Nghĩa, trước giọng gọi vỡ ấy, ông mềm, một nhịp, rồi lại cứng, lại Dĩnh Khảo Thúc.
Ông đưa tay trái lên chạm vai Nghĩa và vỗ một cái. Bàn tay nặng và ấm, đúng kiểu vỗ tối qua, đúng kiểu vỗ mỗi khi ông muốn nói "cha đây" mà không biết nói. Bàn tay ấy giờ yếu hơn, nặng hơn vì máu mất nhiều, nhưng vẫn đặt lên vai con, vẫn nhấn nhẹ. Nghĩa nắm lấy bàn tay ấy bằng cả hai tay, nắm chặt đến trắng đốt ngón, như thể nếu giữ đủ chặt thì cha sẽ không đi.
"Cha, đừng,"
Nghĩa nói và câu ấy vô nghĩa. "Đừng" gì? Đừng chết? Đừng đi? Đừng nằm đây? Cậu không biết mình đang đừng gì, cậu chỉ biết rằng cái chữ "đừng" ấy là tất cả những gì cậu có lúc này. Một chữ duy nhất, ném vào khoảng trống giữa cha sống và cha chết, một chữ nhỏ bé vô nghĩa mà cậu vẫn nói, vì không nói thì không biết làm gì.
Dĩnh Khảo Thúc gãi cằm bằng tay trái, vì tay phải không nhấc nổi nữa. Ông gãi cằm, kiểu gãi cằm mọi khi, kiểu gãi cằm lúc ngồi ăn cơm, lúc nghe Cao Cát trình bày, lúc nhìn lính tập giáo sai. Cái gãi cằm ấy lúc này trên chiến trường, đang chảy máu, nó bình thường đến mức phi lý, bình thường đến mức đau. Vì Dĩnh Khảo Thúc là người bình thường cho đến khi không thể bình thường nữa và cái bình thường cuối cùng của ông là gãi cằm.
"Nghĩa."
Ông nói.
Nghĩa nhìn cha. Nước mắt chảy nhưng cậu không lau, vì hai tay đang giữ tay cha và cậu không buông để lau.
Dĩnh Khảo Thúc nhìn con rồi nhìn sang cây trường mâu nằm dọc bên cạnh, rồi nhìn lại Nghĩa.
"Giáo ta."
Ông nói, hơi thở đứt.
"Giữ lấy."
Dĩnh Khảo Thúc im lặng một nhịp. Ngực ông phập phồng và nông. Ông nhìn con thêm một lần nữa thật lâu, kiểu nhìn mà cả đời ông không bao giờ cho phép mình nhìn ai lâu đến vậy. Rồi ông nói nhẹ, gần như thì thầm, gần như chỉ còn là hơi thoát qua kẽ môi:
"Đời ngắn."
Hai chữ ấy ông đã nói bao nhiêu lần. Nói ở bữa cơm đầu tiên với Nam Kha, "đời ngắn" kiểu người khoát tay bảo đừng nghĩ nhiều. Ông nói với lính trước trận, "đời ngắn" kiểu tướng dặn quân đánh hết sức. Ông nói với Nghĩa bao nhiêu lần mà cậu không đếm, không nhớ, vì nó bình thường quá. Nó là câu cha nói mỗi ngày, như "ăn cơm đi" hay "tập giáo chưa" và cậu nghe mà không nghe, như mọi đứa con nghe cha nói chuyện bình thường mà không biết ngày nào sẽ là lần cuối.
Bây giờ là lần cuối.
Và "đời ngắn" không còn là câu bình thường nữa. Nó là di chúc. Di chúc của người sống thẳng: không dặn dò dài, không kịch tính, không nước mắt mà chỉ hai chữ. Hai chữ mà ông đã nói cả đời và cả đời ấy giờ gói gọn trong hai chữ cuối cùng thoát khỏi miệng ông trước khi ông nhắm mắt.
Rồi Dĩnh Khảo Thúc nhắm mắt.
Không kịch tính, không run, không giật mà chỉ nhắm chậm như nhắm mắt mỗi tối trước khi ngủ. Nam Kha nhìn ông nhắm mắt mà nghĩ rằng ông chết đúng kiểu ông sống: thẳng, gọn, không thừa, không thiếu, không diễn văn, chỉ một cái nhắm mắt rồi đi. Vì Dĩnh Khảo Thúc sống thẳng thì chết cũng thẳng và cái thẳng ấy bây giờ là thứ đẹp nhất và đau nhất Nam Kha từng thấy.
Nghĩa không gọi nữa. Cậu ngồi đó, hai tay vẫn giữ tay cha, tay cha đã buông lỏng nhưng cậu không buông. Nước mắt cậu rơi xuống bàn tay cha, rơi xuống đất khô. Đất khô hút cả nước mắt lẫn máu, hút cùng lúc, không phân biệt.
Xung quanh tiếng đánh vẫn vang ở xa, quân Hứa vẫn thua, lính Trịnh vẫn tiến, trận vẫn diễn ra. Nhưng ở chỗ Khảo Thúc nằm, ở khoảng đất ba bước vuông ấy lại im lặng, im đến mức Nam Kha nghe thấy tiếng gió thổi qua thân mũi tên cắm trên vai ông. Một tiếng rít nhỏ và mỏng, kiểu tiếng chỉ nghe được khi mọi thứ khác đều dừng và mọi thứ ở chỗ này đã dừng.
Dĩnh Quốc đến sau. Ông lê đến, chân phải kéo lết trên đất vì bị xô ngã trong đội hình lúc gió bụi. Hông trái bầm, mặt lấm bụi trộn mồ hôi, giáp lệch, mũ trụ mất một bên dây buộc. Khi ông đến chỗ Dĩnh Khảo Thúc, khi ông nhìn thấy Dĩnh Khảo Thúc nằm trên đất, mắt nhắm, tay nắm trường mâu, máu đã ngừng chảy vì máu đã chảy hết, ông đứng im.
Dĩnh Quốc đứng im rất lâu, rồi ông quỳ xuống. Quỳ một gối, tay phải đặt lên ngực, cúi đầu, không nói. Cái quỳ ấy không phải quỳ theo nghi lễ mà là quỳ theo bản năng, kiểu quỳ của cơ thể khi đầu không điều khiển nổi nữa. Ông quỳ trước Dĩnh Khảo Thúc một lúc lâu rồi ngẩng lên, mắt ông đỏ nhưng khô, vì ông không khóc. Dĩnh Khảo Thúc sống không cho lính khóc thì ông chết Dĩnh Quốc cũng không khóc và ông quay sang Nghĩa.
"Thiếu chủ."
Giọng ông khàn và nặng, hai chữ rơi xuống giữa im lặng như đá rơi xuống nước.
"Có lệnh gì?"
Nghĩa không trả lời. Cậu vẫn giữ tay cha, vẫn nhìn mặt cha. Ông hỏi mà cậu không nghe, hoặc nghe mà không hiểu, vì đầu cậu đang ở chỗ khác, ở chỗ xa lắm, ở chỗ mà bát cơm cha xới còn nóng, ở chỗ mà bàn tay cha còn vỗ lên vai. Cậu không muốn rời chỗ ấy, chưa sẵn sàng rời, vì rời là thừa nhận, và thừa nhận là thật và thật thì cậu không chịu nổi.
Dĩnh Quốc nhìn sang Nam Kha. Trong mắt ông có thứ gì đó hỏi, không phải hỏi bằng lời, hỏi bằng mắt, kiểu mắt của người vừa mất chủ tướng và đang tìm ai đó để theo.
Nam Kha không trả lời ánh mắt ấy. Lúc này anh không có tư cách trả lời, lúc này anh chỉ là người quỳ cạnh Dĩnh Khảo Thúc, người đã cố cứu và thất bại. Cái thất bại ấy nằm đó, nằm trên đất, mũi tên trong vai. Anh không có quyền nhận lấy câu hỏi của Dĩnh Quốc khi xác Dĩnh Khảo Thúc còn chưa nguội.
Anh chỉ nói nhẹ:
"Giữ Nghĩa. Giữ quân. Rút."
Dĩnh Quốc nhìn anh thêm một nhịp rồi gật đầu và đứng lên quay đi. Ông bắt đầu hét lệnh cho lính tập hợp, giọng khàn nhưng chắc, vì ông không cần thời gian để buồn, hoặc ông đã buồn xong trong ba nhịp thở lúc quỳ. Phần còn lại ông dành cho việc phải làm, vì Dĩnh Khảo Thúc dạy ông rằng buồn xong thì đứng dậy, việc không chờ.
Nam Kha đứng lại. Anh đứng một mình bên xác Dĩnh Khảo Thúc, vì Nghĩa đã được hai tên lính dìu đứng dậy, dìu sang bên. Cậu đứng đó, giáo ngắn trên tay, mắt nhìn vào khoảng không trước mặt dù không nhìn gì, không nghe gì. Cậu đang ở trong cái khoảng giữa giữa biết và chấp nhận, cái khoảng mà ai mất cha cũng phải đi qua và không ai đi qua nhanh được.
Nam Kha nhìn Dĩnh Khảo Thúc.
Ông nằm đó, mặt bình thản, mắt nhắm, tay nắm trường mâu. Gương mặt không đau, không buồn, không gì cả, chỉ bình thản. Bình thản kiểu người đã xong, đã sống hết cách mình biết sống và giờ nghỉ ngơi. Cái nghỉ ấy trên gương mặt ông, nó tự nhiên đến mức Nam Kha gần như tưởng ông đang ngủ, đang ngủ trưa ở lán tướng sau bữa cơm, trường mâu dựng ở góc. Rồi chút nữa ông sẽ dậy gãi cằm, nói "ăn bát cơm không".
Nhưng ông sẽ không dậy.
Nam Kha đứng đó một mình và cái một mình ấy khác mọi lần anh từng một mình. Ở thế kỷ 21, một mình là ngồi trong phòng ký túc xá tối đèn, laptop mở, tai nghe cắm và thế giới bên ngoài vẫn ở đó, vẫn chờ, chỉ cần mở cửa là thấy. Ở đây, một mình là đứng giữa chiến trường bên xác người mà anh đã cố cứu suốt mấy tháng, xếp người, bố trí kế, tính từng bước, canh từng góc, và vẫn không đủ. Bây giờ anh đứng đây, biết ai bắn, biết tại sao, biết từ trước, mà không thể nói với Nghĩa rằng "anh đã cố cứu cha em". Vì nói thì Nghĩa sẽ hỏi "sao anh biết trước" và câu hỏi ấy không có câu trả lời nào mà anh có thể nói ra giữa thế giới này. Không thể nói với Dĩnh Quốc rằng "tôi biết Tử Đô bắn" vì Dĩnh Quốc sẽ hỏi "bằng chứng đâu". Và cái biết trước thì không có bằng chứng nào. Anh mang cái biết ấy trong đầu mà không ai chia sẻ được. Lúc này, nó nặng hơn bất cứ lúc nào.
Anh nhìn xuống Dĩnh Khảo Thúc và anh suy nghĩ rất nhẹ, rất buồn rằng nếu ông biết những gì anh biết, ông sẽ nói gì? Có lẽ ông sẽ gãi cằm, nhìn anh rồi nói:
"Đời ngắn. Ăn bát cơm không?"
Vì Khảo Thúc là kiểu người ấy. Và kiểu người ấy bây giờ nằm trên đất, mắt nhắm. Còn Nam Kha đứng đây một mình với hòn đá trong đầu mà không ai trên đời này, không một người, có thể giúp anh đặt xuống.
Nam Kha cúi xuống. Anh rút bông lúa khô từ trong giáp mình ra, bông lúa mà Lĩnh giắt cho anh sáng nay. Bông lúa mỏng mày nâu, gần như không còn hình lúa nữa, chỉ còn sợi. Rồi anh giắt nó vào giáp Dĩnh Khảo Thúc, giắt ở chỗ ngực, giắt nhẹ, ấn sâu vào khe da, đúng cách Lĩnh làm, đúng cách A Sơn đã làm trước trận Kinh, đúng cách nhóm Việt giắt lúa cho nhau mỗi trận. Dĩnh Khảo Thúc không phải người Việt, ông không biết tục này, nhưng Nam Kha giắt, vì ông xứng đáng, vì ông đã cho Nam Kha bát cơm đầu tiên ở thời đại này. Bát cơm ấy nóng và cái nóng ấy Nam Kha sẽ nhớ đến khi nào mình chết.
Anh đứng dậy và không khóc. Mắt anh nặng và tay buông.
Ở xa, Tử Đô đứng trên xe chiến, cung đã cất. Mặt hắn trống rỗng, không vui, không buồn, chỉ trống. Cái trống ấy đáng sợ hơn bất cứ gương mặt giận dữ hay đắc thắng nào, vì người giết mà mặt trống nghĩa là người ấy đã chết từ bên trong trước khi giết.
Phía bên kia, Mị Linh cúi xuống nhặt gì đó trên đất. Nam Kha không nhìn rõ, nhưng anh biết là nàng nhặt mũi tên. Mũi tên Tử Đô bắn nàng giữ làm bằng chứng. Nàng nói sẽ giữ và nàng giữ, vì Mị Linh không biết nói suông.
Nam Kha quay lại nhìn Khảo Thúc lần cuối. Ông nằm đó, bông lúa khô trên ngực, trường mâu bên cạnh, mặt bình thản. Nam Kha nghĩ mà không nói ra, bằng tiếng Việt hiện đại, giữa chiến trường thời Xuân Thu, nhẹ và buồn: ông là người tốt nhất tôi gặp ở đây. Và tôi không cứu được ông.
Rồi anh bước đi. Bước về phía Nghĩa, về phía Dĩnh Quốc đang hét lệnh tập hợp, về phía nhóm Việt đang đứng chờ ở rìa trận, về phía Đăng đứng cầm đại phủ mà mắt nhìn Nam Kha.Trong mắt Đăng có thứ gì đó nặng, kiểu nặng của người hiểu rằng người bên cạnh mình vừa mất gì đó rất lớn mà không biết nói gì. Đăng không nói, Đăng chỉ đứng đó, đại phủ cầm vững, vai thẳng, và cái đứng đó là cách Đăng nói "ta đây". Vì Đăng không biết nói bằng câu, Đăng nói bằng sự có mặt.
Nam Kha đi ngang Đăng và dừng lại một nhịp rồi đi tiếp. Sau lưng anh, chiến trường nằm lại, mùi máu nằm lại, xác Dĩnh Khảo Thúc nằm lại. Trên ngực ông, bông lúa khô nằm lại, mỏng và nâu, nhẹ đến mức gió có thể cuốn đi bất cứ lúc nào. Nhưng nó vẫn ở đó, giắt sâu trong khe giáp, vì Kha đã giắt kỹ, giắt bằng ngón tay run, giắt bằng tay người đã cố cứu và không cứu được. Bông lúa ấy sẽ theo Dĩnh Khảo Thúc xuống đất, sẽ nằm trong mộ ông, sẽ mục cùng giáp, cùng xương, cùng đất. Khi tất cả đã mục, khi hai nghìn bảy trăm năm sau không ai nhớ tên Dĩnh Khảo Thúc ngoài một dòng trong Tả Truyện, bông lúa ấy vẫn ở đó, trong đất, cùng ông, vì có những thứ sách sử không chép nhưng đất nhớ.
Thảo luận
Bình luận chương
0 bình luận
Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên bình luận chương này.