Chương 196: Đò Đêm Chở Người Không Tên
Đăng: 24/07/2026 08:11
1,515 từ
38 lượt đọc
Đọc
Ngạo Thế Cuồng Tôn
Mục lục
350 chương
Chương 171: Cái Kiệu Tịnh Dưỡng Đến Trước Cổng Cung
Chương 172: Trà Lạnh Trong Chén Công Đường
Chương 173: Sổ Thuốc Có Một Trang Bị Cắn
Chương 174: Diêm La Điện Đi Qua Cống Không Mang Dao
Chương 175: Lăng Phủ Bán Một Cây Đèn Cũ
Chương 176: Cố Hàn Chu Không Đạp Qua Vạch Vôi
Chương 177: Hóa Đơn Của Người Khiêng Quan Tài
Chương 178: Mực Xám Gặp Lửa Không Cháy
Chương 179: Người Viết Sổ Được Mời Ăn Cháo
Chương 180: Một Dấu Tay Khóa Ba Cánh Núi
Chương 181: Cờ Khảo Hạch Cắm Ngoài Cửa Đông
Chương 182: Lá Thề Không Được Chấm Máu
Chương 183: Diêm La Mua Một Chỗ Đứng Trong Đám Đông
Chương 184: Bát Thuốc Bị Đếm Từng Giọt
Chương 185: Bài Kiểm Căn Cốt Có Hai Đáy
Chương 186: Hoàng Tôn Muốn Mượn Một Tiếng Cười
Chương 187: Sổ Phí Treo Trên Cổ Người Khác
Chương 188: Cố Hàn Chu Đốt Một Lá Không Cháy
Chương 189: Một Đêm Không Dao Trong Kho Hương
Chương 190: Sổ Thề Trả Lại Một Cánh Cửa
Chương 191: Phong Thư Xám Không Có Chỗ Ngồi
Chương 192: Mười Hai Câu Hỏi Và Một Câu Chửi
Chương 193: Sổ Bạc Bị Gấp Ngược
Chương 194: Hôn Thư Treo Trước Từ Đường
Chương 195: Một Ngày Làm Người Bệnh Ngoan
Chương 196: Đò Đêm Chở Người Không Tên
Chương 197: Dấu Mực Trên Cổ Áo Quan Khách
Chương 198: Cửa Phủ Mở Mà Dao Không Ra
Chương 199: Lời Thề Của Người Quét Sân
Chương 200: Dưới Núi Ký Một Đường Ranh
Chương 201: Niêm Kho Mở Một Mép
Chương 202: Tờ Niêm Giả Trong Bát Cháo
Chương 203: Người Gánh Tro Qua Cửa Bắc
Chương 204: Ba Kho Cùng Một Dấu Tro
Chương 205: Khai Tử Dưới Đèn Lồng Đỏ
Chương 206: Nhẫn Ngọc Chạm Máu
Chương 207: Cửa Cung Không Nuốt Dao
Chương 208: Am Viện Không Đốt Hương Sạch
Chương 209: Một Bát Thuốc Giải Mua Ba Tội
Chương 210: Ba Ngày Đổi Một Cái Tên
Chương 211: Trước Cửa Cung Treo Một Bát Thuốc
Chương 212: Ba Câu Hỏi Đổi Một Roi Đình
Chương 213: Diêm La Điện Không Vào Cung
Chương 214: Lưỡi Câm Dưới Đèn Đen
Chương 215: Ấn Thú Trên Bao Gạo Mốc
Chương 216: Sổ Quân Không Ghi Người Chết
Chương 217: Một Đêm Mượn Tên Người Chết
Chương 218: Sáp Đỏ Không Che Được Mùi Hương
Chương 219: Áo Tang Không Khóc Đúng Người
Chương 220: Cửa Am Mở Bằng Một Lời Chửi
Chương 221: Người Giữ Ấn Không Lộ Tay
Cuộn, vuốt hoặc dùng hai nút để xem thêm Đã tải 51/350 chương
Bến sông phía bắc không ngủ.
Ban ngày nó ồn bằng tiếng người. Ban đêm nó ồn bằng tiếng nước. Dây thừng cọ cọc gỗ, mái chèo đập mạn thuyền, chó hoang sủa bóng, người khuân hàng chửi nhỏ vì trượt chân trên bùn. Trong thứ ồn lẫn lộn ấy, một người biến mất rất dễ. Một người sống sót lại khó hơn nhiều.
Hương phu tên thật là Hà Tứ.
Trong hồ sơ kho hương, hắn chỉ là người khuân lọ. Trong mắt hội thẩm, hắn là nhân chứng phụ. Trong mắt kẻ muốn bịt miệng, hắn là cái gai đủ nhỏ để nhổ không ai khóc.
Hà Tứ bị đưa tới bến vào cuối giờ hợi, áo khoác ngoài đổi thành áo nâu của dân chạy lụt. Hai cấm vệ đi kèm không mặc giáp, một người giả làm anh họ, một người giả làm chủ thuyền thuê. Phía xa còn có hai đệ tử áo xám của Thanh Huyền môn đứng dưới mái quán rượu, không nhìn thẳng nhưng mắt không rời bến.
Diêm La Điện không được giết họ.
Không phải vì thương. Vì một xác cấm vệ ở bến sông sẽ biến lời khai thành án cướp người. Một đệ tử áo xám chết, Thanh Huyền môn có cớ đòi khám cả khu bến. Muốn giữ Hà Tứ sống, phải để mọi kẻ canh tưởng mình vẫn đang thắng.
Tuyến bến sông của Diêm La Điện do một lão bán cá mù một mắt giữ. Lão mù thật, nhưng tai rất tốt. Mười năm nay lão bán cá thối nhiều hơn cá tươi, bị người mắng quen, chẳng ai nghĩ lão nhớ được tiếng bước chân của từng nha dịch qua bến.
Đêm nay lão phải chết một thân phận.
Không phải chết người. Chết tên.
Từ sau đêm nay, lão bán cá mù không thể ở lại kinh. Quầy cá, căn lều, ba cái thùng, con chó vàng, tất cả phải bỏ.
Cái giá ấy được quyết trước khi thuyền cập bến.
Hà Tứ bị đẩy lên một chiếc đò mui thấp. Chủ thuyền cười hề hề, răng vàng, tay run như người nghiện rượu. Cấm vệ kiểm dưới mui, chỉ thấy hai bao gạo, một bó chiếu rách và nửa vò nước. Họ không thấy dưới đáy vò có hai lớp. Lớp trên là nước. Lớp dưới là bùn thuốc trộn mùi cá, đủ che hơi hương lạnh bám trên áo Hà Tứ.
Một đệ tử áo xám bước tới, hỏi: “Đi đâu?”
Chủ thuyền đáp: “Qua bờ lau, đón người bệnh.”
“Đêm nay không chở thêm.”
“Quan gia, không chở thì người bệnh chết bên kia, mai lại bảo dân bọn ta vô lương.”
Đệ tử áo xám nhìn hắn. “Ai cho phép?”
Chủ thuyền chỉ về cấm vệ. Cấm vệ nhíu mày. Họ muốn đi nhanh, không muốn sinh chuyện. Một người phất tay: “Cho nó đi trước, chúng ta theo sau.”
Đò rời bến.
Không ai động dao.
Đến giữa dòng, nước tối như mực. Chủ thuyền bỗng đánh rơi mái chèo. Hắn chửi ầm lên, cúi người mò. Cấm vệ mắng, Hà Tứ run lẩy bẩy. Chính lúc ấy, từ dưới mạn thuyền có một bàn tay bám lên, gắn vào đáy thuyền một túi da nhỏ rồi biến mất. Không leo lên, không nói, không để lại tiếng.
Trong túi da là giấy tự thú giả nghèo.
Hà Tứ sẽ ký rằng hắn vì tham tiền nên từng đổi vị trí lọ hương, nhận bạc của một người không rõ mặt. Lời này không đẹp. Nó làm hắn thành kẻ có tội nhỏ. Nhưng chính tội nhỏ ấy giữ mạng hắn: người có tội đã tự nhận trước Tam ty khó bị biến mất hơn người vô danh chưa nói gì.
Giữ người trước, hồ sơ viết sau.
Đò cập bờ lau. Có một người đàn bà bế trẻ đứng chờ, mặt hốc hác. Đứa trẻ ho rất thật, vì nó đang bệnh thật. Chủ thuyền nhảy lên cãi nhau với đàn bà về tiền. Cấm vệ bực bội quay đi. Hà Tứ bị kéo xuống đi tiểu sau bụi lau, một cấm vệ theo sát.
Trong bụi lau có ba con đường: đường bùn, đường nước nông, đường qua mộ hoang. Hà Tứ không biết đường nào sống. Hắn chỉ biết người cấm vệ sau lưng có tay đặt lên chuôi dao.
Một tiếng chó sủa vang từ bờ bên kia.
Cấm vệ quay đầu đúng một nhịp.
Hà Tứ bị ai đó bịt miệng kéo tụt xuống hố lau. Người kéo hắn không mặc áo đen, không bịt mặt, chỉ là một thiếu niên gầy mặc áo vá của dân chài. Cấm vệ quay lại không thấy người, lập tức rút dao. Nhưng trước mặt hắn, chủ thuyền say rượu đã ngã vào bụi khác, quần còn chưa buộc, miệng chửi Hà Tứ trốn nợ tiền đò.
“Người đâu?” cấm vệ quát.
Chủ thuyền ngơ ngác: “Vừa đi ị mà! Quan gia nhìn ta làm gì? Ta đẹp hơn phân à?”
Cấm vệ đá hắn một cước. Chủ thuyền lăn xuống bùn, la như heo bị chọc tiết. Tiếng la làm đàn bà ôm trẻ khóc theo, đò bên cạnh thắp đèn, người bờ lau xúm lại. Cấm vệ không thể chém giữa đám dân. Hắn thổi còi.
Đệ tử áo xám từ bờ kia lập tức lao thuyền nhỏ qua.
Họ tìm được dấu chân Hà Tứ đi về phía mộ hoang.
Dấu chân ấy là giả.
Hà Tứ thật đang nằm dưới nước nông, thở qua một ống sậy, cả người bôi bùn thuốc tanh đến mức chính hắn cũng muốn nôn. Thiếu niên dân chài giữ gáy hắn, giọng rất nhỏ:
“Muốn sống thì đừng làm anh hùng.”
Hà Tứ run đến nước gợn.
“Ta... ta ký.”
“Biết chữ?”
“Biết tên.”
“Đủ.”
Nửa khắc sau, khi đệ tử áo xám đuổi theo dấu chân giả, Hà Tứ được đưa lên một thuyền chở phân cá. Hắn ký giấy trên nắp thùng, tay run làm chữ Tứ méo như con sâu. Lão bán cá mù một mắt ấn tay hắn xuống dấu bùn, coi như thay mực.
“Sau đêm nay ngươi không còn là Hà Tứ kho hương.” Lão nói. “Ngươi là Hà què nợ tiền đò, bị người đánh rơi xuống nước, được dân vớt. Nhớ chưa?”
Hà Tứ hỏi: “Ta có phải vào tù không?”
Lão mù cười. “Có thể. Tù Tam ty còn hơn quan tài không tên.”
Hắn khóc. Khóc không ra tiếng.
Gần canh ba, giấy tự thú tới tay Phù công công qua một dây phơi áo ở ngõ sau Lăng phủ. Cùng lúc, tin xấu cũng tới: lão bán cá mù đã bỏ quầy, nhưng con chó vàng bị người áo xám dắt đi. Đối phương chưa bắt được người, song đã biết tuyến bến có vấn đề. Ba thân phận phải bỏ trong đêm. Hai căn nhà thuê phải đốt giấy. Một kho ám hiệu gần cầu đá không dùng lại được.
Lăng Tiếu ngồi tựa gối, nghe báo xong không nói ngay.
Hắn rất muốn hỏi con chó có sống không. Nhưng hỏi ra sẽ làm Phù công công khó xử, vì đêm nay có quá nhiều thứ cần nhớ hơn một con chó. Hắn vẫn hỏi.
“Chó vàng?”
Phù công công đáp: “Đã có người theo. Nếu không cứu được, sẽ không để nó bị dùng tìm mùi.”
“Ừ.”
Một chữ nhẹ, nhưng mặt hắn lạnh đi.
Diêm La Điện không phải chuyện kể oai. Nó là người bán cá phải bỏ bến, thiếu niên dân chài ngâm nước lạnh, bà ôm trẻ thật sự bệnh, chủ thuyền ăn một cước, con chó vàng bị dắt đi. Mỗi lần mạng lưới động, có người mất đời sống bình thường.
Phù công công đặt giấy tự thú lên bàn. “Hà Tứ còn sống. Sáng mai Tam ty sẽ nhận người dưới danh nghĩa dân vớt được.”
Lăng Tiếu nhìn chữ méo trên giấy. “Tốt. Đừng để hắn thành anh hùng. Anh hùng chết nhanh.”
“Đối phương sẽ nói lời khai bị Diêm La Điện ép.”
“Vậy càng phải để hắn nhận tội nhỏ trước. Người sợ chết nhận tiền dễ tin hơn người trung nghĩa đột nhiên đứng ra.”
Ngoài cửa, Cung y bước vào với bát thuốc. Mùi thuốc đè lên mùi bùn còn vương trên giấy.
“Uống rồi ngủ.”
Lăng Tiếu nhận bát. “Ngủ được mới lạ.”
“Không ngủ cũng nằm.”
Hắn uống một ngụm, đắng đến cau mặt. “Lão Cung, ngươi có biết bến sông bán cá mù một mắt không?”
“Biết. Cá thối.”
“Từ nay không bán nữa.”
Cung y im lặng một chút. “Vậy kinh thành bớt thối.”
Lăng Tiếu cười, nhưng nụ cười rất mỏng.
Sáng hôm sau, hội thẩm nhận một hương phu ướt sũng, một bản tự thú chữ méo, và tin đồn rằng đêm qua bến bắc có kẻ trốn nợ tiền đò nhảy sông.
Không ai chết.
Nhưng dưới mặt nước, một tuyến của Diêm La Điện đã chìm hẳn.
Ban ngày nó ồn bằng tiếng người. Ban đêm nó ồn bằng tiếng nước. Dây thừng cọ cọc gỗ, mái chèo đập mạn thuyền, chó hoang sủa bóng, người khuân hàng chửi nhỏ vì trượt chân trên bùn. Trong thứ ồn lẫn lộn ấy, một người biến mất rất dễ. Một người sống sót lại khó hơn nhiều.
Hương phu tên thật là Hà Tứ.
Trong hồ sơ kho hương, hắn chỉ là người khuân lọ. Trong mắt hội thẩm, hắn là nhân chứng phụ. Trong mắt kẻ muốn bịt miệng, hắn là cái gai đủ nhỏ để nhổ không ai khóc.
Hà Tứ bị đưa tới bến vào cuối giờ hợi, áo khoác ngoài đổi thành áo nâu của dân chạy lụt. Hai cấm vệ đi kèm không mặc giáp, một người giả làm anh họ, một người giả làm chủ thuyền thuê. Phía xa còn có hai đệ tử áo xám của Thanh Huyền môn đứng dưới mái quán rượu, không nhìn thẳng nhưng mắt không rời bến.
Diêm La Điện không được giết họ.
Không phải vì thương. Vì một xác cấm vệ ở bến sông sẽ biến lời khai thành án cướp người. Một đệ tử áo xám chết, Thanh Huyền môn có cớ đòi khám cả khu bến. Muốn giữ Hà Tứ sống, phải để mọi kẻ canh tưởng mình vẫn đang thắng.
Tuyến bến sông của Diêm La Điện do một lão bán cá mù một mắt giữ. Lão mù thật, nhưng tai rất tốt. Mười năm nay lão bán cá thối nhiều hơn cá tươi, bị người mắng quen, chẳng ai nghĩ lão nhớ được tiếng bước chân của từng nha dịch qua bến.
Đêm nay lão phải chết một thân phận.
Không phải chết người. Chết tên.
Từ sau đêm nay, lão bán cá mù không thể ở lại kinh. Quầy cá, căn lều, ba cái thùng, con chó vàng, tất cả phải bỏ.
Cái giá ấy được quyết trước khi thuyền cập bến.
Hà Tứ bị đẩy lên một chiếc đò mui thấp. Chủ thuyền cười hề hề, răng vàng, tay run như người nghiện rượu. Cấm vệ kiểm dưới mui, chỉ thấy hai bao gạo, một bó chiếu rách và nửa vò nước. Họ không thấy dưới đáy vò có hai lớp. Lớp trên là nước. Lớp dưới là bùn thuốc trộn mùi cá, đủ che hơi hương lạnh bám trên áo Hà Tứ.
Một đệ tử áo xám bước tới, hỏi: “Đi đâu?”
Chủ thuyền đáp: “Qua bờ lau, đón người bệnh.”
“Đêm nay không chở thêm.”
“Quan gia, không chở thì người bệnh chết bên kia, mai lại bảo dân bọn ta vô lương.”
Đệ tử áo xám nhìn hắn. “Ai cho phép?”
Chủ thuyền chỉ về cấm vệ. Cấm vệ nhíu mày. Họ muốn đi nhanh, không muốn sinh chuyện. Một người phất tay: “Cho nó đi trước, chúng ta theo sau.”
Đò rời bến.
Không ai động dao.
Đến giữa dòng, nước tối như mực. Chủ thuyền bỗng đánh rơi mái chèo. Hắn chửi ầm lên, cúi người mò. Cấm vệ mắng, Hà Tứ run lẩy bẩy. Chính lúc ấy, từ dưới mạn thuyền có một bàn tay bám lên, gắn vào đáy thuyền một túi da nhỏ rồi biến mất. Không leo lên, không nói, không để lại tiếng.
Trong túi da là giấy tự thú giả nghèo.
Hà Tứ sẽ ký rằng hắn vì tham tiền nên từng đổi vị trí lọ hương, nhận bạc của một người không rõ mặt. Lời này không đẹp. Nó làm hắn thành kẻ có tội nhỏ. Nhưng chính tội nhỏ ấy giữ mạng hắn: người có tội đã tự nhận trước Tam ty khó bị biến mất hơn người vô danh chưa nói gì.
Giữ người trước, hồ sơ viết sau.
Đò cập bờ lau. Có một người đàn bà bế trẻ đứng chờ, mặt hốc hác. Đứa trẻ ho rất thật, vì nó đang bệnh thật. Chủ thuyền nhảy lên cãi nhau với đàn bà về tiền. Cấm vệ bực bội quay đi. Hà Tứ bị kéo xuống đi tiểu sau bụi lau, một cấm vệ theo sát.
Trong bụi lau có ba con đường: đường bùn, đường nước nông, đường qua mộ hoang. Hà Tứ không biết đường nào sống. Hắn chỉ biết người cấm vệ sau lưng có tay đặt lên chuôi dao.
Một tiếng chó sủa vang từ bờ bên kia.
Cấm vệ quay đầu đúng một nhịp.
Hà Tứ bị ai đó bịt miệng kéo tụt xuống hố lau. Người kéo hắn không mặc áo đen, không bịt mặt, chỉ là một thiếu niên gầy mặc áo vá của dân chài. Cấm vệ quay lại không thấy người, lập tức rút dao. Nhưng trước mặt hắn, chủ thuyền say rượu đã ngã vào bụi khác, quần còn chưa buộc, miệng chửi Hà Tứ trốn nợ tiền đò.
“Người đâu?” cấm vệ quát.
Chủ thuyền ngơ ngác: “Vừa đi ị mà! Quan gia nhìn ta làm gì? Ta đẹp hơn phân à?”
Cấm vệ đá hắn một cước. Chủ thuyền lăn xuống bùn, la như heo bị chọc tiết. Tiếng la làm đàn bà ôm trẻ khóc theo, đò bên cạnh thắp đèn, người bờ lau xúm lại. Cấm vệ không thể chém giữa đám dân. Hắn thổi còi.
Đệ tử áo xám từ bờ kia lập tức lao thuyền nhỏ qua.
Họ tìm được dấu chân Hà Tứ đi về phía mộ hoang.
Dấu chân ấy là giả.
Hà Tứ thật đang nằm dưới nước nông, thở qua một ống sậy, cả người bôi bùn thuốc tanh đến mức chính hắn cũng muốn nôn. Thiếu niên dân chài giữ gáy hắn, giọng rất nhỏ:
“Muốn sống thì đừng làm anh hùng.”
Hà Tứ run đến nước gợn.
“Ta... ta ký.”
“Biết chữ?”
“Biết tên.”
“Đủ.”
Nửa khắc sau, khi đệ tử áo xám đuổi theo dấu chân giả, Hà Tứ được đưa lên một thuyền chở phân cá. Hắn ký giấy trên nắp thùng, tay run làm chữ Tứ méo như con sâu. Lão bán cá mù một mắt ấn tay hắn xuống dấu bùn, coi như thay mực.
“Sau đêm nay ngươi không còn là Hà Tứ kho hương.” Lão nói. “Ngươi là Hà què nợ tiền đò, bị người đánh rơi xuống nước, được dân vớt. Nhớ chưa?”
Hà Tứ hỏi: “Ta có phải vào tù không?”
Lão mù cười. “Có thể. Tù Tam ty còn hơn quan tài không tên.”
Hắn khóc. Khóc không ra tiếng.
Gần canh ba, giấy tự thú tới tay Phù công công qua một dây phơi áo ở ngõ sau Lăng phủ. Cùng lúc, tin xấu cũng tới: lão bán cá mù đã bỏ quầy, nhưng con chó vàng bị người áo xám dắt đi. Đối phương chưa bắt được người, song đã biết tuyến bến có vấn đề. Ba thân phận phải bỏ trong đêm. Hai căn nhà thuê phải đốt giấy. Một kho ám hiệu gần cầu đá không dùng lại được.
Lăng Tiếu ngồi tựa gối, nghe báo xong không nói ngay.
Hắn rất muốn hỏi con chó có sống không. Nhưng hỏi ra sẽ làm Phù công công khó xử, vì đêm nay có quá nhiều thứ cần nhớ hơn một con chó. Hắn vẫn hỏi.
“Chó vàng?”
Phù công công đáp: “Đã có người theo. Nếu không cứu được, sẽ không để nó bị dùng tìm mùi.”
“Ừ.”
Một chữ nhẹ, nhưng mặt hắn lạnh đi.
Diêm La Điện không phải chuyện kể oai. Nó là người bán cá phải bỏ bến, thiếu niên dân chài ngâm nước lạnh, bà ôm trẻ thật sự bệnh, chủ thuyền ăn một cước, con chó vàng bị dắt đi. Mỗi lần mạng lưới động, có người mất đời sống bình thường.
Phù công công đặt giấy tự thú lên bàn. “Hà Tứ còn sống. Sáng mai Tam ty sẽ nhận người dưới danh nghĩa dân vớt được.”
Lăng Tiếu nhìn chữ méo trên giấy. “Tốt. Đừng để hắn thành anh hùng. Anh hùng chết nhanh.”
“Đối phương sẽ nói lời khai bị Diêm La Điện ép.”
“Vậy càng phải để hắn nhận tội nhỏ trước. Người sợ chết nhận tiền dễ tin hơn người trung nghĩa đột nhiên đứng ra.”
Ngoài cửa, Cung y bước vào với bát thuốc. Mùi thuốc đè lên mùi bùn còn vương trên giấy.
“Uống rồi ngủ.”
Lăng Tiếu nhận bát. “Ngủ được mới lạ.”
“Không ngủ cũng nằm.”
Hắn uống một ngụm, đắng đến cau mặt. “Lão Cung, ngươi có biết bến sông bán cá mù một mắt không?”
“Biết. Cá thối.”
“Từ nay không bán nữa.”
Cung y im lặng một chút. “Vậy kinh thành bớt thối.”
Lăng Tiếu cười, nhưng nụ cười rất mỏng.
Sáng hôm sau, hội thẩm nhận một hương phu ướt sũng, một bản tự thú chữ méo, và tin đồn rằng đêm qua bến bắc có kẻ trốn nợ tiền đò nhảy sông.
Không ai chết.
Nhưng dưới mặt nước, một tuyến của Diêm La Điện đã chìm hẳn.
Thảo luận
Bình luận chương
0 bình luận
Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên bình luận chương này.