Chương 235: Tây Các Không Treo Biển
Đăng: 28/07/2026 13:49
1,762 từ
1 lượt đọc
Đại Lý tự sáng ngày thứ ba đông như chợ phiên.
Không phải dân chúng thích xem xử án, mà vì trước cửa nha môn bỗng dựng lên một cánh cửa.
Cửa gỗ cao hơn hai trượng, hai cánh khép kín, sơn xanh đã cố ý mài cũ, trên mặt còn có vết then ngang ăn sâu vào thớ. Hai bên dựng tạm tường đất, phía trên lợp mái ngói cong méo mó, nhìn xa chẳng khác gì một đoạn cung tường bị ai cắt ra rồi vác đến giữa phố.
Lăng Tiếu ngồi trên ghế mây trước cửa giả, một chân gác lên hòm gỗ, tay phe phẩy quạt, dáng vẻ hoàn khố đến mức mấy vị quan vừa xuống kiệu đã muốn quay đầu.
Quan Đại Lý tự mặt đen như đáy nồi: “Lăng Tiếu! Ngươi bị cấm vào cung, lại tụ tập thợ thuyền trước nha môn, dựng vật quái dị làm loạn công đường. Ngươi coi vương pháp là trò đùa sao?”
Lăng Tiếu ngáp một cái: “Đại nhân nói sai rồi. Ta không vào cung. Ta chỉ đem một cái cửa đến cho các vị nhìn. Nếu ngay cả cửa nhà mình từng sửa mà cũng không nhận ra, vậy các vị không phải quan, mà là chuột chui dưới chân tường.”
Đám quan viên đứng sau lập tức biến sắc.
Một ngự sử áo xanh quát: “Miệng lưỡi xấc xược!”
Lăng Tiếu nghiêng đầu nhìn hắn: “Ngự sử đại nhân mắt tốt như vậy, mời ngài nhìn xem, cái cửa này thuộc nơi nào trong cung?”
Ngự sử nghẹn họng.
Hắn làm sao biết?
Trong cung có bao nhiêu cửa, bao nhiêu ngõ, bao nhiêu viện cũ, quan ngoài triều nghe tên còn chưa đủ, nói gì đến nhận cửa. Nhưng nếu không nhận, chẳng khác nào thừa nhận lời mắng của Lăng Tiếu.
Đúng lúc ấy, hơn hai mươi thợ mộc đứng xếp hàng bên phải bước lên. Người nào người nấy mặc áo vải sạch sẽ, tay còn dính vết chai cũ. Phía sau họ là vợ con, cha mẹ, rương gánh buộc chặt, như sắp rời kinh ngay sau một lời khai.
Quan Đại Lý tự cau mày: “Những người này là ai?”
Lăng Tiếu đáp rất nhẹ: “Thợ sửa cung môn năm trước, năm kia, bảy năm trước, mười hai năm trước. Có người từng thay then, có người từng tháo bản lề, có người từng gọt gỗ mục ở Tây các.”
Hai chữ Tây các vừa rơi xuống, trong đám quan viên có người khẽ động mí mắt.
Rất nhanh, lại bình thường.
Nhưng Lăng Tiếu đã nhìn thấy.
Hắn cười: “Xem ra cũng có người biết cái nơi không treo biển ấy.”
Quan Đại Lý tự trầm giọng: “Tây các là chỗ nào? Trong danh mục cung thất đưa đến nha môn không có tên ấy.”
“Bởi vậy mới cần hỏi thợ.” Lăng Tiếu gõ quạt lên hòm gỗ. “Các vị đại nhân chỉ biết ngồi trong phòng xem sổ sạch. Sổ sạch đương nhiên không ghi vết bùn. Nhưng sổ tu sửa cũ của cung thì khác. Tây các không thuộc cung chính, không tiếp khách, không treo biển. Nó chỉ là một phòng sách nhỏ trong cung cũ, hỏng thì gọi thợ, mục thì thay gỗ, không cần báo qua Nội ấn giám từng lần. Người cầm thẻ ra vào nơi ấy cũng không phải đi con đường mà các vị đang canh.”
Ngự sử áo xanh lạnh giọng: “Ngươi lấy đâu ra sổ tu sửa?”
“Ta không lấy.” Lăng Tiếu cười càng ngông. “Ta chỉ mua hết mớ gỗ phế thải năm xưa bị đưa ra ngoài, mời hết thợ từng đụng tay vào đó, trả tiền công gấp mười để họ dựng lại một đoạn cửa. Không trộm, không cướp, không đút bạc cho quan nào. Bạc nhà ta nhiều, thích tiêu cho thiên hạ nhìn.”
Một gã sai dịch ở góc sân lén nuốt nước bọt.
Bạc nhà Lăng Tiếu nhiều hay không hắn không biết, nhưng ba ngày nay, người của Diêm La Điện chạy khắp kinh thành mua gỗ cũ, thuê xe, mời thợ, sắp xếp nhà cửa cho gia quyến thợ mộc rời kinh. Quỹ bạc nổi vốn dùng để mua tin, nuôi tai mắt, giữ đường dây thương hội trong kinh gần như bị vét sạch. Mấy chủ quán quen nhận tiền của Diêm La Điện tối qua còn đứng ngoài cửa đợi, ai cũng biết Lăng công tử lần này tiêu đến rỗng túi.
Chỉ là hắn vẫn cười như vừa vung tiền mua son phấn.
Quan Đại Lý tự nhìn hàng thợ mộc: “Ai dám đứng ra nhận?”
Một lão thợ râu bạc bước lên, quỳ xuống dập đầu: “Tiểu nhân là Phùng Tam Mộc, mười hai năm trước vào cung thay then ở Tây các. Cửa nơi ấy không treo biển, nằm sau dãy tường cũ phía tây vườn trong. Then cửa dài bốn thước ba tấc, lỗ then khoét lệch nửa tấc vì tường cũ bị nghiêng. Gỗ là thanh bách già, ngoài sơn xanh, trong bôi dầu chống mọt.”
Một thợ khác run giọng tiếp: “Tiểu nhân từng gọt cạnh cửa. Mép dưới bên trái bị chó đá chắn mưa làm đọng nước, mục thành hình móng ngựa. Khi thay, quản sự cung dặn không ghi tên Tây các lên phiếu, chỉ ghi ‘phòng sách tây viện’.”
Lăng Tiếu vỗ tay một cái: “Hay. Các vị đại nhân có nghe rõ không? Không phải ta nói. Là người từng cầm đục nói.”
Ngự sử áo xanh nghiến răng: “Thợ mộc nghèo khổ, ngươi bỏ bạc mua lời khai, sao đáng tin?”
Lăng Tiếu bật cười thành tiếng: “Đại nhân nói câu này thật đẹp. Quan trong triều ghi sổ thì sạch, dân nghèo mở miệng thì bẩn. Vậy vương triều này nuôi dân làm gì? Hay chỉ cần nuôi mấy cái miệng biết nói theo ý các vị?”
Sắc mặt ngự sử đỏ bừng: “Ngươi!”
“Đừng ngươi nữa.” Lăng Tiếu đứng dậy, đá nhẹ vào hòm gỗ dưới chân. Nắp hòm bật mở, bên trong là một mảnh gỗ sẫm màu được bọc vải dầu, trên mặt còn dính vết sáp đỏ đã khô. “Đại nhân thích vật chết hơn người sống, vậy nhìn vật chết.”
Quan Đại Lý tự lập tức bước xuống.
Mảnh gỗ ấy được đặt lên án nhỏ. Một thợ mộc lấy thước, đo từng đường nứt, từng vết ăn của then. Lão Phùng Tam Mộc run tay, nhưng mắt sáng lạ thường. Hắn cầm mảnh gỗ áp vào khe then trên cánh cửa giả.
Khớp.
Vết sáp đỏ nằm đúng chỗ then ngang từng đè lên. Đường sứt ở đầu gỗ ăn vào rãnh cửa không lệch một phân.
Đám đông ngoài nha môn ồ lên.
Lăng Tiếu phe phẩy quạt, giọng lười nhác: “Mảnh gỗ này từng dính sáp niêm đỏ, xuất hiện trong đống vật chứng liên quan đến lệnh mật giả truyền qua cung. Ta không thể vào cung, nên đem cung ra ngoài cho các vị nhìn. Các vị nếu còn bảo Tây các không tồn tại, vậy ngày mai ta dựng luôn cả nửa cái hoàng thành ở đây, để các vị tập nhận nhà.”
Quan Đại Lý tự trừng hắn, nhưng khóe miệng lại giật nhẹ như muốn cười mà không dám.
Một viên quan chép án vội ghi lại lời khai. Cấm vệ được gọi đến giữ trật tự. Ngự sử áo xanh vẫn không buông: “Dù Tây các tồn tại, cũng chưa chứng minh nơi ấy là điểm truyền lệnh.”
Lăng Tiếu quay sang nhìn hắn: “Đúng. Cho nên ta còn hỏi được một chuyện nhỏ. Tây các không qua Nội ấn giám, nhưng người ra vào vẫn cần thẻ cũ của cung cũ. Thẻ ấy không phát mới, chỉ chuyển tay giữa vài quản sự già. Mười ngày trước, có một thẻ không trả lại.”
Quan Đại Lý tự lập tức hỏi: “Ai giữ?”
Lăng Tiếu không đáp ngay. Hắn nhìn về phía đám thợ mộc.
Một người trẻ tuổi ôm con nhỏ, mặt trắng bệch, cắn răng bước ra: “Tiểu nhân không thấy người, chỉ từng nghe quản sự gọi là thẻ của Từ công công. Nhưng người cầm thẻ hôm đó mặc áo người hầu lễ Phật, đi lẫn đoàn dâng hương của Thái hậu ra khỏi cửa bắc.”
Không khí trước nha môn lạnh xuống.
Lễ Phật.
Hai chữ ấy vừa vặn đâm vào chuyện nữ quyến Lăng gia bị giữ trong cung. Đoàn lễ Phật của Thái hậu ra vào, ai dám xét? Ai dám lật rèm? Nếu kẻ cầm thẻ đã theo đường ấy rời cung, dây trong nội đình không chỉ có một người.
Lăng Tiếu thu quạt, nụ cười trên mặt nhạt đi một chút.
Hắn biết cái giá hôm nay không nhỏ.
Quỹ bạc nổi của Diêm La Điện đã cạn. Mấy đường tin đang nuôi sẽ phải tạm cắt. Đám thợ mộc vừa khai xong, cả nhà phải rời kinh ngay trong đêm, nếu chậm nửa bước, thứ chờ họ chưa chắc là dao, có thể là một bát thuốc, một vụ cháy, một tờ tội trạng. Còn hắn, ngay khi cánh cửa này dựng lên, tội tụ chúng trước nha môn đã đè xuống đầu.
Quả nhiên, ngự sử áo xanh lập tức chắp tay: “Đại nhân, dù có lời khai, Lăng Tiếu tự ý tụ người, dựng vật chắn cửa công, nhiễu loạn kinh thành, không thể không xử.”
Lăng Tiếu lại cười.
“Xử chứ. Phạt bạc thì ghi nợ, đánh trượng thì nhớ chọn gậy mới. Nhưng trước khi đánh, phiền các vị phái người đuổi theo đoàn lễ Phật kia.” Hắn nghiêng người, giọng bỗng thấp xuống. “Nếu chậm, người giữ thẻ sẽ biến thành tro hương trong một ngôi chùa nào đó. Đến lúc ấy, các vị lại phải hỏi trời vì sao cửa không treo biển.”
Quan Đại Lý tự siết chặt mảnh gỗ dính sáp đỏ, quay đầu quát: “Lập tức tra đoàn lễ Phật rời cung trong mười ngày qua! Niêm lời khai thợ mộc! Cánh cửa này giữ lại làm chứng!”
Cấm vệ tản ra như nước vỡ bờ.
Lăng Tiếu ngồi lại xuống ghế mây, dáng vẻ vẫn lười biếng, nhưng mắt nhìn về phía hoàng thành xa xa lạnh như lưỡi dao mỏng.
Tây các đã lộ.
Nhưng người cầm thẻ đã rời cung.
Mồi nổi lần này không chỉ biết cắn người, mà còn biết trốn dưới tiếng mõ cầu an.
Không phải dân chúng thích xem xử án, mà vì trước cửa nha môn bỗng dựng lên một cánh cửa.
Cửa gỗ cao hơn hai trượng, hai cánh khép kín, sơn xanh đã cố ý mài cũ, trên mặt còn có vết then ngang ăn sâu vào thớ. Hai bên dựng tạm tường đất, phía trên lợp mái ngói cong méo mó, nhìn xa chẳng khác gì một đoạn cung tường bị ai cắt ra rồi vác đến giữa phố.
Lăng Tiếu ngồi trên ghế mây trước cửa giả, một chân gác lên hòm gỗ, tay phe phẩy quạt, dáng vẻ hoàn khố đến mức mấy vị quan vừa xuống kiệu đã muốn quay đầu.
Quan Đại Lý tự mặt đen như đáy nồi: “Lăng Tiếu! Ngươi bị cấm vào cung, lại tụ tập thợ thuyền trước nha môn, dựng vật quái dị làm loạn công đường. Ngươi coi vương pháp là trò đùa sao?”
Lăng Tiếu ngáp một cái: “Đại nhân nói sai rồi. Ta không vào cung. Ta chỉ đem một cái cửa đến cho các vị nhìn. Nếu ngay cả cửa nhà mình từng sửa mà cũng không nhận ra, vậy các vị không phải quan, mà là chuột chui dưới chân tường.”
Đám quan viên đứng sau lập tức biến sắc.
Một ngự sử áo xanh quát: “Miệng lưỡi xấc xược!”
Lăng Tiếu nghiêng đầu nhìn hắn: “Ngự sử đại nhân mắt tốt như vậy, mời ngài nhìn xem, cái cửa này thuộc nơi nào trong cung?”
Ngự sử nghẹn họng.
Hắn làm sao biết?
Trong cung có bao nhiêu cửa, bao nhiêu ngõ, bao nhiêu viện cũ, quan ngoài triều nghe tên còn chưa đủ, nói gì đến nhận cửa. Nhưng nếu không nhận, chẳng khác nào thừa nhận lời mắng của Lăng Tiếu.
Đúng lúc ấy, hơn hai mươi thợ mộc đứng xếp hàng bên phải bước lên. Người nào người nấy mặc áo vải sạch sẽ, tay còn dính vết chai cũ. Phía sau họ là vợ con, cha mẹ, rương gánh buộc chặt, như sắp rời kinh ngay sau một lời khai.
Quan Đại Lý tự cau mày: “Những người này là ai?”
Lăng Tiếu đáp rất nhẹ: “Thợ sửa cung môn năm trước, năm kia, bảy năm trước, mười hai năm trước. Có người từng thay then, có người từng tháo bản lề, có người từng gọt gỗ mục ở Tây các.”
Hai chữ Tây các vừa rơi xuống, trong đám quan viên có người khẽ động mí mắt.
Rất nhanh, lại bình thường.
Nhưng Lăng Tiếu đã nhìn thấy.
Hắn cười: “Xem ra cũng có người biết cái nơi không treo biển ấy.”
Quan Đại Lý tự trầm giọng: “Tây các là chỗ nào? Trong danh mục cung thất đưa đến nha môn không có tên ấy.”
“Bởi vậy mới cần hỏi thợ.” Lăng Tiếu gõ quạt lên hòm gỗ. “Các vị đại nhân chỉ biết ngồi trong phòng xem sổ sạch. Sổ sạch đương nhiên không ghi vết bùn. Nhưng sổ tu sửa cũ của cung thì khác. Tây các không thuộc cung chính, không tiếp khách, không treo biển. Nó chỉ là một phòng sách nhỏ trong cung cũ, hỏng thì gọi thợ, mục thì thay gỗ, không cần báo qua Nội ấn giám từng lần. Người cầm thẻ ra vào nơi ấy cũng không phải đi con đường mà các vị đang canh.”
Ngự sử áo xanh lạnh giọng: “Ngươi lấy đâu ra sổ tu sửa?”
“Ta không lấy.” Lăng Tiếu cười càng ngông. “Ta chỉ mua hết mớ gỗ phế thải năm xưa bị đưa ra ngoài, mời hết thợ từng đụng tay vào đó, trả tiền công gấp mười để họ dựng lại một đoạn cửa. Không trộm, không cướp, không đút bạc cho quan nào. Bạc nhà ta nhiều, thích tiêu cho thiên hạ nhìn.”
Một gã sai dịch ở góc sân lén nuốt nước bọt.
Bạc nhà Lăng Tiếu nhiều hay không hắn không biết, nhưng ba ngày nay, người của Diêm La Điện chạy khắp kinh thành mua gỗ cũ, thuê xe, mời thợ, sắp xếp nhà cửa cho gia quyến thợ mộc rời kinh. Quỹ bạc nổi vốn dùng để mua tin, nuôi tai mắt, giữ đường dây thương hội trong kinh gần như bị vét sạch. Mấy chủ quán quen nhận tiền của Diêm La Điện tối qua còn đứng ngoài cửa đợi, ai cũng biết Lăng công tử lần này tiêu đến rỗng túi.
Chỉ là hắn vẫn cười như vừa vung tiền mua son phấn.
Quan Đại Lý tự nhìn hàng thợ mộc: “Ai dám đứng ra nhận?”
Một lão thợ râu bạc bước lên, quỳ xuống dập đầu: “Tiểu nhân là Phùng Tam Mộc, mười hai năm trước vào cung thay then ở Tây các. Cửa nơi ấy không treo biển, nằm sau dãy tường cũ phía tây vườn trong. Then cửa dài bốn thước ba tấc, lỗ then khoét lệch nửa tấc vì tường cũ bị nghiêng. Gỗ là thanh bách già, ngoài sơn xanh, trong bôi dầu chống mọt.”
Một thợ khác run giọng tiếp: “Tiểu nhân từng gọt cạnh cửa. Mép dưới bên trái bị chó đá chắn mưa làm đọng nước, mục thành hình móng ngựa. Khi thay, quản sự cung dặn không ghi tên Tây các lên phiếu, chỉ ghi ‘phòng sách tây viện’.”
Lăng Tiếu vỗ tay một cái: “Hay. Các vị đại nhân có nghe rõ không? Không phải ta nói. Là người từng cầm đục nói.”
Ngự sử áo xanh nghiến răng: “Thợ mộc nghèo khổ, ngươi bỏ bạc mua lời khai, sao đáng tin?”
Lăng Tiếu bật cười thành tiếng: “Đại nhân nói câu này thật đẹp. Quan trong triều ghi sổ thì sạch, dân nghèo mở miệng thì bẩn. Vậy vương triều này nuôi dân làm gì? Hay chỉ cần nuôi mấy cái miệng biết nói theo ý các vị?”
Sắc mặt ngự sử đỏ bừng: “Ngươi!”
“Đừng ngươi nữa.” Lăng Tiếu đứng dậy, đá nhẹ vào hòm gỗ dưới chân. Nắp hòm bật mở, bên trong là một mảnh gỗ sẫm màu được bọc vải dầu, trên mặt còn dính vết sáp đỏ đã khô. “Đại nhân thích vật chết hơn người sống, vậy nhìn vật chết.”
Quan Đại Lý tự lập tức bước xuống.
Mảnh gỗ ấy được đặt lên án nhỏ. Một thợ mộc lấy thước, đo từng đường nứt, từng vết ăn của then. Lão Phùng Tam Mộc run tay, nhưng mắt sáng lạ thường. Hắn cầm mảnh gỗ áp vào khe then trên cánh cửa giả.
Khớp.
Vết sáp đỏ nằm đúng chỗ then ngang từng đè lên. Đường sứt ở đầu gỗ ăn vào rãnh cửa không lệch một phân.
Đám đông ngoài nha môn ồ lên.
Lăng Tiếu phe phẩy quạt, giọng lười nhác: “Mảnh gỗ này từng dính sáp niêm đỏ, xuất hiện trong đống vật chứng liên quan đến lệnh mật giả truyền qua cung. Ta không thể vào cung, nên đem cung ra ngoài cho các vị nhìn. Các vị nếu còn bảo Tây các không tồn tại, vậy ngày mai ta dựng luôn cả nửa cái hoàng thành ở đây, để các vị tập nhận nhà.”
Quan Đại Lý tự trừng hắn, nhưng khóe miệng lại giật nhẹ như muốn cười mà không dám.
Một viên quan chép án vội ghi lại lời khai. Cấm vệ được gọi đến giữ trật tự. Ngự sử áo xanh vẫn không buông: “Dù Tây các tồn tại, cũng chưa chứng minh nơi ấy là điểm truyền lệnh.”
Lăng Tiếu quay sang nhìn hắn: “Đúng. Cho nên ta còn hỏi được một chuyện nhỏ. Tây các không qua Nội ấn giám, nhưng người ra vào vẫn cần thẻ cũ của cung cũ. Thẻ ấy không phát mới, chỉ chuyển tay giữa vài quản sự già. Mười ngày trước, có một thẻ không trả lại.”
Quan Đại Lý tự lập tức hỏi: “Ai giữ?”
Lăng Tiếu không đáp ngay. Hắn nhìn về phía đám thợ mộc.
Một người trẻ tuổi ôm con nhỏ, mặt trắng bệch, cắn răng bước ra: “Tiểu nhân không thấy người, chỉ từng nghe quản sự gọi là thẻ của Từ công công. Nhưng người cầm thẻ hôm đó mặc áo người hầu lễ Phật, đi lẫn đoàn dâng hương của Thái hậu ra khỏi cửa bắc.”
Không khí trước nha môn lạnh xuống.
Lễ Phật.
Hai chữ ấy vừa vặn đâm vào chuyện nữ quyến Lăng gia bị giữ trong cung. Đoàn lễ Phật của Thái hậu ra vào, ai dám xét? Ai dám lật rèm? Nếu kẻ cầm thẻ đã theo đường ấy rời cung, dây trong nội đình không chỉ có một người.
Lăng Tiếu thu quạt, nụ cười trên mặt nhạt đi một chút.
Hắn biết cái giá hôm nay không nhỏ.
Quỹ bạc nổi của Diêm La Điện đã cạn. Mấy đường tin đang nuôi sẽ phải tạm cắt. Đám thợ mộc vừa khai xong, cả nhà phải rời kinh ngay trong đêm, nếu chậm nửa bước, thứ chờ họ chưa chắc là dao, có thể là một bát thuốc, một vụ cháy, một tờ tội trạng. Còn hắn, ngay khi cánh cửa này dựng lên, tội tụ chúng trước nha môn đã đè xuống đầu.
Quả nhiên, ngự sử áo xanh lập tức chắp tay: “Đại nhân, dù có lời khai, Lăng Tiếu tự ý tụ người, dựng vật chắn cửa công, nhiễu loạn kinh thành, không thể không xử.”
Lăng Tiếu lại cười.
“Xử chứ. Phạt bạc thì ghi nợ, đánh trượng thì nhớ chọn gậy mới. Nhưng trước khi đánh, phiền các vị phái người đuổi theo đoàn lễ Phật kia.” Hắn nghiêng người, giọng bỗng thấp xuống. “Nếu chậm, người giữ thẻ sẽ biến thành tro hương trong một ngôi chùa nào đó. Đến lúc ấy, các vị lại phải hỏi trời vì sao cửa không treo biển.”
Quan Đại Lý tự siết chặt mảnh gỗ dính sáp đỏ, quay đầu quát: “Lập tức tra đoàn lễ Phật rời cung trong mười ngày qua! Niêm lời khai thợ mộc! Cánh cửa này giữ lại làm chứng!”
Cấm vệ tản ra như nước vỡ bờ.
Lăng Tiếu ngồi lại xuống ghế mây, dáng vẻ vẫn lười biếng, nhưng mắt nhìn về phía hoàng thành xa xa lạnh như lưỡi dao mỏng.
Tây các đã lộ.
Nhưng người cầm thẻ đã rời cung.
Mồi nổi lần này không chỉ biết cắn người, mà còn biết trốn dưới tiếng mõ cầu an.
Thảo luận
Bình luận chương
0 bình luận
Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên bình luận chương này.