Nhân Gian Có Màn

Chương 61: Sổ Đá Thạch Tuyền

Đăng: 16/09/2026 10:04 2,787 từ 5 lượt đọc

Sáng ngày hai mươi tháng Chạp, sương muối phủ trắng xóa những mái lán dốc đứng dưới chân thung lũng Thạch Tuyền.

Mùi khói than đá khét lẹt nồng nặc bốc lên từ những miệng lò nung vôi nằm rải rác dọc sườn núi, quyện với hơi lạnh khô khốc phả ra từ các vách đá xẻ dở. Mới đầu giờ Thìn, tiếng choang choang của hàng trăm chiếc búa sắt nện vào mũi đục đã rền vang khắp các hốc núi, át cả tiếng gió bấc gầm gào qua Kẽm Trống.

Trong gian buồng xép của trạm dịch, Chu Bá Cửu dùng nước ấm lau qua mặt cho Vương Quang.

Cơn sốt sau một đêm ngủ chập chờn vẫn chưa dứt, hai gò má Vương Quang ửng đỏ khác thường, nhưng đôi môi khô nẻ lại trắng bệch. Cánh tay phải bị nẹp tre và đai da trâu ghì chặt vào mạng sườn đã mất hoàn toàn khả năng co duỗi; các đầu ngón tay sưng to, lạnh ngắt và thâm tím như quả cà pháo ngâm muối. Mỗi lần dịch chuyển người, khớp bả vai lại truyền xuống một luồng buốt nhói khiến hắn phải nghiến chặt răng.

Hắn dùng bàn tay trái cài lại cúc cổ manh áo chấn thủ, rồi thò tay vào túi da trâu kiểm tra lại ống đồng đựng Lệnh Hành Trình.

"Thầy Ký, ngựa trạm đã đổi xong hai con khỏe chân nhất," Chu Bá Cửu vừa thắt lại bao tải đồ nghề vừa thấp giọng nhắc: "Viên Dịch thừa bảo nếu đi gấp thì cuối ngày hăm hai có thể tới cửa nam phủ Phụng Thiên. Cánh tay này... thực sự không thể lần lữa được nữa."

"Trước chính Ngọ sẽ rời đèo," Vương Quang đáp, giọng khàn đặc: "Sang bãi đá họ Quách trước."

Hắn không nói thêm lời thừa. Chu Bá Cửu hiểu tính khí của viên Ký lục này, chỉ đành nuốt tiếng thở dài vào trong, bước ra dắt ngựa.

Bãi đá mỏ của họ Quách nằm tách biệt ở mạn đông bắc thung lũng Thạch Tuyền, ngay sát cửa thông phong của một hang ngầm ăn luồn vào lòng núi vôi.

Khu xưởng xẻ đá này không thuộc diện các đội thợ trực doanh của Doanh Tạo Ty, mà là một phường thợ tư gia nhận việc công qua nhiều đời. Trước sân xưởng, hàng trăm tảng đá xanh hạt mịn được đẽo gọt vuông vức xếp thành từng dãy dài; những mạt đá vôi trắng mịn bay mù mịt trong không khí, bám trắng xóa trên râu tóc của mấy chục thợ đá cởi trần trùng trục đang ghé vai cẩu đá.

Vương Quang bước qua cánh cổng rào bằng gỗ nghiến của phường thợ, ủng da trâu dẫm lạo xạo trên lớp đá dăm.

Trên chiếc ghế mây đặt dưới mái hiên lán chỉ huy, một người đàn ông trạc ngoài năm mươi tuổi, thân hình vạm vỡ như một khối đá tạc, đang dùng thước đo góc bằng đồng kiểm tra độ phẳng của một mặt bia đá lớn. Thấy hai người lạ mặt bước vào, một người khoác áo chàm nẹp tay đẫm mùi thuốc rịt, người kia xách tráp công vụ, viên thợ cả khẽ nheo đôi mắt sâu hoắm đầy vết chân chim:

"Khách quan tìm ai? Phường đá họ Quách hôm nay ngừng nhận việc đục táng bia, toàn bộ thợ đang dồn sức xẻ đá kè cho Doanh Tạo Ty chuyển về kinh trước ngày hăm ba."

Vương Quang dừng lại cách chiếc ghế mây năm bước chân. Hắn dùng tay trái rút thanh Thiết Xích Khảo Sát ra làm điểm tựa, đồng thời rút tờ Lệnh Hành Trình Khâm Thiên Giám chìa ra:

"Tôi là Vương Quang, Ngoại ngạch Ký lục thuộc Ty Khảo Sát. Quá cảnh Thạch Tuyền để phúc tra đối chiếu kỹ thuật cho công trình luồng lạch Cổ Am."

Nghe đến hai chữ "Cổ Am", bàn tay cầm thước đo góc của viên thợ cả bỗng khựng lại giữa không trung. Gã ngẩng phắt đầu lên, ánh mắt sắc lẹm lướt từ thanh thước sắt có khắc vạch ly tán trên tay Vương Quang sang dải vải chàm bó chặt cánh tay phải của hắn:

"Người của Khâm Thiên Giám?"

"Chính thị," Vương Quang cất giọng ráo hoác: "Phiền Quách chưởng phường cho tra cứu Thạch Tịch và sổ lưu công thời Khai Tự."

Viên thợ cả — Quách Chấn, tộc trưởng phân chi họ Quách kiêm quản lý bãi đá mỏ — chầm chậm đặt chiếc thước đồng xuống mặt bàn mộc. Gã đứng dậy, phủi lớp bụi đá bám trên vạt áo tơi lá, giọng trầm đục:

"Người của nha môn đến đây chỉ để giục nợ đá, chưa từng có ai hỏi đến sổ sách thời Khai Tự. Chuyện bến Cổ Am dưới kia... nghe đồn nước lớn dâng lên đã thông luồng rồi, thuyền gạo Hộ Bộ cũng đã xuôi dòng Nam Định, thầy Ký còn muốn đối chiếu cái gì?"

"Nước dâng là chuyện của dòng sông. Nhưng hồ sơ kỹ thuật của công trình cọc lim nẹp đồng dưới đáy lạch thì chưa hoàn tất," Vương Quang nhìn thẳng vào mắt Quách Chấn, giọng điềm tĩnh nhưng đanh thép:

"Bia đá Khai Tự ở miếu Thủy Khẩu khắc rõ: Họ Phan giữ địa bạ, họ Lê giữ lời khế, họ Quách giữ giàn cọc. Hôm qua tại hiện trường, cọc số một và cọc số năm bị rạn mộng vì chịu lực giằng néo. Nếu không tra cứu nhật ký xẻ đá và nẹp mộng thời Khai Tự để xác định thông số tầng móng và thành phần nẹp đồng, bản phúc tra của Ty Khảo Sát sẽ khuyết thiếu căn cứ vật chất."

Quách Chấn im lặng. Gã nhìn con mắt trái ráo hoác của người thanh niên áo chàm, rồi lại liếc nhìn dấu triện đỏ chót của Khâm Thiên Giám trên tờ lệnh hành trình.

Là phường thợ nhận khoán việc quan qua nhiều đời, Quách Chấn hiểu rất rõ luật chơi của đám Ký lục công môn: những kẻ này không mang đao kiếm, nhưng một nét bút kết luận "sai quy thức" hay "khuyết thiếu hồ sơ nghiệm thu" có thể khiến cả phường thợ bị phạt vạ hoặc thu hồi thẻ công dịch.

"Thầy Ký theo ta vào kho," Quách Chấn thở hắt ra một hơi khói mỏng, quay người bước vào gian nhà đá kiên cố phía sau xưởng.

Gian kho lưu trữ của họ Quách xây hoàn toàn bằng đá hộc dày ba thước, bên trong tối tăm và khô ráo lạ thường.

Không khí nồng nặc mùi mỡ bò quét chống ẩm và mùi nấm mốc của giấy dó lưu niên. Dọc theo hai dãy kệ gỗ nghiến kê sát vách đá là hàng chục hòm gỗ bọc sắt, bên ngoài sơn son những dòng niên hiệu từ thời Khai Tự, Thiệu Phong cho đến Hồng Đức.

Quách Chấn châm ngọn đèn dầu thông, dẫn Vương Quang đi sâu vào góc trong cùng. Gã dừng lại trước một chiếc hòm gỗ lim xỉn màu, trên nắp hòm có gắn chiếc khóa đồng chữ Nhất đã đóng một lớp gỉ xanh dày.

Cạch.

Tiếng then đồng bật mở khô khốc. Quách Chấn dùng hai tay cẩn thận nhấc ra một tập sổ dày đóng bằng chỉ gai, bìa bọc bằng da trâu khô cứng ráp như ngói. Trên mặt bìa khắc chìm năm chữ Hán:

Khai Tự thất niên — Thạch Tác Nhật Ký.

"Đây là sổ ghi chép công thợ và quy thức vật liệu do cụ tổ Quách Thiết Lĩnh lập năm Khai Tự thứ bẩy," Quách Chấn đặt tập sổ lên chiếc bục đá giữa phòng: "Từ sau đợt biến động luồng nước năm đó, cuốn sổ này được cất giữ theo gia quy chứ không ai lật xem nữa."

Vương Quang bước lại gần. Cơn sốt khiến trán hắn rịn mồ hôi cay xè mắt, nhưng ngón tay trái của hắn vẫn cẩn thận lật từng trang giấy bản dày ngâm dầu thông màu vàng sẫm.

Từng dòng chữ viết bằng mực tàu pha mật quạ hiện ra rõ ràng dưới ánh đèn dầu: ghi chép chi tiết về các đợt đục đá làm kè sông Đáy, quy cách các khối đá tai mèo dùng để chèn móng kè, và số lượng đá hộc chở xuống bến Cổ Am.

Đến trang thứ hai mươi tư, ngón tay trái của Vương Quang dừng lại.

Một bản vẽ quy cách bằng mực đen hiện ra trên mặt giấy: mười tám cây cọc lim bát giác, đầu cọc tiện ngàm âm dương, thân cọc có các rãnh xẻ dọc để lồng các thanh nẹp bằng đồng đỏ.

Bên cạnh bản vẽ là những dòng lạc khoản sắc gọn:

“Khai Tự thất niên, tháng Mười một, ngày hăm sáu.

Phụng trát Doanh Tạo Ty và Phủ đường Thạch Tuyền: Gia công mười tám cọc mộng mộc lim Thanh Hoa, dài hai trượng tư, nẹp đồng đỏ bốn mặt.

Quy thức chèn lõi đồng: Dùng khoáng thạch sa tán mịn pha tro vôi nung ở nhiệt độ cao, nhồi kín rãnh cọc để chống mục rữa và giữ độ cứng cơ học khi ngâm bùn.

Tầng cắm mộng: Đóng xuyên qua lớp phù sa và tầng sỏi bồi tích, cắm ngập ba thước vào vỉa đá vôi xanh hạt mịn của lòng lạch.”

Vương Quang nheo mắt đọc từng chữ.

Vật liệu nhồi trong nẹp đồng là một kỹ thuật vật lý cổ xưa: dùng hỗn hợp tro khoáng nung kết hợp với nẹp kim loại để gia cố độ bền của gỗ lim khi chịu áp lực uốn ngầm dưới nước sâu.

Nhưng điều khiến ánh mắt Vương Quang ngưng đọng lại nằm ở góc dưới của trang giấy:

Mục ghi chép: “Nha môn phát lệnh và trích cấp kinh phí”.

Dòng chữ ban đầu viết: “Phủ đường Thạch Tuyền — Chi dụng ngân khố địa phương” đã bị một vệt mực đen gạch ngang xóa bỏ.

Đè lên bên cạnh là một dòng chữ nhỏ viết tay bổ sung:

“Chuyển khoản trích chi: Vật liệu hộ đê luồng vận tải đặc biệt.”

Ngay sát dòng chữ ấy là một con dấu triện son đã nhòe mờ theo năm tháng; phần chữ còn đọc được chỉ còn trơ lại hai chữ triện:

Lương Kho.

Dấu Lương Kho khiến Vương Quang lập tức nhớ đến dải vải gai hắn tìm thấy ở hẻm Độc Đầu bên Lò Vôi Cổ. Hai dấu vết có thể cùng trỏ về một nguồn, nhưng hắn chưa có đủ giấy tờ để kết luận.

Khoản chi mang dấu Lương Kho khiến Vương Quang không thể tiếp tục xem giàn cọc ấy chỉ là một công trình hộ đê địa phương. Ít nhất từ thời Khai Tự, đã có một khoản kinh phí không thuộc ngân khố địa phương chảy vào việc gia cố luồng này.

Vương Quang dùng tay trái giữ chặt mép sổ, cất giọng trầm đục:

"Quách chưởng phường, mười tám cọc này sau khi đóng xuống bãi bồi, phường thợ họ Quách có từng nhận lệnh duy tu hay kiểm tra định kỳ không?"

Quách Chấn lắc đầu:

"Không. Những hồ sơ nghiệm thu liên quan trực tiếp đến công trình bị Hộ Bộ thu hồi niêm phong từ thời ấy. Cuốn nhật ký này là sổ thợ tổ truyền ghi chép ngày công và lượng đá xuất kho nên may mắn nằm lại dưới đáy hòm."

Lão thợ cả dừng lại nửa nhịp, giọng hạ thấp xuống:

"Sau lần ấy, họ Quách không còn được phép nhận việc tại Cổ Am. Chuyện vì sao thì gia phả không ghi."

Quách Chấn ngập ngừng một thoáng, rồi liếc mắt nhìn ra cửa kho, thì thào:

"Hơn nữa... thầy Ký hỏi chuyện cọc lim lúc này... e là đã muộn rồi."

Ngón tay trái của Vương Quang khẽ siết lại: "Lời này của ông có ý gì?"

"Đêm qua... có việc điều động bất thường từ kho đá ngầm của Doanh Tạo Ty," Quách Chấn nuốt khan một ngụm nước bọt: "Nửa đêm canh hai, hơn chục kỵ binh áp giải một cỗ xe thùng bọc sắt vượt qua đèo Thạch Tuyền hướng về kinh kỳ. Thợ đá gác đêm của ta nhìn thấy trên xe bọc sắt dán niêm phong của Tổng Lương Đốc Phủ... Trong thùng xe ấy, người ta bảo không phải chở đá, mà chở một vật dài hơn một trượng được vớt lên từ luồng thủy bến Đáy."

Gã nhìn xoáy vào cánh tay bó nẹp của Vương Quang:

"Thầy Ký từ Cổ Am lên, chẳng lẽ thầy không nghe phong thanh gì sao?"

Một vật dài hơn một trượng được vớt lên từ luồng thủy bến Đáy...

Ý nghĩ về cỗ độc mộc lập tức hiện lên trong đầu Vương Quang. Nếu đúng là nó, vậy trong khoảng thời gian sương mù phủ kín bãi bồi rạng sáng hôm qua, đã có người tiếp cận hiện trường trước khi con nước lớn nuốt sạch mọi dấu vết.

Ngoài đoàn vận tải công khai của Tào Hữu Đức, ít nhất còn có một tuyến điều động khác thuộc Hộ Bộ mà hắn chưa từng được biết.

Một cơn ớn lạnh chạy dọc sống lưng Vương Quang.

Nhưng chỉ trong một thoáng, hắn đã tự kéo mình trở lại giới hạn của chức phận. Hắn là Ngoại ngạch Ký lục của Ty Khảo Sát, không phải ngự sử đài, càng không phải quan viên thụ lý hình án của Hộ Bộ. Hắn không có trát lệnh, không có thẩm quyền, và cánh tay phải của hắn đang đứng trước bờ vực tàn phế. Bước sâu thêm một bước vào đoàn xe bọc sắt lúc này chỉ đồng nghĩa với việc tự rước họa vào thân.

Vương Quang thở ra một hơi dài, nét mặt phẳng lặng:

"Quách chưởng phường, việc điều động xe công là quyền của Thượng Ty, chúng ta là người thừa hành công vụ, không bàn luận."

Hắn rút cuốn sổ quan trắc bọc da dê từ trong túi ra, dùng bàn tay trái kẹp cây bút lông chấm mực, cẩn thận chép lại ba dòng quy thức cốt lõi:

Một: Cọc lim dài hai trượng tư, ngậm mộng âm dương.

Hai: Lõi nẹp đồng chèn khoáng sa pha tro vôi nung.

Ba: Mộng cọc cắm ba thước vào vỉa đá vôi xanh hạt mịn.

Nét chữ tay trái xiêu vẹo nhưng chuẩn xác, đóng kín mắt xích kỹ thuật cuối cùng của hiện trường Cổ Am vào cuốn sổ cá nhân. Cổ tay trái tê cứng vì phải ghìm bút quá lâu; hắn đặt bút xuống, xoa nhẹ các ngón tay để xua đi cảm giác co rút.

Hắn gấp cuốn sổ lại, cài then túi da trâu, rồi chắp tay nghiêng mình trước Quách Chấn:

"Đa tạ Quách chưởng phường đã cho tra cứu Thạch Tịch. Mọi việc đã hoàn tất."

Quách Chấn nhìn người thanh niên áo chàm với ánh mắt đầy vẻ phức tạp. Lão khẽ gật đầu, cài lại then khóa chiếc hòm gỗ lim:

"Thầy Ký bảo trọng. Đèo Kẽm Trống gió độc lắm, đường về kinh kỳ... e rằng còn lạnh hơn nước sông Đáy."

Chính Ngọ ngày hai mươi tháng Chạp.

Tiếng chuông đồng từ điếm tuần Thạch Tuyền vang lên từng hồi báo hiệu cổng đèo mở lối cho ngựa trạm lưu thông.

Ánh nắng mùa đông nhạt nhòa chiếu rọi lên con đường cái quan lát đá dăm dẫn về phương bắc. Bụi đá vôi thung lũng Thạch Tuyền dần lùi lại phía sau lưng.

Vương Quang ngồi trên lưng con ngựa trạm, cánh tay phải bó chặt vào sườn, bàn tay trái nắm chắc dây cương. Bên cạnh hắn, Chu Bá Cửu thúc ngựa song hành, vẻ mặt căng thẳng nhìn con đường thiên lý hun hút xuyên qua những dãy núi đá vôi xám ngắt.

Hồ sơ Cổ Am đã được hắn bổ sung đủ ba mối chứng cứ chính: địa bạ họ Phan, thần khế miếu cổ, và quy thức mộng cọc họ Quách.

Vương Quang không quay đầu nhìn lại Thạch Tuyền.

Trong túi da trâu bên hông, ba dòng quy thức về mười tám cọc lim nằm cạnh bản ghi Cổ Am. Ngoài kia, cách hơn hai trăm dặm đường núi, một cỗ xe bọc sắt đang đi cùng hướng với hắn.

Một người mang hồ sơ về kinh. Một đoàn xe mang vật chứng về kinh.

Chỉ có điều, hai thứ ấy chưa từng được ghi vào cùng một biên bản.

0
Ủng hộ tác giả Cương Vương Nếu bạn yêu thích tác phẩm, hãy ủng hộ mình ly cafe nhé <3