Chương 59: Thông Luồng Khép Hồ Sơ
Nhân Gian Có Màn
Mục lục
62 chươngCuộn, vuốt hoặc dùng hai nút để xem thêm Đã tải 62/62 chương
Mặt trời giờ Mão nhô lên sau rặng xoan rừng, rải một vệt sáng màu lòng đỏ trứng gà xuống mặt nước sông Đáy.
Lớp sương muối buốt giá bao phủ khúc lạch Cổ Am suốt đêm qua bắt đầu loãng dần, tan thành những dải khói mỏng là là trên mặt sóng. Từ phía thượng nguồn, tiếng nước réo ầm ào dội về bến; con nước lớn dâng nhanh cuốn theo phù sa màu nâu đỏ, từng đợt sóng đục ngầu tràn qua bãi sỏi, liếm ngập những dải đá tai mèo lởm chởm rồi dâng thẳng vào lòng lạch cạn.
Nước dâng nhanh đến mức chỉ sau nửa khắc, vết nứt sụt lún dưới đáy bùn đã bị dòng nước nhấn chìm hoàn toàn.
Cỗ độc mộc đen sì cùng mười tám cây cọc lim dần khuất sau lớp nước sâu hơn nửa trượng. Dưới áp lực của dòng nước mùa đông cuồn cuộn, hai sợi cáp bọc đồng nối cọc số một, cọc số năm với cọc số ba chùng xuống, đong đưa theo từng nhịp sóng vỗ. Bốn thanh đòn bẩy gỗ nghiến nêm vào mép đất sụt trưa hôm trước bị sức đẩy của nước bứng bật ra, trôi dạt lềnh bềnh rồi tấp vào chân bờ kè đá hộc. Những mảng bùn non, rơm rác và bọt vàng đục bị con nước cuốn phăng xuôi về phía hạ lưu.
Mặt nước ngã ba sông phẳng lặng trở lại, che giấu toàn bộ vết rạn nứt kinh hoàng dưới đáy lạch, như thể trận phong ba đêm qua chưa từng hiện diện giữa nhân gian.
Trên phiến đá hộc nhô cao sát mép nước, Vương Quang vẫn ngồi quỳ một bên gối.
Cơn sốt sau một đêm dầm mình trong sương buốt khiến môi hắn khô nứt, thâm sì lại, từng thớ thịt trên lưng run lên bần bật dưới lớp áo chàm ướt sũng sương mai. Cánh tay phải mang thanh nẹp đồng đen Chân Thư Bút buông thõng bất lực bên hông; các khớp ngón tay sưng mọng, tím tái, lạnh ngắt và mất hẳn cảm giác. Mỗi nhịp thở dốc đều kéo theo một cơn đau nhói từ mỏm xương cổ tay xộc thẳng lên màng tang, khiến nửa bên đầu hắn buốt rát như bị kim châm. Con mắt phải mờ xám giật liên hồi, hắn phải nheo chặt mí mắt lại, chỉ dùng con mắt trái còn sáng để quan sát biến động của dòng sông.
"Thầy Ký... gượng dậy, vịn vào vai tôi."
Chu Bá Cửu lội qua lớp bùn nước xâm xấp, hai hàm răng đánh vào nhau lập cập vì lạnh. Gã run rẩy ghé vai xốc nách bên trái của Vương Quang, chật vật dùng hết sức bình sinh mới dìu được viên Ký lục đứng thẳng dậy.
Dưới chân hai người, trên phiến đá phẳng nơi bóng người áo sai dịch của Câu Hồn Ty từng đứng lúc rạng đông, mảnh biên lai bằng vải gai thô nhuộm màu tro xám nằm im lìm cạnh tấm thẻ đồng Thủy Khẩu Thần Khế. Trên mặt giấy bản mỏng kẹp trong bàn tay trái cứng đờ của Vương Quang, vết hằn lõm sâu hình lục giác mang bốn chữ Thủy Lộ Khảo Khế vẫn còn vương lại một làn khói tro mỏng ngai ngái mùi đất ẩm — dấu vết duy nhất chứng minh cuộc chạm trán lúc giờ Dần không phải là một cơn mộng mị.
Vương Quang nén cơn choáng váng đang làm trời đất đảo lộn. Hắn dùng những ngón tay trái run rẩy nhặt mảnh vải gai xé góc từ tập Thanh Bộ nhét vào túi áo trong, rồi cúi người nhấc tấm thẻ đồng thau lạnh ngắt lên.
Hắn quay sang nhìn Phan Khắc Tố.
Viên Chủ bạ già của họ Phan vẫn ngồi thụp dưới chân tảng đá kè, hai tay ôm khư khư chiếc tráp gia bảo trước ngực, trán dính đầy bùn đất và trầy xước vì những cú đập đầu sợ hãi đêm qua. Đôi mắt kèm nhèm của lão dại đi, nhìn mặt nước đang dâng lên mà ngực phập phồng nghẹn ứ.
"Phan Chủ bạ, cầm lấy tấm thẻ này." Giọng Vương Quang khàn đặc, khô khốc như tiếng gỗ nứt.
Phan Khắc Tố giật mình thảng thốt, co rúm người lại, hai bàn tay run lẩy bẩy không dám đưa ra đón:
"Thầy... Thầy Ký bảo ta cầm... làm gì? Vật của miếu cổ... ta làm sao dám..."
"Cầm lấy, mang lên miếu Thủy Khẩu, đặt lại vào hốc đá sau bệ thờ hậu cung," Vương Quang ngắt lời, từng lời buông ra khó nhọc nhưng rành rẽ từng chữ: "Sau này ai giữ tráp thì nhớ lấy. Dưới bãi bồi còn một cỗ độc mộc. Đừng tự ý xóa dòng Thủy Khẩu Xứ trên địa bạ, càng đừng đụng vào ba chữ Bất khả khải."
Phan Khắc Tố run rẩy vươn hai bàn tay gầy guộc đón lấy tấm thẻ kim loại phủ gỉ xanh. Cảm giác lạnh buốt từ phiến đồng thau truyền qua da thịt làm lão rùng mình một cái, nhưng ánh mắt lão dần lấy lại một tia thần trí. Lão ôm chặt tấm thẻ cùng chiếc tráp gỗ lim vào lòng, lảo đảo quỳ rạp xuống nền đá trơn trượt, dập đầu ba cái thật mạnh trước mũi ủng của người thanh niên áo chàm:
"Lời thầy Ký dặn... họ Phan chúng tôi xin khắc cốt ghi tâm. Tráp này từ nay về sau chỉ truyền cho tộc trưởng đương nhiệm, tuyệt đối không dám mở bừa bãi trước mặt người ngoài, càng không bao giờ dám động chạm đến tầng đất dưới đáy bãi..."
"Đi đi," Vương Quang phất nhẹ tay trái: "Trước khi tuần đinh và phu thuyền kéo xuống bến, đừng để ai thấy ông cầm vật này."
Phan Khắc Tố lập cập đứng dậy, vạt áo chấn thủ bết đầy bùn đỏ. Lão ôm bọc đồ lầm lũi men theo con đường mòn phủ đầy cỏ may, bóng lưng còng rạp khuất dần sau những rặng xoan rừng mù mịt sương sớm.
Món nợ trần gian của họ Phan tạm thời nằm lại sau cánh cửa hậu cung của ngôi miếu phế tích.
Đến đầu giờ Thìn, tiếng tù và bằng sừng trâu từ trạm dịch trên đỉnh đê rúc lên từng hồi dồn dập.
Mặt trời đã lên cao bằng con sào, xua tan dần lớp hơi lạnh ẩm mốc. Nước sông Đáy dâng cao chạm sát mép đá kè cao nhất, biến khúc lạch cạn thành một vụng nước sâu phẳng lặng.
Tám chiếc thuyền vận tải chở hai ngàn hộc gạo tô của Hộ Bộ bồng bềnh nổi hẳn lên khỏi mặt bùn. Bảy chiếc thuyền đi đầu lấy lại được thăng bằng, lườn thuyền tách rời khỏi những mỏm đá ngầm tai mèo; riêng chiếc thuyền thứ hai bị nghiêng mạn trưa qua nay đã được phu thuyền chằng néo lại, sàn thuyền dốc nhẹ nhưng không còn nguy cơ lật úp.
Đám phu trạm và tuần đinh reo hò ầm ĩ. Tiếng đòn cẩu va đập chan chát, tiếng bước chân huỳnh huỵch nện trên ván sàn gỗ xé tan không khí ngột ngạt bao trùm suốt ba ngày qua.
Tào Hữu Đức từ trên mặt đê chạy sầm sập xuống bến, chiếc áo tơi lá sũng nước đập phần phật vào bắp chân. Mặt mày viên Đốc lại phờ phạc, râu ria xồm xoàm sau một đêm thức trắng canh giữ trên bờ đê, nhưng đôi mắt ánh lên vẻ mừng rỡ đến phát cuồng.
Gã lao thẳng tới bờ kè nơi Vương Quang đang đứng tựa vào một cây cọc tiêu bằng gỗ nghiến, vừa thở hổn hển vừa kêu lớn:
"Vương Ký lục! Nước về thật rồi! Nước lớn từ ngã ba sông Cốc dồn xuống, luồng sông Đáy thông suốt rồi!"
Gã đưa mắt nhìn vụng nước sâu ngập phù sa, nơi cọc gỗ lim, giàn cáp đồng và cỗ độc mộc đã hoàn toàn chìm sâu dưới mặt nước đục ngầu. Một cơn ớn lạnh khẽ chạy dọc sống lưng viên Đốc lại khi nhớ lại tiếng kim loại kéo lê lách cách và luồng gió buốt thấu xương xộc lên mặt đê hồi canh bốn. Gã liếc nhìn cánh tay phải bất động của Vương Quang, thái độ hách dịch, trịch thượng của một viên quan áp tải Hộ Bộ hoàn toàn biến mất, chỉ còn lại sự kiêng dè sâu sắc đối với một kẻ vừa bước ra từ cõi chết.
Tào Hữu Đức vội vã thò tay vào bọc áo nẹp da trâu, rút ra hai tập công văn bọc vải dầu:
"Bốn bao gạo chìm xuống hố sụt trưa qua, ta đã cho phu lặn mò thử nhưng đáy sâu bùn nhão quá, nước chảy xiết không thể chạm tới đáy. Ta đã đích thân lập tờ Tổn Thất Phiếu, kê rõ số lượng hao hụt là bốn hộc gạo tô theo đúng chứng từ của Hộ Bộ. Giờ Thìn này thuyền nhổ neo, xuôi dòng về kho Nam Định trước giờ Ngọ theo đúng hạn định giải trình."
Gã chìa tờ công văn thứ hai ra trước mặt Vương Quang:
"Còn đây là Biên bản bàn giao hiện trường luồng lạch của phủ đường... Cần chữ ký và con dấu của Hành Trình Ký Lục để ta khép hồ sơ trạm dịch, giao trả quyền kiểm soát bến lại cho huyện nha sở tại."
Vương Quang đưa mắt nhìn tờ biên bản trần gian.
Mọi biến động sinh tử, mọi thỏa hiệp rùng rợn giữa ba cõi trong đêm mười tám rốt cuộc đều phải quy về những dòng chữ mực đen ngay ngắn trên mặt giấy bản mỏng. Thể chế trần gian vận hành bằng sự ghi nhận cơ học: thuyền nổi thì đi, hàng mất thì lập phiếu, bờ kè đứng vững thì bàn giao.
"Bá Cửu, chuẩn bị nghiên mực," Vương Quang khẽ bảo.
Chu Bá Cửu vội vàng đặt chiếc nghiên đá xỉn màu lên một mặt tảng đá kè bằng phẳng, dùng nước sông hòa tan thỏi mực tàu đã mòn vẹt, cẩn thận mài từng vòng đều đặn.
Vương Quang thò bàn tay trái vụng về vào túi da trâu, rút ra cây bút lông ngỗng cùn đã tưa ngọn. Ngón tay trỏ và ngón cái của bàn tay trái hắn cứng quắc, kẹp lấy cán bút một cách khó nhọc. Hắn phải tì toàn bộ cẳng tay trái lên mặt đá kè để chống lại cơn run rẩy do sốt cao gây ra.
Ngòi bút chấm đẫm mực đen, đặt xuống góc dưới của tờ biên bản bàn giao. Từng nét chữ Hán hạ xuống nặng nề, xiêu vẹo, góc cạnh và thô dày, xiết mạnh vào thớ giấy bản thô ráp:
“Hành Trình Ký Lục Vương Quang — phụng mệnh quan trắc sự cố bến Cổ Am, xác nhận:
Một: Luồng lạch bến Cổ Am đã phục hồi lưu lượng mặt nước; các phương tiện vận tải công lương đủ điều kiện rời bến an toàn.
Hai: Hiện trường bờ kè đá hộc tạm thời ổn định, kết cấu giàn cọc dưới lòng lạch được bảo lưu nguyên trạng dưới tầng nước sâu.
Ba: Ghi nhận tổn thất bốn hộc gạo tô thuộc đoàn áp tải của Hộ Bộ, nguyên nhân do dòng nước đổi dòng đột ngột làm sụt lở cục bộ nền bùn chân kè.
Bàn giao toàn bộ hiện trường bến bãi, cọc tiêu và trách nhiệm quan trắc luồng lạch lại cho dịch trạm Cổ Am và huyện nha quản hạt kể từ giờ Thìn ngày mười chín tháng Chạp.”
Nét mực cuối cùng kéo dài thành một vệt đậm.
Vương Quang buông cây bút lông ngỗng, ấn ngón tay cái bên trái vào nghiên mực đen nhánh, rồi ấn mạnh xuống góc giấy, để lại một dấu điểm chỉ tròn sẫm đè lên dòng chữ ký tay trái gãy khúc của mình.
Tào Hữu Đức cẩn thận đón lấy tờ biên bản, nhìn nét chữ xiêu vẹo đẫm mồ hôi và dấu mực đen còn ướt, rồi ngước nhìn khuôn mặt xám ngắt của Vương Quang. Viên Đốc lại chắp tay nghiêng mình, giọng nói trầm xuống đầy chân thành:
"Ơn cứu mạng và giữ cho đoàn thuyền không bị lật úp đêm qua... Tào mỗ xin ghi lòng tạc dạ. Khúc sông này dữ lắm, mong Vương Ký lục sớm tìm thầy lang nắn lại cánh tay."
Tu... u... u...!
Tiếng tù và bằng vỏ ốc rúc lên từng hồi giòn giã trên mặt đê, báo hiệu giờ xuất bến.
Bảy chiếc thuyền còn lại, chở một ngàn chín trăm chín mươi sáu hộc gạo tô, đồng loạt giương những cánh buồm cánh dơi bằng vải nâu bạc phếch. Dưới sức đẩy của dòng nước lớn mùa đông, những con thuyền nặng nề từ từ tách khỏi bờ kè đá hộc, nương theo luồng nước sâu xuôi về phía hạ lưu sông Đáy. Tiếng hò chèo đò của đám phu thuyền vang vọng khắp khúc sông mênh mông, xua tan nốt những tàn tích âm u của bãi bồi Cổ Am suốt những ngày đông giá buốt.
Đến chính Ngọ ngày mười chín tháng Chạp, trạm dịch Cổ Am hoàn toàn vắng lặng.
Đoàn thuyền lương đã đi xa, đám tuần đinh huyện nha sau khi nhận bàn giao cũng rút về huyện lỵ để chuẩn bị sổ sách cuối năm. Gian buồng xép ẩm mốc chỉ còn lại tiếng gió rít qua khe nứa khô khốc.
Chu Bá Cửu dùng chiếc dao nhỏ cẩn thận rọc dải băng vải bết máu ra khỏi cẳng tay phải của Vương Quang. Mùi mủ tanh nồng quyện với mùi gỉ đồng bốc lên nồng nặc.
Thanh nẹp đồng đen Chân Thư Bút tháo ra để lộ cẳng tay sưng phù, lớp da xung quanh vết thương bầm tím như màu vỏ cây ổi. Miệng vết loét bị đinh tán cấn sâu vào thịt đã bắt đầu rỉ ra thứ dịch mủ màu vàng nhạt. Chu Bá Cửu cắn răng dùng rượu thuốc rửa sạch vết thương, rồi lấy một tấm nẹp tre mới, bọc ngoài thanh đồng đen, dùng những dải vải xô sạch bó chặt lại từ khớp khuỷu tay xuống tận lòng bàn tay.
Cuối cùng, gã dùng hai vòng dây da trâu buộc chặt toàn bộ cánh tay phải của Vương Quang ép sát vào khung xương sườn bên phải, cố định hoàn toàn để tránh mọi va chấn khi cử động.
Khớp cổ tay phải của Vương Quang đã cứng đờ như một khúc gỗ mục. Mỗi cử động nhỏ của bả vai đều làm hắn toát mồ hôi hột, toàn thân run rẩy. Hắn biết rõ: gân tay đã tổn hại nghiêm trọng, nếu không về được kinh kỳ tìm ngự y của viện Thái Y chữa trị, bàn tay phải này coi như phế bỏ, vĩnh viễn không thể cầm bút viết lại những nét chữ thanh mảnh của một Ký lục công môn.
Hắn ngồi một mình bên chiếc bàn mộc, con mắt trái nhìn chăm chú vào chiếc túi da trâu sờn rách đặt trước mặt.
Hắn thò bàn tay trái vụng về rút chiếc ống tre bịt sáp giắt bên hông ra, xoay nhẹ nắp đậy.
Bên trong ống tre có hai món đồ không được ghi vào bất kỳ biên bản bàn giao nào của trần gian:
Món thứ nhất là tờ Biên bản phúc tra hiện trường tạm thời mang vết hằn lõm sâu hình lục giác của chiếc ấn triện đá đen Thủy Lộ Khảo Khế, đi kèm mảnh biên lai bằng vải gai thô rách mép của Câu Hồn Ty. Bản thỏa hiệp này vừa giữ lại hiện trường, vừa để lại cho Vương Quang một khoản trách nhiệm chưa khép: nếu luồng lạch sông Đáy một lần nữa bị xâm phạm hoặc cỗ độc mộc bị đào xới, hắn vẫn là người phải đứng ra chịu sự truy xét của cõi âm.
Món thứ hai là dải vải gai thu được từ hẻm Độc Đầu bên Lò Vôi Cổ, mang con dấu triện màu đỏ bầm của Hộ Bộ — Lương Kho cùng dòng chữ: “Vật liệu áp tải luồng thủy — Chi dụng công trình Cổ Am”.
Vương Quang nhìn chăm chú vào dòng chữ son ấy.
Những vết nứt tưởng chừng ngẫu nhiên ở ngã ba sông Đáy này dường như đều đang chỉ về cùng một đầu mối: một công trình ngầm có quy mô không nhỏ, được dựng từ rất lâu dưới danh nghĩa vận tải lương kho... chiếc lò vôi ngầm bí mật có dấu vết liên quan đến Dương Hữu Định... và những dấu vết còn sót lại cho thấy nó có thể chưa hoàn toàn bị bỏ mặc.
Còn nó được dựng để làm gì, vì sao đến nay vẫn còn dấu vết, Vương Quang chưa có đủ giấy tờ để trả lời.
Nhưng hắn là một Ký lục ngoại ngạch mang trên mình thương tật dập gân. Nhiệm vụ của hắn tại bến Cổ Am đã hoàn tất; quyền hạn của hắn không cho phép chạm tay sâu hơn vào việc vận hành của các nha môn thuộc lục bộ kinh kỳ khi chưa có trát lệnh chính thức. Hồ sơ vượt cấp là lưỡi dao tự chặt đầu mình.
Hắn cẩn thận cuộn dải vải gai và bản biên bản cõi âm lại, nhét sâu xuống đáy chiếc túi da trâu, cài then khóa kép.
Một hồ sơ treo. Hắn sẽ lưu giữ nó vào cuốn sổ tay quan trắc cá nhân, chờ ngày bước chân về lại nha môn trung ương.
"Thầy Ký, ngựa của trạm dịch đã thắng yên cương dưới chân đê rồi," Chu Bá Cửu bước vào, xách theo chiếc tráp đồ nghề nhẹ tênh: "Đường về Thạch Tuyền gió lạnh lắm, chúng ta phải đi ngay mới kịp qua đèo trước khi trời tối."
Vương Quang khẽ gật đầu. Hắn khoác lại tấm áo chàm cũ rách, dùng vai trái đẩy cánh cửa liếp bước ra ngoài.
Dưới chân đê bến Cổ Am, dòng sông Đáy cuồn cuộn chảy xiết về phương nam, mặt nước lấp loáng ánh nắng trưa nhạt nhòa của những ngày giáp Tết. Dấu vết của bãi bùn lún, hố sụt ngầm và những chiếc cọc lim nẹp đồng đều đã bị con nước mùa đông vùi sâu dưới tầng phù sa lạnh ngắt.
Vương Quang dùng tay trái nắm chặt dây cương, chật vật tựa người vào vai Chu Bá Cửu để trèo lên lưng con ngựa trạm.
Một khúc sông đã khép lại trên giấy mực. Nhưng trong cuốn sổ của người Ký lục, vẫn còn một dòng chưa thể đóng dấu.
Thảo luận
Bình luận chương
0 bình luận
Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên bình luận chương này.