Chương 60: Dịch Lộ Thạch Tuyền
Nhân Gian Có Màn
Mục lục
62 chươngCuộn, vuốt hoặc dùng hai nút để xem thêm Đã tải 62/62 chương
Gió bấc qua đèo Kẽm Trống thổi ràn rạt qua những vách đá vôi xám ngắt, rít lên từng hồi căm căm như tiếng đá cọ vào sắt.
Con đường liên trạm từ bến Cổ Am vắt ngược lên mạn tây bắc men theo triền núi đá dăm lởm chởm. Càng rời xa mặt sông Đáy, mùi phù sa ẩm mốc càng nhạt dần, nhường chỗ cho mùi bụi đá vôi khô khốc quyện với hơi lạnh hanh hao của những ngày cận Tết. Từng vệt bụi trắng li ti bị vó ngựa dẫm tung lên, bám thành một lớp màng mỏng bàng bạc trên vạt áo chàm và bờm ngựa.
Vương Quang ngồi gập người trên lưng con ngựa trạm lông khoang.
Mỗi bước sẩy chân của con vật trên nền đá dăm gập ghềnh đều truyền một cú xóc nảy dữ dội từ bàn đạp sắt lên sống lưng, dội thẳng vào cánh tay phải đang bị trói nghiến trước ngực. Khung nẹp tre bọc ngoài thanh đồng Chân Thư Bút bị hai vòng đai da trâu siết chặt vào mạng sườn, nhưng các đầu xương cổ tay vẫn nghiến vào nhau ken két. Vết thương dập gân sau hơn nửa ngày cưỡi ngựa đã căng nhức như có chì nóng đổ vào trong tủy; từng cơn sốt âm ỉ khiến hai bên thái dương hắn giật giật, trán đẫm mồ hôi dù gió núi táp vào rát buốt.
Bàn tay trái của hắn níu chặt dây cương da bò đã sờn chỉ, ngón tay tê dại vì cóng. Bên mắt phải mờ xám chỉ nhìn thấy những khối đá vôi chập chờn như những bóng ma khổng lồ đứng sừng sững bên mép vực.
"Thầy Ký... qua khúc cua này là tới điếm tuần Thạch Tuyền rồi," Chu Bá Cửu thúc con ngựa thồ bám sát phía sau, cất tiếng gọi giật qua tiếng gió rít: "Trời sắp sụp tối, sương núi xuống nhanh lắm, phải vào trạm trước giờ Tuất kẻo lính tuần đóng cổng đèo."
Vương Quang khẽ gật đầu, hàm răng cắn chặt môi dưới để ghìm lại một tiếng rên khi con ngựa trượt móng trên một phiến đá rêu. Hắn dùng con mắt trái nhìn về phía trước.
Qua rặng sau sau trơ trụi lá, thung lũng Thạch Tuyền hiện ra dưới ánh hoàng hôn đỏ quạch như máu gà.
Khác hẳn với vẻ hoang lương, ngột ngạt của bãi bồi Cổ Am, Thạch Tuyền là một đại công trường đá vôi khổng lồ ăn sâu vào sườn núi. Hàng trăm lò nung vôi cổ và lán thợ xẻ đá dựng tạm bợ bằng tranh tre nằm san sát dưới chân các vách núi bị khoét nham nhở. Khói từ các lò đốt bốc lên nghi ngút, quyện với bụi đá vôi trắng xóa bao phủ cả một vùng thung lũng trong màn sương mù mờ mịt.
Dọc theo con đường cái lát đá hộc dẫn vào dịch trạm, hàng chục cỗ xe quặng hai bánh bằng gỗ nghiến do trâu mộng kéo đang ì ạch nhích từng bước một. Trên mỗi cỗ xe là một khối đá vuông vức dài hơn một trượng, bốn góc chằng dây chão xơ dừa to bằng cổ tay, trên mặt đá đều có khắc chìm một dấu triện vuông vức của nha môn quản lý: Công Bộ — Doanh Tạo Ty.
Tiếng búa tạ đập đá chan chát, tiếng đục sắt ken két và tiếng quát tháo của cai đội vận tải dội vào vách núi vang rền, tạo thành một nhịp điệu nặng nề của hàng trăm phu dịch và xe công đang dồn việc trước ngày tất niên.
Trạm dịch Thạch Tuyền nằm ngay đầu con dốc dẫn vào mỏ đá, được xây cất kiên cố bằng đá hộc xếp chồng trát vữa mật mía, bên ngoài có rào gỗ nghiến bao quanh và một vọng gác cao ba trượng.
Trước cổng trạm, hai cây cọc tiêu cắm cờ đuôi nheo màu vàng sẫm của Ty Trạm Mã phần phật bay trong gió lạnh.
Chu Bá Cửu nhảy xuống ngựa, vội vàng chạy lại đỡ lấy mạn sườn trái của Vương Quang. Khi hai bàn chân chạm xuống nền đá dăm lạo xạo, đầu gối Vương Quang mềm nhũn ra, toàn thân chao đảo; nếu không có Chu Bá Cửu ghì chặt nách áo, hắn đã ngã quỵ xuống đất. Hắn đứng bất động chừng nửa khắc để trấn tĩnh cơn choáng váng do sốt, rồi dùng bàn tay trái vuốt thẳng lại vạt áo chàm lấm lem bụi đá.
"Đi vào điếm sở," Vương Quang thều thào qua hơi thở khô nóng.
Bên trong phòng công vụ của trạm dịch, một lò than củi đỏ rực đặt giữa gian nhà tỏa ra hơi nóng ấm áp nhưng ngột ngạt mùi tro nồng.
Trên chiếc sập gỗ lim kê sát vách, một viên Dịch thừa trạc ngoài bốn mươi tuổi, khoác áo chấn thủ bọc dạ xanh, đang cắm cúi đối chiếu những cuộn thẻ tre ghi số hiệu các chuyến xe đá qua đèo. Thấy tiếng ủng nện trên bậu cửa, viên chức ngẩng đầu lên, ánh mắt lướt qua bộ dạng tơi tả, cánh tay phải bó nẹp chặt vào sườn và khuôn mặt xám ngắt của Vương Quang, mày khẽ nhíu lại:
"Trạm Thạch Tuyền giờ này chuẩn bị khóa sổ đóng đèo. Khách trạm hay dịch mã chuyển công văn?"
Vương Quang bước tới mép bàn mộc, dùng tay trái tháo chiếc ống đồng giắt bên hông, rút ra tờ Lệnh Hành Trình mang dấu triện đỏ chót của Ty Khảo Sát thuộc Khâm Thiên Giám, đặt phẳng phiu lên mặt bàn:
"Khâm Thiên Giám Ngoại ngạch Hành Trình Ký Lục Vương Quang, phụng lệnh khảo sát thủy trình sông Đáy hồi kinh. Quá cảnh trạm Thạch Tuyền xin lưu trạm một đêm và xin chứng thực vào Lộ Trình Phiếu."
Viên Dịch thừa nghe đến bốn chữ "Khâm Thiên Giám", vẻ uể oải lập tức biến mất. Gã cầm tờ lệnh lên soi dưới ánh đèn dầu lạc, cẩn thận kiểm tra từng nét triện son và dòng niên hiệu, rồi ngước nhìn cánh tay phải của Vương Quang:
"Thầy Ký từ mạn Cổ Am lên?"
"Chính thị."
Ánh mắt viên Dịch thừa lóe lên một tia dị sắc:
"Trưa nay, thuyền tuần kiểm của phủ đường mang trát báo hỏa tốc qua trạm gác bến Đáy, nói luồng sông Cổ Am trưa hôm qua bất ngờ sụt lún làm thất thoát bốn hộc gạo tô của Hộ Bộ, nhưng đến sáng nay con nước lớn đột ngột dâng cao, toàn bộ đoàn thuyền áp tải của Tào Hữu Đức đã qua khỏi luồng an toàn. Phủ đường còn sức giấy hỏi trạm xem có thấy tung tích viên Ký lục Khâm Thiên Giám thụ mệnh đi khảo sát luồng lạch hay không... Hóa ra thầy Ký đã vượt đèo lên tới đây."
Gã đặt tờ lệnh xuống bàn, cầm nghiên mực đá kéo lại gần:
"Tay của thầy Ký... là bị đá đè ở công trường Cổ Am?"
"Sự cố ngoài bãi bồi, bị đòn bẩy va trúng," Vương Quang đáp nhạt, giữ đúng quy tắc công môn: những gì không nằm trên mặt giấy bàn giao thì không mở miệng giải thích.
Viên Dịch thừa gật gù, không gặng hỏi thêm. Chốn quan trường ranh ma, gã thừa hiểu những vụ việc dính dáng đến luồng thủy, gạo Hộ Bộ và người của Khâm Thiên Giám luôn có những vùng tối không nên tò mò. Gã rút cây bút lông chấm mực đỏ, viết ngay ngắn vào góc dưới tờ hành trình:
“Giờ Tuất, ngày mười chín tháng Chạp. Tiếp nhận Ngoại ngạch Ký lục Vương Quang lưu trạm Thạch Tuyền, kiểm tra đúng người, đúng phù hiệu công môn.”
Gã đóng một dấu triện vuông bằng đồng của trạm dịch đè lên dòng chữ, rồi đẩy lại cho Vương Quang:
"Thầy Ký bị thương nặng thế này, trạm có một gian xép phía sau kho chứa bạt xe đá, tương đối kín gió. Lát nữa ta bảo phu trạm mang cho hai bát cháo kê nóng với ít than củi."
"Đa tạ Dịch thừa," Vương Quang dùng tay trái cuộn tờ lệnh lại, nhét vào ống đồng: "Xin hỏi trong trạm hoặc quanh khu mỏ... có thầy lang nào biết thuật nắn xương không?"
Viên Dịch thừa thở dài, lắc đầu:
"Dưới chân mỏ chỉ có lão thợ rèn kiêm việc nẹp xương cho đám phu đá bị sập hầm. Nhưng lão chỉ biết bó thuốc lào với nẹp tre cho gãy xương kín. Còn cánh tay của thầy Ký... nhìn lớp da thâm đen và mùi dịch rỉ ra kia, gân cốt bên trong đã dập nát, khớp xương cổ tay trật hẳn ra ngoài rồi. Thợ rèn đụng vào chỉ có nước tàn phế cả bàn tay."
Gã ghé sát lại, hạ thấp giọng:
"Muốn giữ lại bàn tay để cầm bút, thầy Ký chỉ có một con đường: ráng nhịn đau về tới kinh kỳ trước ngày ba mươi Tết. Ở phường Thái Y ngoài cửa Đông có viện tế sinh của các quan ngự y về hưu, may ra họ có thuốc bí truyền nối gân trật khớp. Nhưng từ đây về kinh còn hơn hai trăm dặm đường núi, đi ngựa nhanh cũng phải mất ba ngày đêm..."
Gian buồng xép sau kho bạt của trạm dịch Thạch Tuyền lạnh buốt như một hầm đá.
Gió luồn qua những khe ván ghép rít lên từng hồi u u. Chu Bá Cửu nhóm được một đống than củi trong chiếc chậu sành sứt mép, mang lại chút hơi ấm le lói giữa bốn bức tường đá hộc nhớp nháp hơi nước.
Vương Quang ngồi tựa lưng vào góc tường, trút bỏ tấm áo chấn thủ chần bông.
Chu Bá Cửu cẩn thận dùng nước nóng pha muối cạo sạch lớp mủ vàng đóng vảy quanh các kẽ ngón tay phải của hắn. Khi khăn ấm chạm vào miệng vết loét do đinh nẹp đồng cấn sâu, toàn thân Vương Quang khẽ co giật một nhịp, nhưng ánh mắt hắn vẫn lạnh tanh, nhìn chăm chú vào ngọn lửa than đỏ rực.
"Thầy Ký... lão Dịch thừa nói đúng đấy," Chu Bá Cửu vừa quấn lại dải băng vừa rụt rè nói: "Cánh tay này không thể trì hoãn được nữa. Sáng mai vừa mở cổng đèo, tôi sẽ đổi hai con ngựa trạm khỏe nhất, đưa thầy chạy thẳng một mạch về phủ Phụng Thiên. Chậm chân là hỏng cả đời người..."
"Không chạy thẳng được," Vương Quang cất giọng khàn đặc: "Sáng mai phải ghé qua bãi đá mỏ của họ Quách."
Chu Bá Cửu giật thót mình, chiếc kẹp sắt trên tay suýt rơi xuống chậu than:
"Thầy... Thầy vẫn còn muốn đi tìm họ Quách sao? Sự việc ở Cổ Am đã xong rồi, biên bản đã ký, Tào Hữu Đức đã đưa thuyền gạo đi rồi mà!"
"Chưa xong."
Vương Quang dùng tay trái thò vào đáy túi da trâu, rút ra cuốn sổ nhật ký quan trắc bọc da dê đã sờn rách mép. Hắn lật mở những trang giấy bản đã ố vàng, dừng lại ở trang vẽ sơ đồ mười tám cọc lim nẹp đồng ở bãi bồi:
"Bia đá Khai Tự ở miếu Thủy Khẩu ghi rõ: Họ Phan giữ địa bạ, họ Lê giữ lời khế, họ Quách giữ giàn cọc.
Ở Cổ Am, Phan Khắc Tố đã trả lại Thần Khế vào miếu, họ Lê đã có dấu triện của Câu Hồn Ty trên bản phúc tra. Nhưng mười tám cọc lim nẹp đồng dưới lòng sông Đáy là do thợ đá họ Quách ở Thạch Tuyền này đẽo gọt và nẹp mộng từ thời Khai Tự."
Hắn ngước con mắt trái nhìn Chu Bá Cửu, từng chữ đanh lại:
"Ta cần phải xem sổ lưu trữ khai thác đá thời Khai Tự của họ Quách để biết chính xác mười tám cọc ấy được đẽo từ tầng đá nào, và trong phần nẹp đồng có pha thứ vật liệu gì. Nếu không ghi nhận rõ thông số kỹ thuật ấy vào bản tấu trình nộp lên Ty Khảo Sát, bản phúc tra của ta chỉ là một tờ giấy chắp vá nửa vời."
Hắn dừng lại nửa nhịp, giọng chìm xuống:
"Bỏ dở một mắt xích đồng nghĩa với việc để lại một lỗ hổng cho kẻ đến sau — hoặc cho chính hắn, nếu một ngày hồ sơ này bị lật lại từ phía bên kia."
Đó là sự bướng bỉnh tột cùng của một Ký lục công môn.
Đối với Vương Quang, một hồ sơ hành chính chỉ thực sự khép lại khi mọi mắt xích vật chất đều được định danh và lưu trữ đúng vị trí của nó trong văn khố.
Chu Bá Cửu nhìn vẻ mặt kiên định của viên Ký lục trẻ tuổi, chỉ biết thở dài sụp bả vai xuống, không dám khuyên can thêm một lời.
Canh ba điểm.
Tiếng kẻng bằng sắt của điếm tuần Thạch Tuyền gõ ba tiếng khô khốc dội qua màn sương đêm:
Keng... Keng... Keng...
Cơn sốt trong người Vương Quang sau khi uống bát thuốc lá rừng của phu trạm đã hạ bớt phần nào, nhưng cánh tay phải vẫn cứng đờ như một khúc củi mục.
Hắn ngồi một mình bên chiếc chậu than củi đã tàn quá nửa. Bằng bàn tay trái vụng về, hắn kẹp lấy chiếc bút lông cùn, chấm vào nghiên mực nhỏ Chu Bá Cửu để lại trên chiếc hòm gỗ, nắn nót viết từng dòng nhật trình thực địa:
“Giờ Tý, rạng ngày hai mươi tháng Chạp.
Lưu trạm Thạch Tuyền.
Ghi nhận tại thực địa mỏ đá: Công Bộ Doanh Tạo Ty đang huy động lượng lớn đá khối vận tải về hướng kinh kỳ. Đá khai thác là loại đá xanh hạt mịn, nhìn bằng mắt thường khá giống chất liệu các tảng đá kè cổ tại Thủy Khẩu Xứ.
Phát hiện thêm: Dọc sườn núi Thạch Tuyền có dấu vết các lò nung vôi cổ ngưng hoạt động; tro khoáng thu được tại hẻm Độc Đầu có độ tương đồng lớn với lớp trầm tích quanh mỏ đá này...”
Ngòi bút của Vương Quang bỗng dừng lại.
Từ ngoài con đường cái lát đá hộc trước trạm dịch, một chuỗi âm thanh nặng nề vang lên giữa đêm khuya thanh vắng.
Cộc... Cộc... Rầm...
Không phải tiếng xe quặng trâu kéo chậm chạp ban ngày.
Đó là tiếng vó ngựa phi nước đại rầm rập, kèm theo tiếng bánh xe bọc sắt nghiến trên đá hộc ken két. Tiếng roi da vun vút quất vào không khí, tiếng quát tháo đè nén nhưng đầy vẻ sắc lạnh:
"Trạm dịch mở lối! Xe công vụ của Thượng Ty, cấm tiệt người ngoài dòm ngó!"
Vương Quang khẽ nhíu mày. Hắn thổi tắt ngọn đèn dầu lạc trên nắp hòm gỗ, gượng sức đứng dậy, dùng vai trái khẽ đẩy hé cánh liếp nứa nhìn ra ngoài con đường cái.
Dưới ánh sáng leo lét của những ngọn đuốc tẩm nhựa thông cắm dọc hàng rào trạm dịch, một đoàn xe ngựa gồm ba cỗ xe lớn đang hối hả vượt qua đèo trong đêm tối.
Hộ tống xung quanh là hơn chục kỵ binh khoác áo tơi dạ sẫm màu bên ngoài giáp ngực, tay nắm chặt đốc kiếm, thái độ cảnh giác cao độ. Cỗ xe đi ở giữa là một chiếc xe thùng bọc tôn kín mít, bốn góc gia cố bằng các đai sắt dày, then khóa then cài đều được niêm phong cẩn mật.
Trên thành gỗ của cỗ xe bịt kín ấy dán một dải lụa vàng bản rộng.
Trên mặt lụa, những đường chu sa uốn lượn theo thức phong ấn dùng trong các nha môn kinh kỳ còn đỏ au. Và ngay phía dưới, một con dấu triện son hình tròn to bằng miệng chén hiện ra rõ mồn một dưới ánh lửa đuốc:
Hộ Bộ — Tổng Lương Đốc Phủ.
Ở góc dưới dải phong ấn, một dòng chữ viết tay bằng mực đen sắc gọn đập thẳng vào mắt người Ký lục qua khe liếp:
“Nghi vật luồng thủy Cổ Am — Áp giải về Kinh thụ thẩm.”
Đoàn kỵ binh và cỗ xe bịt kín không hề dừng lại trạm dịch Thạch Tuyền để kiểm tra giấy tờ. Chúng lướt qua cổng đèo như một cơn gió buốt giá, tiếng móng sắt nện trên đá hộc xa dần rồi mất hút vào màn đêm mịt mùng hướng về phía bắc.
Hồ sơ bến Cổ Am đã khép lại trên giấy mực.
Nhưng thứ bị đưa khỏi lòng sông hôm qua đã đi trước hắn một bước, vượt qua đèo Kẽm Trống, theo đường dịch lộ thẳng về kinh kỳ.
Vương Quang đứng lặng bên khe liếp. Bàn tay trái siết chặt thanh Thiết Xích Khảo Sát.
Lần đầu tiên từ khi đặt chân xuống Cổ Am, hắn hiểu rằng điều mình vừa ghi vào hồ sơ có lẽ chỉ là phần nằm ở phía bên này của con dấu.
Thảo luận
Bình luận chương
0 bình luận
Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên bình luận chương này.