Nhân Gian Có Màn

Chương 57: Đêm Mười Tám — Giàn Giằng Trước Giờ Dần

Đăng: 15/09/2026 08:55 2,211 từ 9 lượt đọc

Gió bấc sau giờ Tuất chuyển hướng thổi dọc theo lòng sông Đáy, mang theo hơi sương muối buốt giá táp thẳng vào chân đê Cổ Am.

Khúc lạch cạn chìm trong một sự vắng lặng dị thường. Theo lệnh phong tỏa của Ty Đốc Vận, bốn chiếc cọc tiêu buộc vải điều đỏ cắm sâu xuống doi cát đầu bến, ngăn toàn bộ thuyền chài và đò chở củi từ mạn thượng lưu xuôi xuống. Tám chiếc thuyền chở gạo tô áp tải nằm áp mạn vào dải đá hộc, mui nứa phủ một lớp sương trắng bàng bạc như rắc muối, thỉnh thoảng khẽ tròng trành rồi lại va vào nhau thành từng tiếng lộc cộc khô khốc.

Vương Quang đứng tựa lưng vào một mỏm đá kè, tấm áo chấn thủ chần bông kéo cao che kín cổ.

Cánh tay phải của hắn được nẹp chặt bằng thanh Chân Thư Bút, gập trước bụng và tì vào dải đai da trâu. Vết thương dập gân sau một ngày vận động quá mức đã sưng căng mọng, lớp vải băng chàm bên trong bết dính mủ nhớp nháp. Mỗi lần bước chân xuống bãi bùn, một luồng đau buốt nhức lại giật ngược từ khớp cổ tay lên bả vai, khiến hắn phải liên tục mím chặt môi để giữ nhịp thở không bị đứt quãng. Tầm nhìn bên mắt phải mờ xám như có một màn lụa đục chắn ngang; hắn chỉ còn có thể dựa vào con mắt trái để định hình bóng tối bến sông.

"Thầy Ký, nước ngoài sông cái lại tụt thêm hai tấc nữa rồi."

Tiếng Tào Hữu Đức vang lên sau lưng. Viên Đốc lại khoác tấm áo tơi lá dày cộp, tay cầm ngọn đèn bão bọc khung sắt, hơi thở phả ra thành luồng khói trắng xóa.

Vương Quang khẽ gật đầu, dùng bàn tay trái giữ thanh Thiết Xích Khảo Sát rà nhẹ xuống mặt đá kè. Bàn tay hắn khẽ run lên một nhịp ngắn vì cơn sốt đang hâm hấp nơi lồng ngực, ngón tay phải miết chặt vào sống thước sắt lạnh ngắt để ghìm cơn ớn lạnh.

Dưới ánh sáng vàng vọt của ngọn đèn bão, mặt nước sông Đáy ngoài xa đã lùi sâu hơn buổi trưa, để lộ ra những triền đá vôi tai mèo lởm chởm xám ngắt. Dòng nước chảy xiết giữa lạch sâu rít lên từng hồi căm căm. Ở phía dưới lòng lạch cạn, kết cấu néo giằng chắp vá trưa nay vẫn đang oằn mình chống đỡ: hai sợi dây cáp bọc đồng nối từ cọc số một và cọc số năm căng cứng như dây đàn, ghìm chặt thân cọc lim số ba đang nghiêng lệch.

Bốn thanh đòn bẩy gỗ nghiến chèn vào mép đất khoét lõm kêu răng rắc từng chặp. Mỗi lần nền bùn dưới chân cọc nhích thêm một phần nhỏ, những mạt gỗ khô và bùn non lại rơi rào rào xuống hốc nứt tối tăm.

"Cáp vẫn giữ được," Vương Quang cất giọng khàn đặc: "Nhưng lực kéo đang dồn toàn bộ vào đai nẹp của cọc số một. Nếu cọc số một bị bật mộng, toàn bộ giàn cọc sẽ sụp theo cỗ độc mộc."

Tào Hữu Đức đưa mắt nhìn vật gỗ dài đen sì nằm chênh vênh mép hố sụt, bất giác rùng mình:

"Từ lúc sập tối đến giờ, ta cho tuần đinh chia làm hai toán canh giữ trên bờ kè. Lạ một điều là dưới đáy lạch không hề có cá tôm quẫy nước, đến cả lũ ếch nhái quanh bãi sỏi cũng im bặt. Cứ như thể khúc sông này bị cắt rời khỏi dòng nước bên ngoài vậy."

"Vì luồng nước ngầm đang đổi hướng," Vương Quang đáp phẳng lặng. Đó là suy đoán thực địa dựa trên độ tụt của mực nước, hắn không khẳng định chắc chắn: "Đốc lại đã kiểm tra lại số gạo trên bảy chiếc thuyền còn lại chưa?"

"Đã kiểm tra kỹ. Số gạo còn lại đã được kéo bạt phủ kín, chằng dây cẩn thận. Bốn bao rơi xuống bùn trưa nay ta đã ghi vào phiếu tổn thất theo đúng chữ ký xác nhận của ngươi."

Tào Hữu Đức dừng lại một nhịp, nhìn chăm chú vào gương mặt hốc hác, nhợt nhạt vì sốt của người thanh niên áo chàm:

"Vương Ký lục, ngươi bắt ta phong tỏa bến, lại giữ lão Phan ở lại trạm... Đêm nay rốt cuộc dưới bãi bồi này sẽ xảy ra chuyện gì?"

Vương Quang đưa con mắt trái nhìn ra màn sương mù đặc quánh đang dâng lên từ mặt nước:

"Một cuộc đối chiếu công môn."

Tào Hữu Đức cau mày: "Đối chiếu với ai? Phủ đường Thạch Tuyền đến sáng mai mới nhận được trát báo của ta."

"Với phần hồ sơ chưa thanh lý của khúc sông này."

"Ai giữ?"

"Đến lúc đó sẽ biết."

Vương Quang quay người bước đi, bỏ lửng câu trả lời: "Đốc lại chỉ cần làm đúng phận sự: giữ tuần đinh trên mặt đê, tuyệt đối không cho ai bước xuống lòng lạch sau giờ Tý. Bất kể dưới bãi có tiếng động gì, không có lệnh của tôi, cấm điều động người xuống bãi."

Tào Hữu Đức nhìn ánh mắt sắc lạnh của viên Ký lục ngoại ngạch, cổ họng ứ nghẹn lại. Gã nuốt một ngụm nước bọt khô khốc, khẽ gật đầu rồi quay người bước ngược lên dốc bờ kè.

Canh ba điểm.

Tiếng mõ cầm canh từ vọng gác trạm dịch dội lại từng hồi ngắt quãng:

Cộc... Cộc... Cộc...

Sương đêm mỗi lúc một dày, quấn chặt lấy những thân cọc lim trơ trọi. Hơi lạnh buốt giá ngấm qua lớp ủng da trâu làm bàn chân Vương Quang tê dại.

Trong căn buồng xép của trạm dịch, Chu Bá Cửu đang giúp Phan Khắc Tố buộc chặt chiếc tráp gỗ lim vào thắt lưng. Viên Chủ bạ già run lẩy bẩy như cầy sấy, hàm răng va vào nhau lập cập, hai mắt trũng sâu vì sợ hãi.

"Thầy... Thầy Ký ơi," Phan Khắc Tố run rẩy nắm lấy tay áo trái của Vương Quang khi hắn bước vào: "Thực sự phải xuống tận mép nước sao? Đêm hôm thế này... lỡ có chuyện gì..."

"Không có ông, bản biên bản không có giá trị," Vương Quang cất giọng ráo hoác: "Tập địa bạ của họ Phan là bản ghi hiếm hoi còn đủ dấu mốc để đối chiếu ranh giới cũ của khúc sông. Nếu ông trốn tránh, người ta sẽ căn cứ vào khoảng trống bỏ hoang ấy để định đoạt số phận của cả bãi bồi. Khi ấy, họ Phan các người sẽ không còn cơ hội nói lại lời thứ hai."

Lão hiểu người thanh niên khoác áo chàm, bên hông mang thẻ của Khâm Thiên Giám này nói không sai. Trốn chạy lúc này chỉ đồng nghĩa với việc tự tước bỏ quyền bảo vệ chính mình và dòng họ trước những câu hỏi tồn đọng suốt một trăm năm mươi năm.

Vương Quang đưa tay trái đỡ lấy vai lão già, giọng hạ thấp xuống nhưng đanh gọn:

"Xuống bãi, ông chỉ cần làm một việc: Tôi bảo mở tráp thì mở tráp, tôi bảo giở trang nào thì giở trang ấy. Tuyệt đối không được nói thừa nửa lời, không được tự ý bỏ chạy. Bãi bùn ban đêm sụt lở không đều, chạy bừa là sẩy chân xuống hốc ngầm."

Phan Khắc Tố nuốt khan, gật đầu trong vô vọng.

Vương Quang kiểm tra lại đồ nghề giắt bên hông trái: Ống tre bịt sáp chứa tờ Biên bản phúc tra hiện trường tạm thời viết tay trái. Mảnh giấy bản sao chép văn bia đá Khai Tự xếp gọn trong túi da trâu. Thanh Thiết Xích Khảo Sát kẹp chặt bên sườn. Và tấm thẻ đồng thau khắc chữ Thủy Khẩu Thần Khế bọc trong dải lụa điều giắt chặt bên ngực áo. Hắn không biết tấm thẻ này có hiệu lực thật sự hay không, nhưng ít nhất nó là một vật chứng vật lý khớp với hốc đá trên miếu cũ, mang tư cách đại diện cho một điểm thờ từng tồn tại.

"Đi thôi," hắn nói với Chu Bá Cửu.

Ba bóng người rời khỏi dãy nhà sàn trạm dịch, chậm rãi bước xuống triền đê.

Bãi bùn Cổ Am lúc nửa đêm như một dải đất hoang phế bị bỏ quên giữa lòng sông.

Mùi bùn nồng nặc quyện với mùi đá vôi nguội ngắt và mùi tanh lạnh của rêu mục bốc lên từng luồng ngột ngạt. Chu Bá Cửu xách chiếc đèn bão bọc da bò đi đầu, ánh lửa vàng tù mù chỉ soi rõ chừng hai bước chân trên mặt bùn sỏi nham nhở.

Vương Quang dẫn Phan Khắc Tố dừng lại trên một phiến đá hộc nhô cao ngay sát vành đai bao cát vôi, cách cỗ độc mộc đúng bảy bước chân. Đây là vị trí cao ráo nhất còn sót lại của bờ kè cũ, nền đá bên dưới chưa bị rỗng chân, đủ để đứng vững nếu lòng lạch tiếp tục lún sụt.

"Ngồi xuống đây," Vương Quang chỉ vào phiến đá, bảo Phan Khắc Tố.

Lão già lập tức ôm khư khư chiếc tráp vào lòng, ngồi thu lu trên mặt đá lạnh buốt, mắt dán chặt xuống vũng bùn trước mặt.

Vương Quang cắm đầu nhọn của thanh Thiết Xích xuống khe đá làm điểm tựa cho cánh tay trái. Con mắt trái của hắn quét qua hiện trường:

Cọc số ba vẫn bị ghìm chặt bởi hai sợi cáp bọc đồng. Dưới chân cọc, cỗ độc mộc dài hơn một trượng nằm nghiêng trên bờ dốc trượt. Từ kẽ nứt chạy dọc thân gỗ, thứ chất lỏng màu nâu đỏ rỉ ra từng giọt nhỏ, đọng lại thành một vệt sẫm màu trên nền bùn xám. Nó chảy chầm chậm, đều đặn như một mạch nước rỉ từ vách đá.

Chu Bá Cửu cắm nén hương đen vào một khe đá kè theo lời dặn của Vương Quang, rồi châm lửa.

Đốm lửa đỏ le lói bốc lên một sợi khói mảnh thẳng đứng, không hề bị ngọn gió bấc tạt nghiêng. Mùi hương bài ngai ngái lan tỏa trong không khí đặc quánh. Vương Quang chỉ quan sát hiện tượng đó mà không giải thích gì thêm; giữa bãi lạch sâu khuất gió, luồng khí bốc lên thẳng hay lệch đôi khi chỉ là sự chênh lệch áp suất nhiệt giữa lòng bùn và hơi sương.

Thời gian trôi qua nặng nề như từng giọt nước lạnh nhỏ xuống mặt đá.

Gió bấc bỗng nhiên dịu bớt. Màn sương muối bao phủ mặt sông kết lại thành một khối đặc quánh, trắng đục vây kín khúc lạch. Hơi lạnh xuống thấp đến mức mặt bùn quanh chân cọc kết một lớp màng trắng mỏng.

Ngọn lửa trong chiếc đèn bão bọc da bò của Chu Bá Cửu chao đảo rồi từ từ chuyển sang sắc xanh lơ leo lét.

Vương Quang nén cơn sốt đang dâng lên trong ngực. Bàn tay trái của hắn khẽ run run khi thò vào hông rút chiếc ống tre bịt sáp ra, xoay nhẹ nắp đậy.

Tiếng mõ canh giờ Dần từ trạm dịch trên bờ đê vọng xuống từng nhịp nghẹt thở:

Cộc... Cộc... Cộc...

Âm thanh khô khốc chìm dần, rồi bị màn sương dày đặc nuốt mất hơn nửa.

Ngay trong khoảng im lặng ngột ngạt ấy, từ sâu dưới lòng lạch cạn — nơi dòng nước đen ngòm rỉ qua chân cọc số ba — một âm thanh kim loại bắt đầu vang lên.

Xoảng... Xoang xoảng...

Đó là tiếng xích sắt nặng nề cọ xát vào sỏi đá.

Tiếng kim loại va đập đều đặn, chậm rãi kéo lê trên nền lạch từ phía lòng sông tiến thẳng về phía bãi bồi. Cùng với tiếng xích là tiếng bước chân dẫm trên bùn nhão bì bõm, chậm nhưng nặng, làm những giọt nước đọng trên mặt cỗ độc mộc khẽ run rẩy.

Phan Khắc Tố co rúm người lại, hai tay bấu chặt vào nắp chiếc tráp gỗ, trán đập mạnh vào đầu gối trong cơn run rẩy tột cùng. Chu Bá Cửu thụt lùi lại một bước, hơi thở dồn dập nghẹn ứ nơi cuống họng.

Vương Quang không lùi.

Chỉ có bàn tay trái đang giữ thanh Thiết Xích siết chặt thêm một vòng, khớp ngón tay trắng bệch dưới ánh đèn bão xanh lơ. Đầu gối hắn cứng đờ dưới lớp quần vải chàm sũng nước, toàn bộ cơ thể căng ra như một sợi dây chão chịu lực.

Con mắt trái của hắn nhìn chăm chú qua màn sương mù trắng đục đang từ từ rẽ ra hai bên mép lạch.

Một bóng người mặc áo sai dịch rách tơi tả, tay kéo lê sợi xích sắt đen sì và nách kẹp một tập Thanh Bộ bọc vải gai, từ trong bóng tối của đáy lạch cạn chậm rãi bước lên bãi bồi.

0
Ủng hộ tác giả Cương Vương Nếu bạn yêu thích tác phẩm, hãy ủng hộ mình ly cafe nhé <3