Chương 65: Bản Phúc Tra Tay Trái
Nhân Gian Có Màn
Mục lục
74 chươngCuộn, vuốt hoặc dùng hai nút để xem thêm Đã tải 74/74 chương
Mưa phùn ngày hăm ba tháng Chạp lất phất trên những rặng liễu ven hồ Giám, phủ một lớp bụi nước buốt lạnh lên phố phường kinh kỳ.
Mùi khói pháo chuột đượm mùi diêm sinh lơ lửng sát mặt đường lát gạch vồ, quyện với mùi vàng mã người ta vừa hóa bên bậu cửa để tiễn Táo quân chầu trời. Khắp các ngõ chợ, người gánh cá chép đỏ bơi trong chậu sành, kẻ đội mâm cỗ xôi gà vội vã lách qua những vũng nước bùn đỏ quạch. Giữa không khí tất bật của buổi sáng cuối năm, Chu Bá Cửu dìu Vương Quang tấp vào một quán trọ tồi tàn nằm nép mình trong ngõ sâu sau lưng Văn Miếu.
Gian gác xép ẩm thấp chỉ kê vừa một chiếc chõng tre ọp ẹp và chiếc bàn gỗ thông mọt ruỗng. Gió bấc rít qua khe liếp nứa kêu ù ù, xua đi phần nào mùi thuốc cao hoàng bá nồng nặc đang bốc ra từ cánh tay phải của Vương Quang.
Chiếc tráp công vụ đặt giữa bàn. Chu Bá Cửu run rẩy dùng nước sôi hòa tan thỏi mực tàu mòn vẹt, cẩn thận mài từng vòng trên chiếc nghiên đá xỉn màu.
"Thầy Ký... uống ngụm nước gừng cho ấm giọng," Chu Bá Cửu bưng chiếc bát sứt mép lại gần, mắt gã trũng sâu, vành mi đỏ quạch: "Vừa qua đầu giờ Tỵ rồi. Phu trạm ngoài phố bảo các nha môn đã bắt đầu dọn dẹp sảnh đường, hương án phong ấn đã lập sẵn ngoài sân rồng. Hết giờ Mùi là người ta rải vôi bột đóng cổng."
Vương Quang khẽ gật đầu, nhấp một ngụm nước gừng cay xè cổ họng.
Hắn trút bỏ chiếc áo chấn thủ sũng nước, ngồi ngay ngắn xuống chiếc ghế đẩu. Cánh tay phải của hắn bị nẹp gỗ sồi và dải băng thuốc bó chặt vào sát mạn sườn, bất động như một khúc củi. Khớp cổ tay sau cú nắn xương đêm qua vẫn sưng mọng, mỗi nhịp tim đập đều kéo theo một cơn giật buốt âm ỉ, nhưng lớp da thâm đen đã nhạt bớt, các đầu ngón tay đã lấy lại được chút hơi ấm.
Hắn thò bàn tay trái vào túi da trâu, rút ra tập giấy bản dày đóng theo quy thức phúc tra của Khâm Thiên Giám, trải phẳng phiu lên mặt bàn mộc.
Cây bút lông thỏ cán trúc được kẹp vào giữa ngón cái và ngón trỏ tay trái.
Bàn tay trái của hắn vốn chỉ dùng để giữ thước và lật sổ, nay phải gánh toàn bộ sức nặng của ngòi bút. Vương Quang chấm đẫm mực đen, hít một hơi sâu buốt giá rồi hạ ngọn bút xuống mặt giấy.
Nét chữ đầu tiên vạch ra gãy khúc, thô dày và rung rinh:
“Khâm Thiên Giám — Ty Khảo Sát.
Phụ trách thực địa: Ngoại ngạch Hành Trình Ký Lục Vương Quang.
Bản phúc tra luồng lạch Cổ Am — Lập ngày hai mươi ba tháng Chạp.”
Ngòi bút dừng lại nửa nhịp. Mồ hôi lạnh rịn ra trên trán Vương Quang, chảy dài xuống thái dương cay xè con mắt trái.
Hắn hiểu rõ tính chất sinh tử của tờ giấy này.
Tống Thư lại đã cảnh báo đêm qua: Tổng Lương Đốc Phủ đang giăng sẵn lưới đón đầu, bất kỳ dòng chữ nào mang tính suy đoán, bất kỳ lời lẽ nào đụng chạm đến cơ chế ngầm của Hộ Bộ hay dấu vết vượt ngoài chức trách đều sẽ biến bản phúc tra này thành mục tiêu công kích hành chính.
Muốn bản phúc tra được nhập kho văn khố, nó phải là một bản phúc tra chỉ ghi những điều có thể đối chiếu bằng chứng, dựng lên bằng những bằng chứng vật chất có thể đối chiếu và kiểm chứng.
Hắn nén cơn đau buốt nơi bả vai, bàn tay trái ghì chặt cán bút, nắn nót từng chữ Hán góc cạnh:
“Khoản thứ nhất: Về ranh giới trần gian và địa bạ sở tại.
Căn cứ tập địa bạ gốc bốn đời do Phan tộc lưu giữ, xác định bãi bồi ngã ba sông Đáy thuộc khoảnh Thủy Khẩu Xứ. Văn bản ghi nhận đây là vùng đất phân lưu cơ học, trần gian không thu thuế đinh, có ghi chú 'Bất khả khải' nhằm duy trì ổn định dòng chảy.”
“Khoản thứ hai: Về hiện trạng hạ tầng và điểm tựa thần vực.
Miếu Thủy Khẩu trên triền đồi lưu giữ Thần Khế bằng đồng thau và văn bia Khai Tự thứ bẩy. Văn bia xác lập ranh giới điểm thờ và nguyên tắc đối chiếu ba bên khi khảo sát luồng lạch. Tấm thẻ đồng hiện đã được hoàn trả nguyên vị trí trong hốc đá hậu cung miếu cổ để bảo tồn địa chứng.”
“Khoản thứ ba: Về quy cách kết cấu mười tám cọc lim.
Căn cứ Thạch Tác Nhật Ký lưu trữ tại xưởng thợ họ Quách (Thạch Tuyền): mười tám cọc mộc lim Thanh Hoa dài hai trượng tư, ngậm mộng âm dương, nẹp đồng đỏ bốn mặt. Lõi nẹp chèn khoáng sa pha tro vôi nung cổ; mộng cọc cắm ngập ba thước vào vỉa đá vôi xanh hạt mịn dưới đáy lạch để chống xô trượt. Hiện trạng cọc số một và số năm đã được gia cố néo giằng cơ học, toàn bộ giàn cọc tiếp tục nằm dưới tầng nước sâu.”
Ngòi bút của Vương Quang lướt qua ba dòng quy thức.
Tuyệt nhiên không một chữ nào nhắc đến cỗ độc mộc rỉ dịch nâu đỏ. Không một chữ nào nhắc đến cái tên Lê Toàn hay sợi xích sắt của Câu Hồn Ty. Càng không một chữ nào nhắc đến dải vải gai mang dấu ấn Lương Kho hay cỗ xe bọc sắt của Tổng Lương Đốc Phủ.
Hắn chỉ trình bày đúng những gì mà quy chế khảo sát trần gian cho phép thừa nhận: một công trình kè đá cổ bị biến động dòng chảy, được đối chiếu bằng địa bạ họ Phan, thần khế miếu cổ và quy thức thợ đá họ Quách. Những mảnh hồ sơ nguy hiểm còn lại — bản ghi mang dấu ấn Thủy Lộ Khảo Khế và dải vải gai son — sẽ tiếp tục nằm im dưới đáy túi da trâu, trở thành hồ sơ treo của riêng hắn.
Ngoài khe liếp nứa, ánh sáng trắng đục của đầu giờ Tỵ chầm chậm chuyển sang thứ ánh sáng nhợt nhạt, hanh hao của buổi trưa. Từng giọt mồ hôi trên trán Vương Quang nhỏ xuống mặt bàn gỗ thông nghe tách... tách... Đốt ngón tay trỏ bên trái của hắn bắt đầu co cứng lại từng hồi, mỗi lần nhấc bút lên khỏi mặt giấy, cả cẳng tay trái lại run rẩy vì phải gồng lực quá lâu để giữ nét chữ không bị đổ nghiêng.
Đến khoản cuối cùng, bàn tay trái của hắn mỏi nhừ. Vương Quang cắn chặt môi, ấn mạnh ngòi bút xuống giấy:
“Khoản thứ tư: Về tổn thất lương thực và thông luồng vận tải.
Sự cố nứt sụt đáy lạch làm chao đảo mạn thuyền, gây thất thoát bốn hộc gạo tô theo đúng Tổn Thất Phiếu số Lục bách bát do ty Đốc Vận lập. Con nước lớn sáng ngày mười chín đã phục hồi lưu lượng mặt nước; bảy thuyền công lương còn lại rời bến an toàn. Bàn giao hiện trường luồng lạch cho dịch trạm Cổ Am.”
Chữ cuối cùng vừa dứt, bàn tay trái của Vương Quang co rút lại. Cán bút lông rơi xuống mặt bàn, lăn lông lốc qua mép giấy bản.
Hắn thở hốc ra một hơi dài, lồng ngực đau nhói.
Vương Quang dùng ngón tay cái bên trái ấn vào nghiên mực đen, điểm chỉ một dấu tròn sẫm màu đè lên dòng lạc khoản ký tên bằng tay trái.
Bản phúc tra đã hoàn tất. Thô ráp, xiêu vẹo nhưng đanh thép và kín kẽ.
Chu Bá Cửu vội vàng dùng cát khô rắc lên mặt giấy cho mau ráo mực, rồi cẩn thận kẹp tờ phúc tra cùng mảnh Thụ Lý Phiếu giấy dó xanh vào chiếc bìa gỗ thông, buộc chặt bằng dây gai thô.
"Thầy Ký... đầu giờ Mùi rồi!" Chu Bá Cửu nhìn qua khe liếp, giọng hốt hoảng: "Tiếng trống điểm canh ở cửa Đoan Môn vừa dứt ba hồi!"
Vương Quang vịn vào mép bàn gượng đứng dậy. Hắn khoác lại manh áo chàm rách nát, con mắt trái sắc lạnh nhìn về phía ngõ Khâm Thiên:
"Đi. Đến sảnh đường Đề Lại."
Chính giờ Mùi ngày hai mươi ba tháng Chạp.
Sân trước của Ty Khảo Sát mù mịt khói hương bài và tàn giấy vàng mã.
Một chiếc bàn hương án lớn trải lụa đỏ đã được kê ngay ngắn trước cửa sảnh chính. Trên bàn đặt một chiếc hộp gỗ sơn son thếp vàng đựng chiếc ấn đồng của Ty Khảo Sát, xung quanh là mâm ngũ quả, ba con cá chép giấy và một chén rượu trắng chuẩn bị cho lễ phong ấn cuối năm. Mấy chục viên chức, thư lại và sai dịch đều đã mặc áo dài the đen, chỉnh tề đứng xếp hàng hai bên bậc đá chờ giờ hoàng đạo.
Không khí trang nghiêm, tĩnh lặng bỗng bị phá vỡ bởi tiếng ủng dẫm lạo xạo trên nền sỏi ướt.
Hai bóng người từ cổng ngoài bước vào: một gã phu trạm cao lớn xách tráp công vụ, che chắn cho một thanh niên áo chàm tiều tụy, cánh tay phải bó nẹp bất động tì vào ngực, bước từng bước nặng nề qua màn khói hương nghi ngút.
Đám lại dịch nha môn đồng loạt dạt ra hai bên, ánh mắt đổ dồn về phía người vừa bước tới. Những tiếng xì xào to nhỏ vang lên:
"Vương Quang... Hắn thực sự mang bản phúc tra về kịp trước giờ phong ấn sao?"
"Nghe bảo trưa nay người bên Tổng Lương Đốc Phủ đã ngồi chờ trong phòng Đề Lại suốt một canh giờ..."
Vương Quang không nhìn ai. Hắn bước thẳng lên chín bậc đá hoa cương của sảnh chính, dừng lại trước cửa phòng công vụ trung tâm.
Sau chiếc bàn gỗ trắc chạm trổ uy nghiêm, một quan viên trạc ngoài ngũ tuần, mặc áo bào lục phẩm thêu chim trĩ, râu dài chấm ngực, đang chậm rãi dùng khăn lụa lau chiếc bút lông ngự ban.
Đó là Nghiêm Đề Lại — người nắm quyền thẩm định cuối cùng đối với hồ sơ thực địa trước khi nhập kho.
Thấy bóng Vương Quang đứng chặn trước cửa, Nghiêm Đề Lại dừng tay, đôi mắt sâu hoắm ngẩng lên, nhìn soi mói từ cánh tay phải bó nẹp gỗ sồi sang khuôn mặt hốc hác của viên Ký lục ngoại ngạch:
"Vương Quang, giờ Thân sắp điểm, nha môn chuẩn bị làm lễ phong ấn nghỉ Tết. Ngươi mang thứ gì tới đây?"
Vương Quang đứng thẳng lưng, bàn tay trái rút tập bản thảo kẹp bìa gỗ cùng tờ Thụ Lý Phiếu giấy dó xanh, bước tới đặt ngay ngắn lên mặt bàn gỗ trắc:
"Báo cáo quan Đề Lại: Ngoại ngạch Ký lục Vương Quang phụng mệnh hoàn tất bản phúc tra luồng lạch Cổ Am, nộp đúng kỳ hạn ghi trên Thụ Lý Phiếu. Kính xin quan Đề Lại kiểm duyệt quy thức và ký phê nhập kho."
Nghiêm Đề Lại không mở tập bản thảo ra ngay.
Bàn tay đeo chiếc nhẫn ngọc bích của lão gõ nhẹ từng nhịp cộc... cộc... xuống mặt bàn. Lão liếc nhìn góc phòng — nơi một dải niêm phong của Hộ Bộ và một bức công văn đóng dấu sáp đỏ của Tổng Lương Đốc Phủ đang nằm chình ình trên giá sách:
"Vương Ký lục, ngươi đi thực địa chuyến này... gặp nhiều sóng gió lắm phải không?"
"Bẩm quan Đề Lại, sông sâu nước xiết, việc khảo sát trần thế vốn nhiều biến động," Vương Quang đáp phẳng lặng, ánh mắt không hề dao động: "Mọi biến động vật chất, tôi đều ghi nhận trung thực bằng văn bia, địa bạ và quy thức thợ đá, tuyệt đối không thêm bớt nửa chữ."
Nghiêm Đề Lại nheo mắt nhìn người thanh niên trẻ tuổi.
Lão chầm chậm giở tập bản thảo viết bằng tay trái ra. Ánh mắt lão quét qua từng dòng chữ góc cạnh, xiêu vẹo nhưng rành mạch: ba mối chứng cứ hiện ra lớp lang, số lượng gạo tổn thất khớp với phiếu của ty Đốc Vận, và dòng kết luận hoàn toàn khóa chặt hiện trường trong phạm vi kỹ thuật hộ đê.
Không có một kẽ hở nào để Hộ Bộ vin vào đó mà quy tội trễ nải hay bắt bẻ sai sót hành chính.
Một thoáng kinh ngạc lướt qua đôi mắt lão luyện của viên Đề Lại già. Lão ngước nhìn cánh tay phải gần như không còn đủ sức cầm bút của Vương Quang, rồi thở dài một hơi thật khẽ:
"Tay phải hỏng rồi mà tay trái viết được những dòng này... Ngươi quả là một con dao sắc của chốn công môn."
Nghiêm Đề Lại khép tập hồ sơ lại, nhấc chiếc bút lông chấm mực chu sa đỏ chót:
"Bản phúc tra hợp lệ theo quy thức Khâm Thiên Giám. Chuẩn y nhập kho lưu trữ."
Lão hạ bút, ký một nét chữ thảo sắc sảo đè lên dòng chữ viết tay trái của Vương Quang, rồi cầm chiếc ấn triện vuông bằng đồng của sảnh Đề Lại dập mạnh xuống:
Bộp!
Một dấu triện son tươi rói hiện ra trên trang bìa bản phúc tra.
Keng... Keng... Keng...!
Đúng lúc ấy, ngoài sân sảnh đường, tiếng chuông đồng điểm giờ Thân vang lên giòn giã.
Viên Thư lại phụ trách nghi lễ cất tiếng hô vang:
"Giờ lành đã điểm! Cung thỉnh quan Đề Lại ra sân làm lễ phong ấn văn khố, tạ ơn Táo quân, nghênh đón tân xuân!"
Cánh cửa văn khố bằng sắt dày cộp phía sau phòng công vụ từ từ khép lại thành một tiếng rầm nặng trịch. Dải niêm phong bằng giấy đỏ in dấu quan phòng được dán chéo qua hai cánh cửa.
Hồ sơ luồng lạch Cổ Am đã chính thức nằm lại an toàn bên trong bức tường đá của văn khố Khâm Thiên Giám.
Vương Quang đứng chôn chân giữa sảnh đường, bàn tay trái buông thõng bên hông.
Ngoài sân, pháo đón xuân nổ ran, xác pháo đỏ tươi bay lả tả trong làn mưa phùn buốt giá. Hắn đã giữ được cái đầu trên cổ, giữ được hồ sơ, và khép lại cánh cửa của một năm cũ đầy máu và bùn đất.
Nhưng dưới đáy túi da trâu áp sát vào mạng sườn hắn, mảnh vải gai của Hộ Bộ và vết hằn lục giác vẫn lạnh ngắt. Hồ sơ Cổ Am đã vào văn khố; còn hai thứ ấy, chưa có nơi nào chịu nhận.
Thảo luận
Bình luận chương
0 bình luận
Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên bình luận chương này.