Nhân Gian Có Màn

Chương 69: Bến Đền Nước Cạn

Đăng: 17/09/2026 10:21 2,826 từ 2 lượt đọc

Đêm mùng chín tháng Giêng, gian lều trọ sát chuồng dịch mã lạnh như một hốc đá ăn gió.

Gió từ cửa sông lùa qua vách nứa hở hoác, thổi tạt tàn tro than củi bay lơ lửng trong bóng tối. Vương Quang ngồi dựa lưng vào cây cột chôn góc lều, cánh tay phải tì chặt vào lớp đệm rơm khô. Mỗi lần trở mình, khớp xương quay lại giật nhói từng chập, nhưng hắn không tháo nẹp. Hắn nhắm nghiền mắt trái, giữ hơi thở chậm và sâu: hít khí lạnh buốt qua mũi, ém nhẹ lồng ngực để ghìm nhịp tim đang đập dồn vì mệt mỏi, rồi từ từ thở dài qua kẽ răng.

Bên cạnh, Chu Bá Cửu nằm cuộn tròn trong manh tơi lá, tiếng ngáy mệt nhọc chìm giữa tiếng sóng sông Bùi đập ầm ào vào bãi đá dăm.

Tờ mờ sáng mùng mười, tiếng tù và bằng vỏ ốc từ mé bến sông rúc lên từng hồi đùng đục, xé toạc màn sương mù đặc quánh.

Chợ Bến cựa mình trong ánh sáng xám nhờ của buổi sớm. Mùi khói bếp củi ướt, mùi mắm cá tép chua nồng và tiếng chân trần lội bì bõm dưới bùn quánh hòa vào nhau.

Hai con ngựa trạm già được gửi lại chuồng của Điếm Trạm theo quy chế công môn. Vương Quang dùng một quan tiền đồng và giấy biên nhận đóng dấu trạm để trả tiền cỏ khô mười ngày cho người giữ ngựa. Toàn bộ đồ nghề thiết yếu — mười xấp giấy bản ngâm dầu thông, hai bao than củi nhỏ, củ gừng khô, mực chu sa và thanh Thiết Xích Khảo Sát — được chia vào hai chiếc gùi mây có lót lá cọ chống nước.

Chu Bá Cửu xốc chiếc gùi nặng lên vai, tay cầm cây sào tre bịt sắt, theo chân Vương Quang men theo con đường đất đỏ nhầy nhụa dẫn xuống bến Đền.

Bến Đền thực chất là một doi đất hẹp nhô ra lòng sông Bùi, nơi nước cạn trơ ra những dải đá tai mèo lởm chởm. Đầu bến có một gốc đa cổ thụ rễ ngoằn ngoèo bám chặt vào vách đá vôi; dưới gốc cây dựng một am thờ lộ thiên bằng đá phiến vụn, bên trên cắm đầy chân hương đen rữa nát và mấy đầu cá mè khô phủ lớp vôi bột trắng bợt.

Khoảng hơn chục con thuyền độc mộc khoét từ thân cây de rừng nằm gối mũi lên bãi đá dăm. Đám lái đò ngồi xổm quanh đống lửa sưởi, kẻ hút thuốc lào bằng điếu giang, kẻ mài lại mũi sào chống nước.

Khi bóng Vương Quang và Chu Bá Cửu bước qua doi cát, đám lái đò đồng loạt dừng tay, ánh mắt dán chặt vào manh áo chàm mang phù hiệu Ty Khảo Sát và cánh tay phải bó nẹp bất động của Vương Quang.

Chu Bá Cửu bước lên trước, cất giọng sang sảng của người quen việc trạm:

"Bà con bến Đền! Có đò nào ngược sông lên Cửa Rào không? Thầy Ký Khâm Thiên Giám có công lệnh đo vẽ luồng lạch, trả tiền tươi theo chuyến!"

Đáp lại gã chỉ là tiếng củi nổ tanh tách và sự im lặng lạnh tanh.

Một gã lái đò trung niên, ngực xăm hình giao long xanh lè, chậm rãi nhổ một bãi nước trầu đỏ quạch xuống bùn:

"Quan kinh kỳ về đây nhầm mùa rồi. Sông Bùi từ mùng ba Tết đã vào mùa nước chết. Đá ngầm trồi lên như hàm răng cọp, đi mảng còn rách bụng chứ đừng nói đò độc mộc chở nặng."

"Chúng tôi trả một quan tiền đồng," Chu Bá Cửu giơ túi tiền vải thô lên: "Chỉ cần chở người và hai gùi đồ nghề lên tới chân ghềnh đá Cửa Rào!"

Đám lái đò nhìn nhau, vài kẻ có vẻ động lòng trước món tiền mặt hiếm hoi đầu xuân, nhưng một lão già ngồi khuất sau bệ thờ đá bỗng cất tiếng khàn đặc:

"Không phải chuyện tiền. Hôm mùng ba, người của mo Mường bên họ Quách đã thả bè chuối cắm cọc chẹn ngang lạch nước bãi đá Vong. Họ kiêng sông mười lăm ngày để yên ma lạch. Đò nào dám chở người lạ mang đồ sắt nhọn ngược dòng, phạm vào vạ bản mường thì người chịu vạ là đám dân đò chúng tôi."

Người ở bến này vẫn rỉ tai nhau rằng kẻ phá lệ có thể bị người của họ Quách tịch thu đò, phạt roi, thậm chí trói vào bè nứa thả trôi sông. Chuyện ấy thật đến đâu, không một ai ở Chợ Bến muốn là người đầu tiên đem thân mình ra kiểm chứng.

Tiếng xì xào nổi lên rồi tắt lịm. Đám lái đò cúi gằm mặt chẻ lạt, không ai buồn ngước lên nhìn túi tiền đồng nữa. Cái lý của triều đình ở tít kinh thành xa xôi không cản nổi những đòn roi và lệ phạt thực tế của các dòng họ kiểm soát thượng lưu.

Chu Bá Cửu thở dài sườn sượt, quay nhìn Vương Quang: "Thầy Ký... họ sợ lệ kiêng của bản mường lắm. Giờ tính sao đây?"

Vương Quang không đáp. Con mắt trái của hắn quét qua bến đò, nhớ lại lời dặn của Diệp tối qua tại trạm dịch: “Muốn tìm phu dẫn đường ngược sông, cứ hỏi người có thuyền nằm tách khỏi đám đông. Người còn làm ăn được thường không cần treo bùa lên mũi thuyền.”

Ánh mắt hắn dừng lại ở chiếc thuyền độc mộc nhỏ nhất, nằm biệt lập ở mỏm đá phía hạ lưu dòng chảy.

Thuyền dài chưa đầy hai trượng, thon hẹp, vỏ gỗ bào nhẵn thó, không cắm cờ hội hay treo chuỗi bùa vỏ ốc như những chiếc khác. Trên mũi thuyền, một người đàn ông trạc ngũ tuần, chân trái teo quắt quấn lớp giẻ rách cáu bẩn, đang lầm lũi dùng mùn cưa trộn nhựa trám trét lại một đường nứt nơi mạn thuyền.

Vương Quang bước chân qua những tảng đá trơn trượt, tiến lại gần mạn chiếc thuyền con.

"Lão lái đò," Vương Quang cất giọng khàn đục nhưng rành rọt.

Người đàn ông thọt chân dừng tay miết nhựa trám. Lão ngẩng đầu lên, để lộ khuôn mặt gồ ghề đầy vết sẹo chém chéo qua gò má phải, đôi mắt đục mờ như lớp nước phù sa đã lắng lâu ngày:

"Đò này không chở lính tuần, không chở người của nha môn. Muốn đi thì kiếm mấy đò lớn ngoài kia."

"Ta không phải người đi việc bắt bớ, chỉ là Ký lục ngoại ngạch đi vẽ lòng sông," Vương Quang ngồi xổm xuống một tảng đá cách mũi thuyền ba bước chân, dùng bàn tay trái rút thanh thước sắt Thiết Xích Khảo Sát đặt ngang trên gối: "Ta không bảo lão chở qua vùng cấm của họ Quách. Ta chỉ cần lão chống đò đưa ta đến mép cọc ở bãi đá Vong. Phần đường còn lại, ta tự lội bộ."

Lão thọt liếc nhìn thanh thước sắt đen nhánh, rồi nhìn sang cánh tay phải bó nẹp gỗ sồi của hắn:

"Đến bãi đá Vong thì dễ, đẩy vài sào là tới. Nhưng qua khỏi cọc kiêng sông là đất của người dưới quyền họ Quách. Cậu bị thương thế kia, lội suối leo ghềnh chưa tới chân mỏ đá thì đã rách thịt vì đá lở."

"Đó là việc của thân thể ta," Vương Quang bình thản đáp, thò tay trái vào bọc áo rút ra ba mẩu than củi khô đặt lên mặt phiến đá trước mặt lão: "Ta biết lão thạo luồng lạch sông Bùi từ thời còn xẻ gỗ cho xưởng thợ dưới mạn xuôi. Chuyến này đi, ngoài tiền đò một quan hai trăm đồng trả trước, ta để lại cho lão số than củi tốt ngâm dầu thông này để nung nhựa trám thuyền."

Ngón tay sần sùi của lão thọt khẽ giật nhẹ. Đôi mắt đục nhìn chăm chú vào những mẩu than củi đen nhánh, khô ráo — thứ than củi nung kỹ của kinh thành vốn đắt đỏ và cực kỳ giữ lửa, thứ mà dân sông nước vùng này luôn thèm muốn để nấu nhựa trét thuyền mùa nước cạn.

Lão thọt nhổ bọt vào lòng bàn tay, đứng dậy bằng một bên chân lành lặn, chống cây sào gỗ nghiến xuống đáy đá nghe cốc một tiếng:

"Chỉ đến chân bãi đá Vong. Không lên bờ, không dính líu đến lều nứa của người họ Quách. Thấy động là tôi quay mũi đò về ngay. Chịu thì đưa đồ lên khoang."

"Được." Vương Quang gật đầu dứt khoát.

Chiếc thuyền độc mộc lướt đi trên mặt nước sông Bùi như một chiếc lá tre khô.

Sông Bùi mùa này cạn đến trơ cả những vỉa đá xám ngoét dưới đáy. Nước sông không còn màu đỏ phù sa của ngã ba Chợ Bến mà chuyển sang màu xanh rêu lạnh ngắt, trong vắt nhưng chảy xiết giữa hai bờ vách đá vôi dựng đứng.

Chu Bá Cửu ngồi co ro ở giữa khoang, hai tay giữ chặt lấy hai chiếc gùi mây, mắt lấm lét nhìn dòng nước cuộn xoáy dưới mạn thuyền.

Ở mũi thuyền, Vương Quang đứng hơi khom lưng, bàn tay trái bám chắc vào mạn thuyền gồ ghề. Hắn không ngồi. Dáng đứng hơi nghiêng sang mạn trái giúp hắn giữ thăng bằng cho cả thân hình khi chiếc đò chòng chành vượt qua những vũng nước nông.

Con mắt trái của hắn mở to, tập trung quan sát từng mỏm đá ngầm nhô lên khỏi mặt nước. Cứ qua một khúc quanh, hắn lại dùng tay trái nhấc cuốn sổ khảo sát nhỏ bằng da giắt bên hông, dùng thỏi than củi gạch nhanh một nét ký hiệu ước lệ: độ sâu con nước, vị trí đá tảng, hướng dòng chảy dồn về bờ hữu.

Nét vẽ bằng tay trái vẫn thô ráp, gãy khúc, nhưng rành mạch và chuẩn xác từng khoảng cách.

Phía đuôi thuyền, lão thọt vừa chống sào vừa liếc nhìn từng cử động của Vương Quang. Đôi mắt đục của lão thoáng vẻ kinh ngạc: một kẻ bị thương nặng một tay, thân hình gầy rộc, vậy mà khi đứng trên mũi thuyền vượt ghềnh đá lại vững chãi như một chiếc cọc tiêu cắm đáy sông, hơi thở trầm ổn đến mức gần như không nghe thấy tiếng thở dốc.

"Sắp tới rồi," lão thọt bỗng hạ giọng, chỉ mũi sào về phía hẻm núi hẹp phía trước.

Hai vách núi đá vôi đột ngột khép lại như một chiếc cổng thành khổng lồ do trời dựng. Ở giữa luồng lạch hẹp chừng ba trượng, dòng nước xô vào một bãi đá cuội lổn nhổn nhô cao khỏi mặt nước: bãi đá Vong.

Vương Quang nheo mắt nhìn về phía luồng nước.

Cắm chéo ngang dòng chảy xiết là một hàng cọc tre đực vót nhọn, cao hơn đầu người. Trên mỗi đầu cọc tre đều buộc một túm lá kiêng — những chiếc lá vối rừng héo rũ, đan chéo thành hình mắt cáo, bên dưới treo lủng lẳng một nắm vỏ ốc suối luồn chỉ chàm ngũ sắc.

"Cọc ta-leo," lão thọt nói nhỏ, giọng khô khốc: "Tiếng người bản gọi vậy. Cắm xuống là báo lạch đã đóng. Không phải cọc chắn nước thì cũng là cọc chắn người."

Gió núi thổi qua hàng cọc, khiến những chùm vỏ ốc va vào nhau phát ra những tiếng lách cách... lách cách... khô khốc, nghe như tiếng vật cứng gõ vào nhau trong một gian nhà hoang.

Ngay sát bờ đá bên tả, một túp lều nứa xiêu vẹo dựng nép vào hốc núi. Khói bếp lam chiều bốc lên lờ mờ, thấp thoáng bóng hai gã đàn ông mặc áo chàm ngắn, tay lăm lăm những cây giáo sắt cán tre dài, đứng bất động canh giữ lối vào Cửa Rào.

"Đến ranh giới rồi," lão thọt ghì chặt cây sào gỗ nghiến xuống một hốc đá, giữ cho mũi thuyền khựng lại giữa dòng nước xiết, giọng lão lộ rõ vẻ căng thẳng: "Cọc kiêng sông cắm rồi, người ngoài bước qua là tuần đinh họ Quách phóng giáo ngay. Tôi chỉ đưa đến đây. Trả tiền, dỡ đồ xuống bãi đá."

Chu Bá Cửu mặt tái mét, nhìn hàng cọc tre rồi nhìn hai gã tuần đinh cầm giáo trên bờ:

"Thầy Ký... thế này làm sao mà qua được? Đụng vào cọc là họ đâm rách mạn thuyền ngay!"

Vương Quang đứng yên trên mũi đò.

Con mắt phải mờ xám của hắn khẽ co lại. Phía sau hàng cọc tre, mặt nước không hẳn đứng yên, nhưng những vòng gợn bị ép sát xuống đáy, lan ra chậm hơn phần sông bên ngoài. Những vệt cá suối vốn thỉnh thoảng vẫn lóe lên ánh bạc ở các khe nước phía ngoài, đến đây đều biến mất; sương bám thành từng dải thấp trên mặt đá, không tan ngay cả khi gió núi quét ngang qua.

Hắn chưa thể phân biệt đó là do địa thế hẹp, dòng nước bị dồn dưới lớp đá ngầm hay một dấu tích xưa cũ mà con mắt phải của hắn chỉ có thể cảm nhận một phần mờ mịt mà không gọi được tên. Nhưng sự khác biệt kia có thật, ít nhất trong phạm vi những gì hắn đang thấy.

Vương Quang quay sang, trả cho lão thọt túi tiền vải thô cùng ba mẩu than củi như đã hứa. Đoạn, hắn tháo chiếc gùi nặng khỏi lưng mình, chuyển hẳn sang cho Chu Bá Cửu:

"Cầm lấy gùi than. Giữ chắc chân, đứng sau lưng ta."

Bản thân hắn chỉ giữ lại cuốn sổ khảo sát, thanh Thiết Xích Khảo Sát và chiếc túi da trâu áp sát mạn sườn.

Hắn cúi người, dùng đầu thước sắt gõ nhẹ ba nhịp lên phiến đá ngập nước dưới chân thuyền. Một tiếng đanh... đanh... đục... dội ngược lại qua lớp rêu ướt, xác nhận lớp đá bên dưới là đá tảng đặc chứ không phải hốc rỗng. Chờ cho mũi thuyền giữ thăng bằng sau một đợt sóng tràn, Vương Quang mới bước chân xuống dòng nước suối buốt như kim châm, chọn một dải đá thấp chạy chếch về phía bãi Vong thay vì bước thẳng vào luồng nước chính.

Nhìn thấy hai bóng người dẫm nước tiến lại, một gã tuần đinh trên bờ đá lập tức nhấc cây giáo sắt lên, mũi giáo chĩa thẳng về phía mép nước:

"Đứng lại! Có mắt không thấy cọc kiêng sông à? Bản mường đang đóng lạch, bước qua một bước là cắm giáo vào ngực!"

Vương Quang dừng chân trên một phiến đá cuội nhô cao cách hàng cọc đúng ba thước. Dòng nước lạnh buốt cuộn qua mắt cá chân hắn, nhưng thân hình hắn đứng thẳng tắp.

Bằng bàn tay trái, hắn từ từ giơ tờ Đăng Trình Lệnh giấy bản dày lên ngang ngực. Dưới ánh sáng xám nhợt của buổi sớm miền núi, vết triện Khai Ấn hình vuông của Ty Khảo Sát hiện ra đỏ rực:

"Ngoại ngạch Ký lục Vương Quang phụng công lệnh Khâm Thiên Giám đo vẽ thủy trình và mỏ đá sông Bùi. Ta chưa bước qua cọc của các người."

Hắn đưa mắt nhìn thẳng vào hai mũi giáo nhọn hoắt trên bờ đá, giọng phẳng lặng nhưng rành rọt từng chữ:

"Nhưng nếu người của họ Quách muốn cấm đường công vụ của triều đình, hãy nói cho rõ: các người cấm bằng lệ riêng của bản mường, hay cấm bằng văn bản có quan ấn của nha môn?"

Gió núi thổi tạt qua mặt nước. Những chùm vỏ ốc trên cọc tre lại va vào nhau lách cách.

Hai gã tuần đinh nhìn vào vết triện son đỏ bầm trên tờ giấy bản, rồi nhìn sang con mắt phải mờ xám lạnh tanh của người thanh niên áo chàm, lưỡi giáo trong tay bất giác khựng lại giữa chừng.

Và ngay trong khoảnh khắc im lặng căng như dây đàn ấy, con mắt trái sắc bén của một Ký lục thực địa đã kịp bắt trọn một chi tiết: hàng cọc tre cắm lá kiêng không hề chạy thẳng từ bờ này sang bờ kia. Ở mép vách đá ngầm bên hữu, hàng cọc bị cắm lệch khỏi luồng nước tự nhiên đúng một thước — một khoảng trống vừa đủ hẹp để đò lớn không thể lách qua, nhưng lại mở ra một lối đi kín đáo cho những chiếc thuyền độc mộc của những kẻ biết rõ đường nước.

0
Ủng hộ tác giả Cương Vương Nếu bạn yêu thích tác phẩm, hãy ủng hộ mình ly cafe nhé <3