Chương 71: Bùn Lạnh Thác Khói
Nhân Gian Có Màn
Mục lục
74 chươngCuộn, vuốt hoặc dùng hai nút để xem thêm Đã tải 74/74 chương
Ba dặm ngược dòng sông Bùi gần như không có khái niệm về đường đi cho một người đang mang thương tích.
Rời khỏi bãi đá Vong, con lạch co cụm lại thành một khe nước hẹp chỉ chừng hai trượng, kẹp giữa hai vách đá vôi dựng đứng xám xịt như tro tàn. Mùa nước kiệt, bờ sông không có nổi một dải cát phẳng; đáy lạch trơ ra toàn đá tai mèo nhọn hoắt, phủ một lớp rêu mục trơn nhẫy và bốc mùi tanh nồng của bùn chết.
Mưa phùn đầu xuân bắt đầu nặng hạt dần, biến thành những luồng mưa rây quất rát rạt vào mặt.
Chu Bá Cửu cởi trần nửa thân trên dẫu gió bấc thổi buốt thấu xương, manh tơi lá rách bươm quấn quanh hông để che hai chiếc gùi mây lót lá cọ. Lão phu trạm già đi trước, hai bàn chân bè bè với những ngón tõe ra như rễ cây bám chặt vào từng gờ đá sắc lẹm. Trong tay lão, cây sào tre bịt sắt liên tục đâm xuống những vũng nước đục ngầu để dò độ sâu, mỗi lần cắm ngập lại phát ra tiếng thọc... thọc... nặng trịch.
"Thầy Ký, dẫm vào vết chân tôi!" Chu Bá Cửu ngoái đầu lại, hơi thở phì phò thành từng luồng khói trắng trong không khí buốt giá: "Chớ dẫm vào chỗ nước sủi bọt tăm! Đá vôi mạn này ngậm nước nhiều đời, bên ngoài nhìn như tảng đá đặc, nhưng đạp mạnh một cái là vỡ vụn thành hộc rỗng, kẹp gãy mắt cá chân như chơi!"
Vương Quang bước theo sau, từng bước chân nặng như đeo chì.
Hắn không có cây sào tre như Chu Bá Cửu. Toàn bộ trọng tâm cơ thể dồn sang chân trái và mạn sườn bên tả; bàn tay trái chai sần nắm chặt lấy thanh Thiết Xích Khảo Sát, dùng đầu mũi sắt nhọn hoắt cắm vào các kẽ đá tai mèo để làm điểm tựa mỗi khi nhấc chân.
Cánh tay phải vẫn bị nẹp gỗ sồi và dây da trâu ghì chặt vào ngực. Thanh Chân Thư Bút ép cứng lên lớp băng, mỗi cú dằn xóc đều truyền chấn động thẳng vào khớp cổ tay và mỏm xương quay bị tổn thương, khiến thái dương hắn giật nảy từng chập. Hắn cắn chặt răng, không dừng lại thở than. Cứ đi được chừng ba mươi trượng, hắn lại dừng lại năm nhịp thở, dùng bàn tay trái rút cuốn sổ da giắt bên hông, tì lên đầu gối áo chàm, nhấc thỏi than củi quẹt nhanh những ký hiệu hình học thô ráp: mặt cắt dòng chảy thu hẹp, vỉa đá nứt dọc, ranh giới ngập nước mùa kiệt.
Một Ký lục không được phép để cơn đau thể xác làm sai lệch các thông số đo đạc. Sự tỉnh táo của ngòi bút là thứ duy nhất phân định hắn với một kẻ tha phương cầu thực sắp chết rũ bên bờ suối.
Càng tiến sâu vào địa phận Cửa Rào, luồng gió núi thổi ra càng nồng nặc một thứ mùi kỳ dị.
Đó không phải mùi tanh của cá suối hay bùn phù sa thông thường, mà là mùi ẩm mốc ngai ngái trộn lẫn với mùi diêm sinh khen khét — thứ mùi của khoáng chất bị vùi lấp lâu ngày trong lòng đất ẩm, nay theo các mạch nước rỉ ra ngoài.
Mặt nước sông Bùi đổi màu rõ rệt. Từ sắc xanh rêu lạnh ngắt của vùng bãi Vong, nước ở đây ngả dần sang màu xám đục lờ đờ, bên trên mặt nước đóng một lớp váng mỏng nhờ nhờ như mỡ cá thối.
Con mắt phải mờ xám của Vương Quang khẽ co giật.
Dưới tầm nhìn mờ đục của con mắt mang thương tổn cõi âm, lớp sương mù bao phủ mặt suối không hề tản đi theo gió bấc. Chúng ngưng tụ lại thành từng dải thấp sát mặt nước, bám chặt lấy những hốc đá hàm ếch tối om hai bên bờ. Một cảm giác lạnh lẽo cục bộ ép chặt lấy lồng ngực hắn — không phải cái lạnh của gió mùa đông bắc, mà là sự ngột ngạt của một vùng không gian yếm khí, nơi dòng nước bị chẹn nghẽn và khí ẩm tích tụ lâu năm khó lưu thông.
“Mùa nước cạn này, trên ấy đá lở liên miên, nước suối đổi màu rêu thối, Thầy Mo bản ta bấm quẻ bảo có ma hang thức giấc…”
Lời cảnh báo của Quách Tráng dội lại trong tâm trí Vương Quang.
Hắn không vội tin vào chuyện "ma hang" theo lời kể truyền khẩu, nhưng cũng không vội gạt phăng đi. Với một Ký lục từng bước qua ranh giới sống chết ở Cổ Am, hắn hiểu rằng cõi Âm có những quy luật mà giấy tờ trần gian chưa từng ghi chép; nhưng trước mắt, hắn chưa có bất cứ bằng chứng nào để gọi hiện tượng này là "ma quỷ".
Con mắt trái nhìn vào lớp váng xám trên mặt nước, rồi nhìn lên những vết nứt toác ngoằn ngoèo trên vách núi đá vôi phía trên đầu. Hắn đưa đầu thước sắt xuống khoắng nhẹ một vệt váng, nhấc lên mũi ngửi: mùi lưu huỳnh lẫn với bùn khoáng phân rã.
Không phải cái "ma hang" mà Thầy Mo nói có thể kiểm chứng được ngay bằng mắt thường. Nhưng những gì hắn đang nhìn thấy trước mắt đều mang dấu hiệu của một dòng nước bị nghẽn và một vỉa đất đá đang mất ổn định. Vết nứt trên vách, lớp váng nổi trên mặt nước, mùi khoáng nồng và những bọt khí thoát lên từ bờ lạch — từng thứ riêng lẻ chưa nói được điều gì, nhưng đặt cạnh nhau, chúng đủ khiến một người làm nghề đo đạc không vội quy tất cả về chuyện huyền hoặc hoang đường. Còn nguyên nhân thực sự nằm ở đâu, hay có biến động sâu xa nào dưới lòng đất, hắn chưa đủ dữ liệu để kết luận.
"Thầy Ký! Dừng lại! Đừng bước tới mép nước bên hữu!"
Tiếng quát gấp gáp của Chu Bá Cửu kéo Vương Quang ra khỏi dòng suy nghĩ.
Lão phu trạm già đứng sững lại trên một mỏm đá nhô cao, cây sào tre trong tay lão cắm ngập lút cán xuống một bãi bùn xám ngoét nằm chắn ngang giữa hai vách đá.
Trước mặt họ, lòng suối đột ngột mở rộng ra thành một vụng nước tù. Nhưng đó không phải là nước, mà là một bãi bùn non ngậm nước đùn lên từ chân vách núi, trải dài hơn mười trượng. Mặt bãi bùn phẳng lặng như một tấm gương xám xịt, chỉ thỉnh thoảng lại ục lên một bọt khí to bằng miệng bát, nổ bộp một tiếng rồi tỏa ra làn khói mỏng tanh nồng.
"Đúng là bãi đất thụt Thác Khói rồi..." Chu Bá Cửu lau vội mồ hôi trán lẫn với nước mưa, giọng run run: "Ba năm trước đoàn phu đá bọn tôi từng bị một cỗ xe trâu sa vào đây. Đất nhìn khô ráo thế thôi, nhưng bên dưới toàn là bùn cát chảy. Trâu lún tới bụng, càng giãy càng chìm, chưa đầy nửa khắc đã bị nuốt chửng không còn thấy sừng. May mà lúc nãy nhớ đường, không đi men theo bờ hữu!"
Chu Bá Cửu chỉ cây sào về phía vách núi bên tả:
"Phải trèo qua cái khe nứt kia. Men theo gờ đá tai mèo trên cao chừng hai trượng để vòng qua bãi đất thụt này mới tới được chân thác!"
Vương Quang nhìn theo hướng cây sào.
Gờ đá bên tả chỉ rộng chừng một gang tay, dốc đứng, rêu xanh phủ kín mép đá ướt sũng. Đối với một người lành lặn, việc bám vách đá trèo qua đã là một thử thách nguy hiểm; đối với một kẻ một tay nẹp chặt trước ngực, mang theo thước sắt nặng trịch, chỉ cần trượt chân một bước là rơi thẳng xuống bãi bùn lún bên dưới.
"Ngươi qua trước," Vương Quang cất giọng ráo hoác, phẳng lặng: "Buộc chặt gùi mây vào lưng. Dùng sào tì vào vách đá làm điểm tựa."
Chu Bá Cửu nhìn cánh tay phải của Vương Quang, toan ngập ngừng nói gì đó, nhưng khi chạm vào ánh mắt bình thản của người thanh niên, lão nuốt ngược lời can ngăn vào bụng. Lão gật đầu, cẩn thận thắt lại dây bao tải, xoay người áp sát ngực vào vách đá vôi lạnh ngắt, từng bước dịch chuyển qua khe nứt hiểm trở.
Năm nhịp thở. Mười nhịp thở.
Tiếng đá dăm rơi lạo xạo xuống bãi bùn bên dưới nghe thót tim. Mất gần nửa khắc đồng hồ, bóng Chu Bá Cửu mới đặt chân an toàn lên một mỏm đá đặc phía bên kia bờ vực.
Đến lượt Vương Quang.
Hắn cài thanh Thiết Xích Khảo Sát vào đai lưng da trâu bên hông trái, để bàn tay trái hoàn toàn tự do. Hắn không nhìn xuống bãi bùn non đang sủi bọt bên dưới. Con mắt trái của hắn chỉ tập trung vào từng kẽ nứt của vách đá phía trước mặt: kẽ nứt nào đủ sâu để các ngón tay trái móc vào, mấu đá nào đủ cứng để mũi ủng có thể bám trụ.
Hắn ép mình thở chậm, phân lại trọng lượng cơ thể dồn lên chân trái, rồi áp sát thân mình vào vách đá vôi xù xì.
Bàn tay trái của hắn vươn ra. Các khớp ngón tay chai sần bám chặt vào một kẽ nứt hẹp. Cơ bắp bả vai trái gồng cứng lên, chịu đựng toàn bộ trọng lượng của thân thể gầy guộc. Mũi ủng da rách nát dò dẫm, tì vào một gờ đá nhô ra chỉ bằng hai ngón tay.
Rắc!
Một mẩu đá phong hóa vỡ vụn dưới mũi chân hắn, rơi tõm xuống bãi bùn. Thân hình Vương Quang chòng chành, trượt xuống nửa gang tay.
Cánh tay phải va đập vào vách đá; cơn đau buốt từ mỏm xương quay lệch mộng bùng lên dữ dội, khiến tầm mắt hắn tối sầm lại trong tích tắc. Máu từ vết thương cũ dường như lại rỉ ra, thấm ươn ướt qua lớp vải xô bọc ngoài nẹp gỗ sồi.
"Thầy Ký!" Chu Bá Cửu bên kia vách hét lên thất thanh.
Vương Quang không buông tay.
Từng ngón tay run lên vì đau, nhưng vẫn tìm đúng chỗ bám, găm chặt vào kẽ đá như móc sắt. Hắn không thở dốc, không hoảng loạn. Hắn cắn chặt môi dưới cho đến khi vị máu tanh mặn chát đánh thức lại sự tỉnh táo, giữ hơi thở chậm rãi, dồn lực đè lên mũi chân trái rồi từ từ kéo thân mình nhích lên từng phân một.
Từng bước. Từng tấc một.
Bàn tay trái rách da, máu hòa cùng nước mưa và bột đá vôi xám ngoét. Khi bàn tay ấy túm được cây sào tre do Chu Bá Cửu chìa ra và được kéo mạnh lên bờ đá an toàn, toàn thân hắn ướt sũng mồ hôi lạnh, lồng ngực phập phồng dữ dội. Hắn ngồi bệt xuống một phiến đá vôi khô ráo, cánh tay phải run lên bần bật vì chấn động, nhưng con mắt trái vẫn ráo hoác nhìn lại bãi bùn thụt vừa bỏ lại sau lưng.
Hắn đã vượt qua chặng hiểm trở thứ hai của Cửa Rào.
"Thầy Ký... thầy liều quá..." Chu Bá Cửu ngồi thụp xuống bên cạnh, run rẩy rút manh áo chấn thủ đắp lên vai hắn.
Vương Quang khẽ lắc đầu, dùng tay trái nhấc thanh thước sắt kiểm tra lại then chốt, giọng trầm thấp:
"Không phải liều. Đó là lối duy nhất để đi tiếp."
Hắn ngẩng đầu nhìn về phía trước.
Qua khỏi khe nứt bãi đất thụt, không gian hẻm núi đột ngột mở toang ra thành một lòng chảo đá khổng lồ: vực Thác Khói.
Dưới đáy vực sâu hun hút, dòng thác từ trên vách núi cao ba mươi trượng đổ xuống. Mùa nước kiệt, con thác không cuồn cuộn gầm thét như mùa lũ mà chỉ còn là một dải nước mỏng manh như sợi chỉ trắng bạc buông thõng giữa trời. Nhưng khi dòng nước ấy chạm vào lòng vực đá sâu hoắm, hơi nước li ti bốc lên cuồn cuộn, hòa vào màn mưa phùn tạo thành một biển sương mù trắng xóa đặc quánh như khói lò vôi, che lấp toàn bộ chân vách núi.
Và giữa màn khói sương mịt mùng của Thác Khói, một mùi hương hoàn toàn khác biệt xộc vào mũi hai người.
Mùi than đá nung cháy đỏ rực. Mùi dầu trẩu tôi sắt cháy khét lẹt.
Và rồi, từ một hốc đá hàm ếch khổng lồ nép mình dưới chân vách núi phía đông, một chuỗi âm thanh kim khí đanh đục vang lên, xé toạc tiếng nước đổ rì rầm:
Choang... keng... cộc!
Choang... keng... cộc!
Tiếng búa gõ đe. Nhát búa giáng xuống không hề vội vã, nhịp điệu chậm rãi, nặng trịch và dứt khoát, mang theo sức nặng của sắt thép ngàn cân.
Chu Bá Cửu giật mình, mắt mở to nhìn vào màn sương mù xám đục:
"Thầy Ký... có lò rèn thật! Dưới chân vách đá có tiếng búa!"
Vương Quang đứng dậy, bàn tay trái nắm chặt thanh thước sắt, cất bước tiến về phía ánh lửa đỏ le lói đang bập bùng sau màn khói sương của vực đá hoang tàn.
Thảo luận
Bình luận chương
0 bình luận
Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên bình luận chương này.