Nhân Gian Có Màn

Chương 68: Bến Đệm Chợ Bến

Đăng: 17/09/2026 10:21 2,022 từ 2 lượt đọc

Gió bấc cuối chiều mùng tám tháng Giêng mang theo hơi nước buốt giá từ sông Đáy thốc ngược lên con đê đất đỏ.

Rời kinh thành qua Cửa Tây, con đường thiên lý dẫn về xứ Đoài trơn như đổ mỡ sau cả tuần mưa dầm rải rác. Bùn đỏ bết chặt vào móng sắt của hai con ngựa trạm già nua, mỗi bước nhấc lên đều phát ra tiếng nhem nhép nặng trịch. Đêm mùng tám, hai người phải ghé vào ngủ tạm dưới mái kho bỏ không của một trạm phụ ven đê; gió lùa qua vách nứa buốt thấu xương, Chu Bá Cửu phải đốt nắm rơm ẩm hun khói sưởi chân cho ngựa. Đến tảng sáng mùng chín, họ mới lại tiếp tục dắt ngựa men theo triền đê đất xói lở mà đi về phía rặng núi đá vôi xám ngắt của mạn Lương Sơn.

Đi bên cạnh gã phu trạm, Vương Quang kéo sụp chiếc nón mê xuống sát trán.

Cơn gió lạnh lùa qua ống tay áo chàm rộng thùng thình, táp thẳng vào lớp nẹp gỗ sồi đang bó chặt cánh tay phải. Khớp xương quay sau gần hai ngày dằn xóc trên đường bắt đầu buốt nhức từng hồi; bốn đầu đinh của thanh Chân Thư Bút cấn vào lớp da thịt khô quánh, truyền đến cảm giác căng tức âm ỉ như có sợi dây đồng ngầm kéo giật gân tay mỗi khi chân hắn vấp phải ổ gà. Hắn không chống gậy. Bàn tay trái thô ráp nắm chặt lấy quai bao da trâu áp sát mạn sườn, bước chân giữ nhịp thở sâu đều đặn để hơi lạnh không ép nghẹt lồng ngực.

Mãi đến sẩm tối ngày mùng chín, màn sương mù đặc quánh từ chân núi mới tản bớt đôi phần, để lộ ra những vệt sáng vàng vọt hắt xuống dòng nước phù sa đỏ quạch: ngã ba Chợ Bến.

Đây là bến đệm cuối cùng của vùng hạ lưu trước khi dòng sông Bùi thu hẹp lại thành một dải luồng lạch hiểm trở chui sâu vào đất Mường cổ.

Không khí ở Chợ Bến đặc quánh mùi cá mòi nướng than, mùi bùn bãi ẩm mốc và mùi phân ngựa nồng nặc bốc lên từ các dãy chuồng dịch mã. Thuyền nan đáy nông của dân buôn cắm sào san sát bên mép bãi bồi; phu khuân vác cởi trần đóng khố, da thịt xám xịt vì rét, lầm lũi bốc dỡ những sọt than nâu và đá vôi từ mạn ngược chở về.

"Thầy Ký, phía trước là Điếm Trạm Chợ Bến," Chu Bá Cửu chỉ roi ngựa về phía một ngôi nhà ngói ba gian xây bằng gạch đất nung nằm nép dưới chân đê: "Theo quy thức, Ký lục ngoại ngạch mang công lệnh vào địa phận mới phải đóng dấu Lộ Trình Phiếu ở đây để xin cấp phát cỏ ngựa và thuê phu sở tại."

Vương Quang ngẩng đầu nhìn lên.

Dưới mái hiên trạm dịch, một ngọn đèn dầu đặt trong chiếc lồng sắt bọc kính thô ám khói đang đung đưa kẽo kẹt trong gió. Trên cột gỗ lim trước cửa treo tấm biển khắc bốn chữ Chợ Bến Dịch Điểm, bên cạnh cắm một bó que tre vót nhọn quay ngược xuống đất — dấu hiệu quy ước về việc kiểm soát hàng hóa và thuyền bè mùa nước cạn.

Hai người dắt ngựa bước lên bậc tam cấp ghép bằng đá cuội.

Bên trong gian phòng công vụ của điếm trạm, than củi thông cháy âm ỉ trong chiếc lò sưởi bằng gốm thô, tỏa ra hơi ấm ngột ngạt quyện với mùi giấy ẩm và mực tàu. Giữa phòng kê một chiếc bàn gỗ mộc dài, bên trên xếp từng chồng sổ bạ bọc vải gai thô ghi chép việc giao nhận hàng qua bến.

Sau chiếc bàn mộc, không có bóng dáng của viên Dịch thừa già hay đám sai phu quát tháo thường thấy.

Chỉ có một người con gái trạc hai mươi tuổi đang ngồi cắm cúi bên ngọn đèn dầu lạc. Nàng mặc chiếc áo cánh chàm nhuộm màu vỏ gai sẫm, cổ quấn chiếc khăn vải thô màu tro bếp để lộ cần cổ gầy guộc. Mái tóc nàng được búi gọn gàng sau gáy bằng một chiếc trâm tre vót mộc; ngón tay thon dài nhưng mu bàn tay hằn rõ những vết chai sần của người quen cầm bút kiểm sổ lẫn kéo dây thừng buộc hàng.

Nghe tiếng ủng dẫm lạo xạo trên ngạch cửa, nàng không vội ngẩng lên, ngòi bút lông thô trên tay vẫn chấm vào bát mực đen, gạch một vệt dứt khoát lên trang sổ bạ:

"Dịch thừa đi lên huyện họp lễ Khai Xuân từ sáng. Thuyền buôn nộp thuế hoa lợi thì để giấy thông hành vào khay đồng bên hữu, sáng mai quay lại lấy triện bến."

Giọng nàng trầm, ráo hoác và phẳng lặng, mang âm sắc hơi khô của vùng bán sơn địa.

Vương Quang bước lại gần mép bàn. Bàn tay trái của hắn rút tờ Đăng Trình Lệnh giấy bản dày cùng tấm thẻ đồng đen của Khâm Thiên Giám đặt xuống mặt bàn mộc:

"Ngoại ngạch Ký lục Vương Quang phụng mệnh Ty Khảo Sát đo vẽ thủy trình thượng nguồn sông Bùi. Đến bến đệm trình diện xin dấu Đáo Phiếu và tiếp nhận định mức phu dịch."

Ngòi bút trên tay người con gái khựng lại.

Nàng chầm chậm ngẩng đầu lên. Dưới ánh sáng vàng vọt của ngọn đèn dầu lạc, khuôn mặt nàng lộ ra với nước da bánh mật khỏe khoắn và đôi mắt một mí sắc lạnh, sâu thẳm.

Ánh mắt nàng lướt qua tấm thẻ đồng đen khắc phù hiệu mây cuộn, dừng lại trên tờ Đăng Trình Lệnh còn đỏ tươi vết triện son Khai Ấn của Nghiêm Đề Lại, rồi dời sang cánh tay phải đang bó nẹp gỗ sồi giấu dưới vạt áo chàm của Vương Quang.

Nàng nhìn tờ giấy bản rất lâu, đưa sát lại ngọn đèn dầu kiểm tra từng thớ giấy và nét mực, ánh mắt dừng lại ở nẹp gỗ bên tay phải hắn một thoáng trước khi chuyển sang vết triện son:

"Ký lục của Khâm Thiên Giám?"

Nàng cất tiếng, mắt nhìn thẳng vào con mắt phải mờ xám của hắn:

"Ta họ Diệp, phụ việc ghi sổ lộ trình và kiểm dịch ở trạm này. Ty Khảo Sát các người chưa từng cử ai lên mạn sông Bùi vào đầu tháng Giêng. Mùa này nước cạn trơ đáy đá, ngược dòng chỉ có thuyền độc mộc... Một người bị thương ở tay, một phu trạm đã có tuổi, với nhân lực này, công lệnh hai mươi ngày khó mà kham nổi."

Chu Bá Cửu đứng bên cạnh toan lên tiếng phân bua về quy định công môn thì Vương Quang đã khẽ giơ ngón tay trái ngăn lại.

Hắn nhìn người con gái họ Diệp, cất giọng bình thản:

"Công lệnh giao việc gì, Ký lục làm việc đó. Bổn phận của dịch trạm là đối chiếu giấy tờ, cấp dấu nhật trình và trích xuất danh sách phu bản địa theo đúng định mức ba quan tiền đồng ghi ở mặt sau."

Diệp nhìn hắn, ánh mắt dừng lại trên những ngón tay trái chai sần vì giữ thước sắt của hắn. Nàng không lộ vẻ khó chịu, cũng không to tiếng tranh cãi, chỉ gật đầu một cái thật khẽ:

"Giấy tờ hợp lệ. Nhưng ba quan tiền đồng tạm ứng của bản nha chỉ đủ mua hai gùi ngô khô và mướn một con mảng nứa qua khỏi vụng Chợ Bến. Lên đến vùng Cửa Rào, qua khỏi bãi đá Vong, người Mường của dòng họ Lang đạo đã cắm cọc tre buộc lá kiêng sông từ hôm mùng ba Tết. Dân bản không ai dám chở người lạ ngược dòng đâu."

Nàng kéo chiếc hộp gỗ con lại gần, nhấc chiếc triện đồng nhỏ của trạm Chợ Bến chấm vào hộp chu sa đỏ bầm, ấn một nhát gọn gàng lên góc tờ lệnh:

Cộp.

"Dấu Đáo Phiếu của các người đây," Diệp đẩy tờ giấy bản trả lại cho Vương Quang, kèm theo một thẻ tre khắc số hiệu trạm: "Chuồng ngựa phía sau còn chỗ trống, cỏ khô tự lấy ở góc chuồng. Muốn tìm phu dẫn đường ngược sông, sáng mai ra chợ sớm tìm đám lái đò ở bến Đền. Có người dám nhận tiền đi vào vùng cắm lá kiêng hay không thì tùy số các người."

Vương Quang dùng tay trái đón lấy tờ lệnh và thẻ tre. Ngón tay hắn vô tình quẹt qua đầu ngón tay của Diệp khi thu giấy tờ lại — da thịt nàng lạnh ngắt, khô ráo, các khớp ngón tay có độ cứng cáp bất thường của người quen cầm nắm vật nặng.

Hắn khẽ nheo mắt. Người con gái này nhìn tờ công lệnh quá kỹ, để ý đến vết thương ở tay hắn trước khi kiểm tra ấn triện, lại nắm rành rẽ tình hình cắm cọc kiêng sông ở tận Cửa Rào và bãi đá Vong — những thứ vượt xa hiểu biết của một người chỉ quanh năm ngồi phụ việc ghi sổ bến.

Kẻ này không đơn thuần chỉ là người coi sổ.

"Đa tạ cô coi trạm," Vương Quang gật đầu, cất tờ lệnh vào bọc da trâu rồi cùng Chu Bá Cửu xoay người bước ra cửa.

Nhìn bóng hai người dắt ngựa khuất sau dãy chuồng dịch mã ẩm mốc, Diệp vẫn ngồi yên sau chiếc bàn mộc.

Nàng không lập tức đứng dậy. Ngón tay nàng khẽ gõ nhẹ xuống mặt bàn gỗ, cảm nhận lớp bụi than mỏng và mùi thuốc cao hoàng bá còn vương lại trong không khí từ lớp băng nẹp trên tay người Ký lục.

Tiếng vó ngựa lạo xạo ngoài sân tắt dần, nhường chỗ cho tiếng gió rít qua khe liếp. Diệp đứng dậy, bước lại then cài cửa sảnh, chốt chặt lại.

Từ dưới ngăn đáy của chiếc hòm gỗ đựng sổ thuế cũ, nàng rút ra một dải vải gai mỏng cỡ hai ngón tay. Chiếc bút lông nhỏ chấm vào nghiên mực son khô khốc đặt khuất sau gờ gỗ. Nàng nắn nót viết từng dòng chữ li ti, rành rẽ và tuyệt đối khách quan:

“Vương Quang đã đến Chợ Bến chập tối mùng chín. Thương tích có thật. Cánh tay phải bị nẹp cố định trong gỗ sồi, gân cứng, không thấy cử động hữu dụng; mọi thao tác giấy tờ đều dùng tay trái. Mắt phải có màng xám mờ. Đi cùng một phu trạm già, hai ngựa, đồ đạc chỉ có than củi và giấy dầu thông thường, không có hộ vệ đi kèm. Công lệnh xuất trình ghi đo vẽ lòng sông và khảo sát mỏ đá.”

Ngòi bút son dừng lại một nhịp. Nàng nhìn ra màn sương đen kịt phía bờ sông, nơi con đường ngược dòng sông Bùi dẫn vào vùng đất của họ Quách Lang đạo.

Ngón tay nàng khẽ siết lại, rồi hạ thêm một dòng ngắn ngủi:

“Chưa rõ hắn có biết mình đang được đưa đến đâu hay không.”

Nàng thổi nhẹ cho ráo mực, cuộn chặt mảnh vải gai lại thành một cuộn nhỏ xíu bằng cuống hành, nhét sâu vào đường khâu bên trong chiếc thắt lưng da bò. Báo cáo này phải đợi đến trưa mai, khi thuyền buôn muối quen thuộc từ mạn dưới cập bến, mới có thể chuyển đi theo đúng kênh liên lạc ngầm. Nếu sơ suất làm lộ vết mực son ra ngoài phạm vi quy định của trạm, chính tờ giấy thân của nàng lưu ở kinh thành cũng khó giữ được vẹn toàn.

Bên ngoài, sương mù từ sông Bùi mỗi lúc một dày, trùm kín bãi bồi Chợ Bến trong sự im lìm lạnh ngắt của vùng chân núi.

0
Ủng hộ tác giả Cương Vương Nếu bạn yêu thích tác phẩm, hãy ủng hộ mình ly cafe nhé <3