Chương 72: Hốc Đá Rèn Sắt
Nhân Gian Có Màn
Mục lục
74 chươngCuộn, vuốt hoặc dùng hai nút để xem thêm Đã tải 74/74 chương
Màn sương mù từ lòng vực Thác Khói đặc quánh như vôi tôi bốc dở, táp vào mặt từng luồng ẩm ướt buốt giá. Hơi nước li ti quấn chặt lấy hai vạt áo chàm ướt sũng, đọng trên hàng mi và chòm râu lơ thơ của Vương Quang thành những giọt nước đùng đục, chực chảy tràn xuống gò má rát bỏng vì gió bấc.
Càng tiến sát về phía chân vách đá phía đông của lòng chảo, hơi nóng khô khốc từ lò lửa càng đối chọi gay gắt với cái rét căm căm của đáy vực. Hai luồng khí nóng lạnh va đập vào nhau ngay trước cửa hẻm núi, tạo thành những đụn khói trắng mỏng lãng đãng là là mặt đá. Mùi than cháy ngún quyện với mùi dầu trẩu tôi sắt bốc lên khét lẹt, xộc thẳng vào cuống họng, đè bẹp hẳn cái mùi ngai ngái, tanh nồng của bùn rêu mục ruỗng bốc lên từ lòng suối kiệt.
Chu Bá Cửu đi giật lùi nửa bước, chiếc sào tre bịt sắt trong tay chống mạnh xuống một gờ đá tai mèo nhẵn thó vì hơi nước. Lão phu trạm già thở dốc từng hồi, lồng ngực gầy guộc phập phồng sau chặng đường bám vách đá hiểm trở:
"Thầy Ký... mùi này đúng là mùi lò rèn rồi. Nhưng ở cái xó rừng cùng cốc này, ngoài phường trốn xâu lậu thuế với lũ thợ đá cùng đường, làm gì có ai dựng lò đe giữa khe núi ăn gió thế này?"
Vương Quang không đáp. Con mắt trái của hắn mở to, quét qua từng bụi cây rậm rạp mọc chen chúc bên bờ đá.
Hốc đá hàm ếch hiện ra sau một tấm rèm dây leo rừng đã úa rũ vì khói than.
Đó là một vòm đá vôi tự nhiên khoét sâu vào lòng chân núi chừng ba trượng, trần đá thoải dần về phía trong, chỗ cao nhất chừng hơn đầu người lớn một chút. Toàn bộ vách đá xung quanh hốc đều bị bồ hóng phủ kín một màu đen kịt, bóng nhẫy như quét một lớp nhựa đường cổ. Phía trước cửa hốc xếp một hàng đá tảng chắn gió cao ngang hông, chừa lại một lối đi hẹp chỉ vừa đủ một người lách qua.
Bên trong hốc đá, ánh lửa đỏ rực bập bùng hắt những cái bóng vặn vẹo lên trần đá xám.
Một lò rèn lộ thiên được đắp bằng đất sét đỏ trộn sỏi dăm chiếm trọn một góc lòng hang. Than đá đập vụn cỡ nắm tay đang cháy ngùn ngụt, đỏ ối như máu đông, phì phì nhả từng luồng khói xám đục qua một khe nứt tự nhiên trên vách đá thông thẳng lên đỉnh trời. Cạnh lò nung, chiếc đe thép đen trũi to như chiếc cối giã gạo được chôn chết vào một vỉa đá tảng mọc trồi lên từ nền hốc, mặt đe lõm xuống một vệt bóng loáng do bị hàng vạn nhát búa nện vào qua năm tháng.
Chiếc bễ thụt dài bằng cả thân cây gỗ nghiến khoét rỗng đặt nép sát vách đá bên tả. Mỗi nhịp kéo ra thụt vào đều phát ra tiếng phì phò... phì phò... nặng trịch, rền rĩ như tiếng thở của một con trâu mộng bị trói trong chuồng hẹp.
Sau chiếc đe thép, một bóng người đang đứng vung búa.
Lão trạc ngoài sáu mươi tuổi, lưng còng rạp xuống như một cành cây khô gãy gập, thân trên để trần hoàn toàn dẫu ngoài trời mưa phùn gió bấc đang rít từng hồi buốt óc. Lớp da thịt trên ngực và hai cánh tay lão ngăm đen, khô quắt, chằng chịt những vệt sẹo bỏng tròn xơ xác do xỉ sắt bắn vào lâu ngày để lại. Chiếc chân trái của lão teo quắt, nhỏ thó như que củi, toàn bộ bàn chân bọc trong một khối da trâu thuộc thô dày buộc chằng chịt dây gai; mọi sức nặng cơ thể lão đều dồn cả vào chiếc chân phải to bè, gân guốc, mười đầu ngón chân bấu chặt xuống nền đá như rễ si già.
Choang... keng... cộc!
Choang... keng... cộc!
Chiếc búa tạ nặng trịch trong tay lão giáng xuống một thanh sắt nung đỏ rực đặt trên mặt đe. Nhát búa giáng xuống không hề có chút do dự hay vội vã, nhịp điệu chậm rãi, trầm đục và dứt khoát. Mỗi lần búa chạm sắt, tia lửa hoa cải lại bắn tung tóe vào vách đá tối tăm, sáng lòa lên một vệt chói lọi rồi lụi tàn thành những hạt xỉ đen bốc khói cay xè.
Dưới đất, xung quanh chân chiếc đe thép, không hề có những lưỡi cày, lưỡi cuốc hay dao phát nương thường thấy ở các phường thợ rèn dưới xuôi. Nằm la liệt trên nền đá chỉ toàn là những mũi xà bén nhọn hoắt dài ba thước, những chiếc đục đá chuôi vuông dày bản và những thanh chêm sắt xù xì chuyên dùng để bửa vỉa đá tảng.
Chu Bá Cửu nuốt nước bọt cái ực, bước chân ngập ngừng khựng lại ngay mép rèm dây leo:
"Thầy Ký... đồ nghề toàn sắt nặng thế này, lão này đích thị là thợ xẻ đá cho mỏ quặng ngầm của họ Quách rồi."
Tiếng búa trên tay lão thợ rèn đột ngột dừng bặt.
Chiếc búa tạ nặng nề đặt thẳng xuống mặt đe thép, phát ra một tiếng uỳnh làm rung chuyển cả lớp tro than dưới đất. Lão không quay đầu lại, nhưng bàn tay khẳng khiu như cành củi khô đã thoăn thoắt với lấy cây kẹp sắt dài hơn ba thước gác ngang miệng lò nung.
Lão kẹp một cục than đá đang cháy đỏ rực nhấc lên ngang ngực, giọng cất lên khàn đặc, gắt gỏng như tiếng đá dăm cọ xát dưới đáy thùng rỗng:
"Phu trạm mang áo chàm, ngửi mùi mực là biết ngay ngữ người dưới đồng bằng mò lên. Lò rèn này không sửa xích ngựa, không mài đao cho lính huyện. Muốn mua dao phát nương thì quay đầu cút về Chợ Bến mà tìm phường thợ rèn ngoài đê!"
Chu Bá Cửu giật thót mình, vội vàng xốc lại quai gùi than, bước lên nửa bước toan giải thích:
"Bác rèn... chúng tôi là người của Khâm Thiên Giám dưới kinh thành lên, mang công lệnh đi khảo sát địa phận lòng sông..."
"Khâm Thiên Giám hay Hộ Bộ thì cũng là một lũ ăn bám trên lưng đám phu đập đá!" Lão thợ rèn gạt phăng lời Chu Bá Cửu bằng một tiếng gầm gừ trong cổ họng. Chiếc kẹp sắt kẹp hòn than đỏ trong tay lão vung mạnh một đường ngang, gõ mạnh vào cạnh đe thép nghe chát một tiếng đanh tai, tia lửa bắn xối xả về phía cửa hốc đá: "Cút ra ngoài! Trước khi tao tiện tay quẳng cả gắp than đỏ này vào mặt chúng mày!"
Hơi nóng khô khốc từ cục than phả thẳng ra cửa hốc, mang theo sự cự tuyệt trần trụi của một kẻ đã tự dạt mình ra ngoài rìa mọi luật lệ trần thế.
Chu Bá Cửu bị hơi nóng và tia lửa tạt vào mặt, lùi liền ba bước, bàn chân suýt trượt xuống khe đá. Gã phu trạm già mặt mày xám ngoét, nhìn Vương Quang đầy lo âu:
"Thầy Ký... lão này gàn dở có tiếng ở vùng Cửa Rào rồi. Đám tuần đinh họ Quách còn không thèm bén mảng vào cái hốc đá này, chúng ta chọc giận lão khéo bị lão nện búa vào đầu mất."
Vương Quang giữ vẻ mặt bất động. Hắn khẽ đưa bàn tay trái ra hiệu cho Chu Bá Cửu lùi sâu lại sau tảng đá chắn gió.
Hắn không rút tờ Đăng Trình Lệnh giấy bản dày ra khỏi bọc.
Ở cái hốc đá ẩm thấp và hoang vu này, một tờ công văn có đóng dấu son của quan trên chưa chắc đã nặng bằng một nhát búa của người đang đứng trước mặt. Một người có thể dựng lò rèn ở nơi hiểm trở này, sống qua hơn hai mươi năm mà không cần cúi đầu trước tuần đinh hay phường thợ dưới xuôi, hẳn đã có cách sống riêng của mình. Một kẻ như thế tuyệt đối không phải loại người chịu khuất phục trước vài câu quan cách sáo rỗng hay uy thế của triều đình Thăng Long xa xôi.
Muốn nói chuyện với một người thợ già sống bằng búa sắt, chỉ có thể nói bằng thứ tiếng nói của nghề nghiệp và vật chứng.
Vương Quang bước từng bước chậm rãi tiến vào trong lòng hốc đá. Đế ủng da mòn rách dẫm lên lớp xỉ sắt vụn phát ra những tiếng lạo xạo... lạo xạo... đều đặn. Hắn dừng lại cách chiếc đe thép đúng ba bước chân.
Cánh tay phải của hắn vẫn bị nẹp gỗ nghiến ghì chết trước ngực; lớp vải xô bọc ngoài sau cú va đập vào vách đá lúc vượt bãi bùn lún đã rách tươm, bết chặt những mảng máu khô sẫm dính vào các vòng dây da trâu. Nhưng sống lưng hắn vẫn thẳng tắp. Hơi thở của hắn trầm ổn, con mắt trái phẳng lặng như mặt nước giếng đá đầu đông, không lộ ra một tia sợ hãi trước hòn than đỏ đang chực ném tới.
Bằng bàn tay trái dính đầy bột đá vôi xám và những vết xước rớm máu, Vương Quang thò tay vào chiếc bọc da trâu bên hông. Hắn rút ra hai thứ, đặt dứt khoát lên góc nguội phủ đầy muội than của chiếc đe thép:
Thứ nhất: một thỏi than củi thông nung kỹ cỡ cổ tay, đen nhánh, mặt than bóng loáng như gương, khô ráo tuyệt đối dù vừa vượt qua quãng đường ẩm lạnh dưới chân Thác Khói.
Thứ hai: trang giấy bản ngâm dầu thông xé từ cuốn sổ khảo sát thực địa, bên trên vẽ chằng chịt những đường nét mực than gãy khúc do chính ngón tay trái của hắn phác thảo lúc vượt qua bãi bùn lún ngoài hẻm núi.
Lão thợ rèn nheo cặp mắt đục ngầu đầy những tia máu đỏ lòm, nhìn chăm chăm vào hai vật lạ vừa được đặt lên đe. Hòn than đỏ trên chiếc kẹp sắt khẽ hạ thấp xuống nửa tấc.
Ánh mắt lão chạm vào thỏi than củi trước tiên.
Lão buông lỏng kẹp sắt, vứt hòn than đỏ trở lại lò nung. Bàn tay khẳng khiu như chân gà rừng thò ra, hai đầu ngón tay thô ráp chai sần vê nhẹ một mẩu than nhỏ ở đầu mút thỏi than củi, bóp vụn. Bột than mịn màng rơi xuống lòng bàn tay lão, không hề có sạn cát. Lão đưa bàn tay lên sát mũi ngửi một hơi dài, rồi lại nheo mắt nhìn lớp tro đen bóng còn bám ở kẽ móng tay.
Lông mày bạc phếch của lão khẽ giật giật.
Là thợ rèn cả đời vùi mình bên bễ lửa, lão nhận ra ngay loại than này không phải thứ dân sơn tràng tự đốt ngoài rừng nứa. Than chắc, rất ít tạp, cháy đượm và giữ nhiệt lâu; chỉ những lò cần nhiệt độ cao và ổn định mới chịu bỏ công dùng thứ như vậy.
Nhưng thứ thực sự kéo chặt ánh nhìn của lão Bùi lại không phải là thỏi than củi tốt.
Đôi mắt đục ngầu của lão dời sang trang giấy bản ngâm dầu thông đặt bên cạnh.
Trên trang giấy dầu ngả vàng, những nét vẽ bằng than củi thô ráp tuy gãy góc, cứng đờ vì người vẽ phải dùng tay trái không thuận, nhưng khoảng cách và tỉ lệ giữa các điểm mốc lại rành mạch, chuẩn xác đến ngạc nhiên.
Bản vẽ phác họa lại toàn bộ mặt cắt địa hình của dải đất Thác Khói mà hai người vừa đi qua: mép vỉa đá vôi dựng đứng, dải đá dăm ngập rêu trơn trượt, phạm vi sụt lún của bãi bùn non, luồng nước rò rỉ rỉ ra từ chân vách đá bên hữu. Và đặc biệt nhất, ở góc trên của bản vẽ, một vệt than đậm chạy chéo qua sườn đá phía sau lưng hốc rèn — nơi một đường nứt phong hóa tự nhiên đang âm thầm xé toạc thớ đá vôi từ trên đỉnh vòm hang chạy xiên xuống chân móng.
"Mày vẽ cái này?"
Lão thợ rèn ngẩng đầu lên, ánh mắt sắc bén như lưỡi đục nhìn xoáy thẳng vào con mắt trái của Vương Quang, rồi dời sang cánh tay phải đang bị nẹp cứng ngắc trong vạt áo chàm:
"Vẽ bằng tay trái?"
"Vẽ lúc Chu Bá Cửu dò đường trèo qua khe nứt bên tả bãi bùn," giọng Vương Quang khàn đặc, khô khốc vang lên giữa tiếng bễ thở: "Vỉa đá phía sau lưng lò rèn của bác đang nứt dọc theo thớ đá vôi. Túi bùn dưới bãi thụt cho thấy mạch nước ngầm có thể đã đổi hướng rò rỉ sau những trận mưa dầm cuối năm ngoái, khiến phần đất đá dưới chân hốc mất dần chỗ tựa. Tiếng búa tạ gõ đe mỗi ngày tạo thêm rung chấn vào vỉa đá nứt. Nếu không dùng gỗ nghiến chêm cọc chịu lực vào ba điểm ta đánh dấu chữ thập, một trận mưa lớn kéo dài rất có thể sẽ kéo cả mảng vách phía trên sạt xuống, đè nát chiếc đe thép này."
Lão thợ rèn im lặng. Lồng ngực gầy guộc đầy sẹo bỏng của lão phập phồng sau từng hơi thở nặng nề, dồn dập.
Lão ở cái hốc đá hàm ếch này đã hơn hai mươi năm có lẻ. Lão từng nghe tiếng đá lăn lọc cọc trên mái hang trong những đêm đông lạnh giá, từng nghe tiếng răng rắc khô khốc của vách núi mỗi độ đông tàn, nhưng chưa từng thấy một kẻ nào vừa tới nơi đã chỉ ra được những vết nứt đáng ngờ và phần vách có nguy cơ chịu tải kém chuẩn xác đến từng điểm mốc như thế này.
"Mày muốn gì?"
Lão thợ rèn hạ thấp giọng xuống. Vẻ hung hãn, thù địch ban nãy đã rút bớt đi quá nửa, chỉ còn lại sự đề phòng cẩn trọng của một tay thợ già trước một kẻ thực sự hiểu nghề:
"Chỗ than này với mấy vệt vẽ trên giấy, chưa đủ để nhờ vả việc gì đâu."
Vương Quang bước thêm nửa bước, đưa cẳng tay phải đang bị bó chặt ra trước ánh sáng đỏ rực của ngọn lửa than đá:
"Ta cần nắn lại mộng xương và tháo chốt kẹp."
Lão thợ rèn nheo mắt nhìn vào lớp vải xô rách nát bết máu khô. Lão với tay lấy chiếc búa con cán ngắn dùng để gõ xỉ than đặt cạnh chân đe. Bằng một động tác thành thạo của kẻ quen thẩm định kim loại, lão đưa cán gỗ gõ nhẹ một nhịp dứt khoát vào lớp nẹp gỗ nghiến trên cẳng tay Vương Quang:
Cộc.
Một tiếng vang đanh, gọn, và có một độ rung ngân kim khí rất trầm dội ngược lại từ sâu bên dưới lớp băng vải, hoàn toàn khác biệt với âm thanh lục cục của xương gãy hay tiếng gỗ gõ vào da thịt thông thường.
Bàn tay cầm búa của lão thợ rèn khựng lại giữa không trung.
Đôi mắt đục ngầu của lão bỗng chốc co rút lại thành một chấm nhỏ. Lão cúi sát người xuống, đưa mũi ngửi sát vào lớp vải bọc ngoài cẳng tay Vương Quang. Mùi máu khô, mùi mủ ủ lâu ngày tanh nồng, nhưng lẫn sâu bên trong thứ mùi thối rữa ấy là một mùi tanh lạnh ngắt của kim khí ngâm trong bùn đất và dầu thông.
Lão đưa ngón tay cái thô ráp miết mạnh qua lớp vải, lần theo một đường gờ kim loại dẹp chạy dọc theo xương cẳng tay, ấn nhẹ vào một điểm lồi ở gần khớp cổ tay.
Dưới lớp da thịt sưng vù của Vương Quang, một cơ cấu lò xo ngầm khẽ nảy lên một nhịp cực nhỏ.
"Chân Thư Bút..."
Lão Bùi nói rất khẽ.
Bàn tay đang lần trên lớp nẹp bỗng dừng lại. Đôi mắt đục ngầu nhìn chăm chăm vào lớp băng cáu bẩn, rồi ngước lên nhìn thẳng vào con mắt phải mờ xám của Vương Quang, giọng khàn đặc:
"Thứ này... sao lại nằm trong xương của mày?"
Thảo luận
Bình luận chương
0 bình luận
Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên bình luận chương này.