Chương 70: Lạch Ngầm Bãi Vong
Nhân Gian Có Màn
Mục lục
74 chươngCuộn, vuốt hoặc dùng hai nút để xem thêm Đã tải 74/74 chương
Gió bấc từ hẻm núi sâu thốc ngược ra lòng sông Bùi, mang theo hơi sương buốt giá quất thẳng vào da thịt trần trụi. Giữa hai vách đá vôi xám xịt dựng đứng như hai bức tường thành khổng lồ, luồng nước mùa kiệt cuộn xoáy dưới đáy đá tai mèo lởm chởm, rít lên từng hồi đùng đục qua những hàm ếch ngập rêu mục.
Trên hàng cọc tre đực cắm chéo ngang dòng nước, những túm lá kiêng đan mắt cáo khô quắt rung lên bần bật. Hàng trăm chiếc vỏ ốc suối xâu chỉ chàm ngũ sắc va đập vào thân tre, phát ra chuỗi âm thanh lách cách... lách cách... khô khốc, rợn người, tựa như tiếng những khớp xương gõ vào nhau giữa chốn hoang vu tịch mịch.
Nước suối ngập ngang bắp chân buốt như hàng ngàn mũi kim châm thẳng vào tủy.
Vương Quang đứng chôn chân trên một phiến đá cuội dẹt trơn tuột cách mép hàng cọc tre đúng ba thước. Cánh tay phải của hắn vẫn bị nẹp gỗ sồi và các vòng đai da trâu ghì chặt trước ngực; sau hai ngày lội bùn dầm gió, mỏm xương quay bị chấn thương bắt đầu giật nhói từng cơn theo nhịp mạch đập. Bốn mấu đinh tán của thanh Chân Thư Bút cấn sâu vào lớp da thịt khô cứng dưới lớp băng, truyền đến một cảm giác căng tức nặng trịch, tê dại từ cùi chỏ lan ngược lên khớp bả vai. Hắn không hề chớp mắt, con mắt trái mở to, phẳng lặng đón lấy những luồng gió lạnh rát mặt, trong khi con mắt phải mờ xám hơi nheo lại để ngăn hơi ẩm mờ đục làm cay xè con ngươi.
Phía trước mặt hắn, hai gã tuần đinh mặc áo chàm ngắn cũn cỡn vẫn lăm lăm hai ngọn giáo sắt cán tre già đực. Mũi giáo rỉ sét thô dày, dính đầy bùn khô và mỡ thú, chỉ cách lồng ngực Vương Quang chưa đầy một trượng.
Gã tuần đinh đứng bên tả — người to lớn, bắp tay cuồn cuộn những vệt sẹo lồi do đá dăm cào rách — gằn giọng qua kẽ răng, tiếng Kinh lơ lớ âm sắc bản mường:
"Đứng im đó! Lệnh của quan dưới kinh không qua được cọc kiêng sông này đâu! Đất này thuộc quyền dòng họ Quách Lang đạo, rừng này thần núi giữ, dòng sông này do Thầy Mo coi sóc. Mùa kiêng cấm đò bè, muốn giữ mạng thì quay mũi thuyền về Chợ Bến ngay!"
Mũi giáo sắt khẽ rung lên theo từng nhịp thở hồng hộc của gã, ánh thép xỉn màu loang lổ sát khí trần trụi. Phía sau lưng Vương Quang, nước suối réo xiết qua kẽ chân Chu Bá Cửu. Gã phu trạm già hai tay ôm chặt lấy quai hai chiếc gùi mây trĩu nặng than củi và giấy dầu, hai đầu gối run lẩy bẩy, hàm răng va vào nhau lập cập phát ra tiếng va đập khô khốc giữa làn mưa bụi mỏng.
Vương Quang không lùi dù chỉ nửa bước.
Bàn tay trái thô ráp của hắn, với những vết chai sạn còn hằn đỏ vì ghì thước sắt những ngày Tết, chậm rãi đưa tờ Đăng Trình Lệnh bằng giấy bản dày lên ngang tầm mắt. Vết triện Khai Ấn hình vuông của Ty Khảo Sát, nhúng đẫm chu sa đỏ bầm, hiện rõ mồn một từng đường nét uy nghiêm của vương pháp trần thế dưới ánh sáng xám nhợt của buổi sớm miền núi.
Hắn không cao giọng, không quát tháo theo thói quan nha kinh kỳ. Giọng Vương Quang cất lên khàn đục, ráo hoác, nhưng từng âm tiết rành rọt đâm xuyên qua tiếng gió rít và tiếng sóng vỗ bờ đá:
"Bản mường kiêng sông mười lăm ngày để yên ma lạch. Lời Thầy Mo cắm cọc, người dưới xuôi tôn trọng lệ bản. Nhưng người coi lạch cắm cọc ngăn sông, sao chân cọc ngoài cùng sát vách đá bên hữu lại cắm lệch khỏi tim dòng chảy đúng một thước?"
Ngón tay trỏ tay trái của Vương Quang từ từ hạ xuống, chỉ thẳng vào chân vách đá vôi dựng đứng bên bờ hữu ngạn.
Ở đó, một bụi nứa dại rậm rạp rủ cành lá sát mặt nước. Phía dưới bóng râm u tối của bụi nứa, mép đá không hề có rêu xanh bám dính như những khối đá khác, mà nhẵn thó, trơ ra màu xám bóng của mặt đá thường xuyên bị cọ xát cơ học.
"Chân vách đá bên ấy còn vương vệt nhựa trám thuyền chưa kịp khô, bốc mùi dầu trẩu nồng nặc," Vương Quang tiếp tục, con mắt trái quét qua từng nét biến chuyển trên khuôn mặt thô kệch của hai gã tuần đinh: "Bèo tây trôi từ trên ngọn nguồn dạt vào hốc đá bị sào chống rẽ đôi thành một luồng nước trống hoác, đáy lạch sâu hơn hẳn lòng sông chính. Các người cắm cọc tre, treo bùa ốc để ngăn người ngoài, nhưng dấu nước dưới chân vách lại cho thấy ban đêm vẫn có thuyền nhỏ luồn qua. Chở gì, ta chưa biết. Nhưng đây rõ ràng không phải là một lối nước bỏ hoang."
Lời vừa dứt, hai gã tuần đinh đồng loạt biến sắc.
Gã cầm giáo bên tả giật bắn người, bắp thịt trên cánh tay căng cứng lại, mũi giáo sắt vô thức chùng xuống nửa gang tay. Ánh mắt gã đảo nhanh một vòng đầy hoảng hốt về phía bụi nứa bên bờ hữu.
Một đường lạch bí mật rõ ràng đã được người bản mường sử dụng từ lâu. Mùa nước cạn, khi thuế khóa và kiểm soát hàng hóa ở Chợ Bến siết chặt, những lối nước như thế này đủ để giúp hàng từ thượng nguồn tránh khỏi con mắt người ngoài. Một Ký lục từ kinh thành xa xôi vừa bước chân tới, cánh tay phải đang bị nẹp cứng trong gỗ sồi, vậy mà chỉ từ vài dấu vết nhỏ bên mép nước đã nhìn ra được phần khuất sau hàng cọc cấm.
"Mày..." Gã tuần đinh nghiến răng trèo trẹo, gân xanh nổi cộm trên thái dương, sát khí bốc lên ngùn ngụt: "Mày dám rình mò đường đi lối lại của bản mường? Rừng sâu nước độc này chôn xác một thằng tàn phế dễ như bẻ một cành củi mục!"
"Ta không rảnh để soi mói đường hàng của họ Quách," Vương Quang lạnh lùng cắt ngang, giọng nói phẳng lặng như mặt nước đóng băng, không gợn một chút sợ hãi: "Ta là Ký lục của Khâm Thiên Giám. Bản nha chỉ cần số liệu mặt cắt lòng sông và vị trí mỏ đá thượng nguồn để vẽ bản đồ nộp lên lục bộ. Những gì mắt thấy tai nghe, ta ghi nhận toàn bộ vào sổ nhật ký khảo sát."
Hắn dùng tay trái lật nhẹ nắp chiếc túi da trâu giắt bên hông, ngón tay kẹp lấy thỏi than củi đen nhánh đặt lên trang giấy bản trắng tinh của cuốn sổ khảo sát:
"Nếu ta chết ở đây, giấy Đăng Trình Lệnh vẫn còn trên người. Đến lúc ấy, người chết có thể chìm xuống nước, nhưng dấu công vụ thì không chìm được. Khi một Ký lục triều đình mang công lệnh Khai Ấn biến mất tại bãi đá Vong, quan nha Lương Sơn muốn tra hay không tra, án mạng ấy sẽ tròng vào cổ ai... đó là chuyện của họ Quách các người."
Không gian trên bãi đá bỗng chốc rơi vào một sự im lặng chết chóc.
Hai gã tuần đinh đứng chôn chân dưới nước lạnh, trán rịn mồ hôi hột dù gió bấc đang thổi từng cơn buốt óc. Chúng liếc nhìn nhau, lưỡi giáo trong tay bất giác run rẩy. Đám chân tay sai vặt có thể liều mạng chém giết một tên phu trạm hay một gã lái buôn lậu lén lút, nhưng đối mặt với một kẻ công môn hiểu rõ quy thức hành chính, dám đem chính cái chết và dấu ấn của triều đình ra làm đòn bẩy pháp lý, chúng hoàn toàn mất phương hướng. Chúng hiểu rất rõ: nếu làm kinh động đến quan phủ dưới huyện, con đường vận chuyển bí mật của bản mường sẽ bị đào xới tan tành, và kẻ bị lột da đầu tiên chính là những kẻ gác lạch ở đây.
"Có chuyện gì mà ầm ĩ ngoài lạch thế?"
Một giọng nói khàn đặc, đùng đục từ phía túp lều nứa sát vách núi cất lên, xé toạc bầu không khí căng thẳng.
Tấm liếp nứa đan mắt cáo bị một bàn tay thô ráp đẩy bật sang một bên. Một gã đàn ông trạc bốn mươi tuổi, dáng người thấp đậm, vai khoác một tấm áo da hoẵng xơ xác bước ra bờ đá. Cổ gã đeo lủng lẳng một chuỗi nanh lợn rừng bọc bạc sáng loáng; bên hông giắt một con dao quắm chuôi sừng bóng nhánh nước mỡ. Hàm răng nhuộm đen kịt của gã hé ra, để lộ một nụ cười nửa miệng đầy vẻ nham hiểm và lạnh lẽo của kẻ đã quen việc cai quản đám tuần đinh nơi sơn cước.
Hai gã cầm giáo lập tức hạ vũ khí, lùi sang một bên, cúi rạp người: "Bẩm Đội trưởng Quách Tráng, có Ký lục dưới kinh mang giấy triện đòi qua lạch."
Quách Tráng nheo cặp mắt ti hí, bước từng bước nặng nề trên những tảng đá rêu phong, tiến lại sát mép nước.
Ánh mắt gã quét từ đầu đến chân Vương Quang: dừng lại ở vạt áo chàm cũ rách lấm lem bùn đất, lướt qua cánh tay phải đang bị nẹp gỗ sồi ghì chặt vào sườn, rồi dừng lại thật lâu trên con mắt phải mờ xám đục ngầu của người thanh niên trẻ tuổi. Là kẻ đứng đầu đội tuần đinh gác Cửa Rào nhiều năm, Quách Tráng đã từng tiếp xúc với không ít quan nha, lại dịch dưới xuôi lên thẩm tra thuế khóa; nhưng một Ký lục cấp thấp đang mang thương tích nặng, chỉ còn tay trái đủ sức làm việc, đi cùng một phu trạm có tuổi không tấc sắt trong tay, đối diện với mũi giáo mà sắc mặt không đổi như kẻ này, gã chưa từng thấy bao giờ.
Gã dừng lại cách Vương Quang năm bước chân, nhổ toẹt một bãi nước trầu đỏ quạch xuống phiến đá ngập nước, nghe xèo một tiếng trong làn gió lạnh:
"Thầy Ký dưới kinh vất vả nhỉ? Tay phải nẹp chặt thế kia mà vẫn lặn lội lên rừng đo đá vẽ sông."
"Công việc của bản nha giao phó, phận Ký lục không dám chậm trễ," Vương Quang hạ tờ công lệnh xuống, giọng giữ nguyên vẻ chừng mực, không kiêu ngạo cũng không nhún nhường.
Quách Tráng cười khẩy, những ngón tay gầy guộc như rễ cây mân mê những chiếc nanh lợn rừng trước ngực:
"Thầy Ký biết nhìn ra lạch ngầm bên hữu, chứng tỏ con mắt lành lặn kia còn tinh tường lắm. Nhưng thầy mới chỉ nhìn thấy phần nổi của dòng sông thôi. Hàng cọc này cắm xuống, một nửa là để người bản mường giao dịch tránh tai mắt quan lại, nhưng nửa còn lại... là để chặn cái chết từ thượng nguồn trôi xuống."
Gã rút con dao quắm bên hông ra, dùng sống dao chỉ ngược về phía hẻm núi sâu hun hút, nơi sương mù đang cuồn cuộn bốc lên như khói lò vôi:
"Từ bãi đá Vong này ngược lên ba dặm là đất Cửa Rào. Qua khỏi Cửa Rào là vực Thác Khói, nơi có mỏ đá xanh bỏ hoang, người bản nói đã có từ nhiều đời. Mùa nước cạn này, trên ấy đá lở liên miên, vỉa đá nứt toác, nước suối đổi sang màu rêu thối nồng nặc mùi bùn chết. Thầy Mo bản ta bấm quẻ bảo có ma hang thức giấc, động chạm vào long mạch ngầm. Thầy Ký mang cái tay đau ấy lên đó, trượt chân rơi xuống hốc đá thì giấy tờ triều đình cũng chỉ để gói xương tàn mà thôi."
Nghe đến hai chữ "ma hang" và "bùn chết", Chu Bá Cửu đứng phía sau rùng mình một cái, hai hàm răng lại va vào nhau cầm cập.
Nhưng Vương Quang chỉ bình thản nhìn vào lưỡi dao quắm của Quách Tráng:
"Đá lở hay ma hang, đó là việc của Ký lục thực địa phải ghi nhận vào biên bản. Bản nha giao hạn định hai mươi ngày, ta không có thời gian đứng ở bãi Vong này chờ nước sông đổi màu."
Hắn ngước mắt nhìn thẳng vào con ngươi sắc lạnh của tên đội trưởng tuần đinh:
"Đội trưởng cho ta qua lạch theo đúng công lệnh, hay muốn giữ ta lại bãi đá này để đợi công văn đối chất của huyện nha Lương Sơn?"
Quách Tráng nheo mắt lại. Sát khí trong đáy mắt gã chớp lên một thoáng như ánh thép lạnh, rồi rất nhanh chóng lặn sâu vào vẻ nham hiểm thường ngày. Gã là kẻ thực dụng: giữ một viên Ký lục đang mang thương tích lại đây chỉ rước lấy phiền toái hành chính; chém chết hắn thì càng dễ khiến đường hàng bí mật của họ Quách bị quan phủ lần ra; chi bằng cứ để hắn tự mò mẫm lên thượng nguồn hiểm trở. Giữa chốn rừng thiêng nước độc, vách đá cheo leo, một kẻ chỉ còn một cánh tay lành lặn thì sống sót qua nổi ba ngày ở vực Thác Khói mới là chuyện lạ. Đến lúc hắn ngã xuống vực hay vùi xác trong đá lở, triều đình có muốn quy trách nhiệm cũng chẳng thể đổ lên đầu họ Quách.
"Được. Muốn đi tìm đường chết thì cứ việc đi," Quách Tráng nhếch mép, phất nhẹ mũi dao quắm về phía chân vách đá bên hữu: "Nhưng ta nói trước: thuyền của bến Đền không được lọt qua cọc cấm. Đò độc mộc chở các người đến đâu thì phải quay đầu về đó. Muốn lên mỏ đá thượng nguồn, hai thầy trò các người tự lội bộ men theo bờ đá hữu ngạn mà đi."
Gã liếc mắt nhìn cánh tay phải bất động của Vương Quang, buông một câu giễu cợt đầy ẩn ý:
"Nếu có lết được tới bãi đá Thác Khói... nhớ ghé vào cái lều lò rèn của lão què họ Bùi dưới chân vách đá. Ở đó có người biết bó thuốc cho kẻ sắp chết đấy."
Nói đoạn, Quách Tráng dứt khoát xoay người bước thẳng về phía túp lều nứa, tấm áo da hoẵng bay phần phật trong gió bấc. Hai gã tuần đinh cầm giáo hậm hực liếc nhìn Vương Quang một cái đầy hằn học rồi dạt sang hai bên mép đá, để lộ ra một lối mòn hẹp lởm chởm đá tai mèo men theo chân vách núi bên hữu.
Phía sau lưng, lão thọt lái đò nãy giờ vẫn nép thuyền dưới bóng tảng đá lớn, vừa thấy Quách Tráng quay lưng đi liền không chần chừ nửa khắc. Lão dùng hết sức bình sinh của chiếc chân lành lặn đạp mạnh vào đáy đá, chống cây sào gỗ nghiến đẩy phắt mạn thuyền ra xa, quay mũi đò xuôi dòng chảy xiết, hối hả chèo tháo thân về phía ngã ba Chợ Bến như thể vừa thoát khỏi miệng cọp.
Trên bãi đá Vong hoang lạnh, giờ đây chỉ còn trơ trọi hai bóng người áo chàm đứng chơ vơ giữa dòng nước suối buốt giá.
"Thầy Ký..." Chu Bá Cửu thở hắt ra một hơi dài, khuôn mặt già nua xám ngoét vì căng thẳng, hai tay run rẩy xốc lại quai gùi: "Họ... họ cho chúng ta qua thật rồi. Nhưng nhìn cái dải đá kia kìa, rêu đóng từng mảng dày cộp, đá tai mèo nhọn hoắt như chông cắm ngược. Người lành lặn đi còn trật khớp gãy xương, thầy trò mình mang hai gùi than nặng thế này, làm sao lội bộ được ba dặm đường rừng lên tới Thác Khói?"
"Không có thuyền thì dùng chân. Đi chậm thì cũng sẽ tới," Vương Quang thu tờ Đăng Trình Lệnh, cẩn thận nhét sâu vào bọc da trâu chống nước bên hông.
Hắn khẽ khom người, bàn tay trái nắm chặt lấy thanh Thiết Xích Khảo Sát nặng hơn hai cân. Đầu mũi thước sắt nhọn hoắt cắm phập xuống lớp cát sỏi ẩm ướt bên mép một khối đá hình thoi nhô cao khỏi mặt nước. Hắn rút thỏi than củi khô, dùng ngón tay trái nắn nót vạch một dấu chữ thập (*) dứt khoát, góc cạnh lên mặt phiến đá xám — mốc khảo sát thực địa đầu tiên được xác lập trên địa phận Lương Sơn.
Chu Bá Cửu nhìn vết vạch than đen nhánh trên đá, trong lòng vừa nể phục vừa xót xa. Gã phu trạm già khịt khịt mũi, điều chỉnh lại thế đứng của đôi chân bè bè quen leo dốc, cất giọng đầy kinh nghiệm thực tế:
"Thầy Ký, tôi không ngại lội suối mang nặng. Tôi chỉ lo cái vực Thác Khói kia thôi. Ba năm trước, tôi từng theo đoàn phu đá của huyện lên đó chuyển đá tảng về tu bổ cầu cống, dưới chân vách Thác Khói có một bãi đất thụt, hễ mưa phùn kéo dài là bùn non dưới lòng suối đùn lên, sụt lún ghê gớm lắm. Nếu lão thợ rèn họ Bùi mà tên Quách Tráng vừa nhắc thực sự còn cắm lều ở đấy, chúng ta tuyệt đối không được đi dọc theo lòng lạch chính, mà phải men theo khe đá bên trái để tránh vỉa đất sụt."
Vương Quang đưa con mắt trái nhìn người đồng hành già nua, khẽ gật đầu ghi nhận:
"Nhớ kỹ đường đi đó. Lát nữa lên tới chân thác, ngươi dẫn đường."
Hắn đứng thẳng người dậy, con mắt trái nhìn hút vào màn sương mù đặc quánh đang bao phủ lấy hẻm núi Cửa Rào.
Cái tên "lão què họ Bùi" được Vương Quang ghi nhớ. Một người biết rèn kim khí, lại biết bó thuốc và sống dưới chân một vùng mỏ đá mà chính người giữ lạch cũng không muốn nhắc tới, đáng để hắn lưu tâm. Hắn không biết lão Bùi là ai, càng không biết người ấy có chữa được cánh tay mình hay không.
Vương Quang hít vào một hơi thật sâu, nén luồng khí lạnh buốt xuống đáy ngực để ghìm chặt cơn đau nhức đang cắn xé nơi cổ tay.
Bàn tay trái cầm chắc thanh thước sắt, hắn dứt khoát bước bước chân đầu tiên qua khỏi hàng cọc kiêng sông, dẫm lên những phiến đá tai mèo trơn trượt, dẫn đầu đoàn khảo sát hai người tiến sâu vào vùng thượng nguồn mà người bản mường gọi là đất cấm.
Thảo luận
Bình luận chương
0 bình luận
Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên bình luận chương này.