Nhân Gian Có Màn

Chương 82: Trục Tời Treo Vực

Đăng: 19/09/2026 16:18 2,654 từ 2 lượt đọc

Gió bấc từ đáy thung lũng đá vôi thốc ngược lên mặt sàn gỗ, mang theo hơi sương lạnh ngắt như châm vào từng lỗ chân lông.

Trước mắt Vương Quang, trạm tời kéo đá cũ kỹ hiện ra chênh vênh giữa lưng chừng khoảng không. Đó là một mỏm đá vôi tự nhiên chìa hẳn ra ngoài mép vực, bên trên dựng khung giàn bằng bốn súc gỗ nghiến lớn, bắt chéo thành hình chữ "Nhân" để gánh chịu lực kéo từ lòng vực lên. Qua ba mươi năm dầm mưa dãi tuyết, lớp vỏ nghiến đã xơ tước như xơ mướp, rêu phong đóng thành từng mảng xám xịt bốc mùi ẩm mốc. Sàn tời ghép bằng những phiến dầm dày hai tấc chìa ra ngoài miệng vực thẳm; phía dưới chỉ có màn mây mù đặc quánh và tiếng thác Thác Khói gầm réo âm u dội ngược lên vách núi.

Mưa đông bay tạt nghiêng theo luồng gió quẩn, trùm lên các tấm ván dầm một lớp nước trơn nhẫy.

Vương Quang dừng chân trước ngưỡng khe đá. Hắn không vội đặt cả bàn chân lên mặt ván, mà hạ thấp trọng tâm, đưa thanh Thiết Xích Khảo Sát trong tay trái gõ thăm dò ba nhịp xuống đầu dầm gần mình nhất.

Cộp... Cộp...

Mũi sắt truyền lại độ nảy đanh gọn, không có cảm giác xốp rỗng. Những súc gỗ nghiến ngâm dầu trẩu của thợ mỏ thời trước dẫu mặt ngoài đã mục lở, phần lõi bên trong vẫn ngậm chặt vào ngàm đá mẹ.

"Bám sát chân vách bên tả, tránh xa mép ván ngoài khoảng không," hắn dặn với lại phía sau bằng giọng trầm ngắn.

Chu Bá Cửu ôm riết cán sào tre bịt sắt, cả tấm lưng dán chặt vào vách đá vôi nham nhở. Đôi mắt gã dại đi khi nhìn xuống khoảng sâu thăm thẳm hun hút bên dưới sàn gỗ, hai hàm răng không kìm được va vào nhau từng chập lách cách. Mùi khói khét ngai ngái lọt vào cánh mũi mỗi lúc một đậm, át đi cả vị ẩm nồng của rêu đá.

Đó là thứ mùi quen thuộc của diêm tiêu, lưu huỳnh và than củi giã mịn hòa lẫn với dầu thông — loại thuốc nổ thô chuyên dùng bạt đá trong các mỏ quặng vùng thượng lưu.

Đi sâu vào sàn tời chừng hai trượng, nơi khung giàn gỗ nép sát vào một hàm ếch đá khuất gió, Vương Quang khựng bước.

Mặt sàn nơi đây phơi bày dấu tích của một biến động dữ dội vừa xảy ra.

Một khối đá vôi lớn vốn dùng làm đối trọng dằn chân khung tời đã vỡ toác thành hai mảnh. Một góc đá văng ra ngoài, rải rác những mảnh dăm sắc nhọn găm thẳng vào thớ gỗ mục. Ngay tâm điểm vết nứt, mặt đá ám một vệt bồ hóng đen kịt hình tròn cỡ miệng nón.

Vương Quang ngồi thụp xuống, tay trái nhặt một mẩu đá vụn đưa lên gần mắt. Mép gãy còn trắng bợt, chưa hề ngấm nước mưa; bột đá mịn bám vào đầu ngón tay ráp ráp, sực nức mùi diêm sinh chưa tan hết. Cạnh vệt cháy là mảnh giấy bổi quấn dây đay bị xém một nửa — vỏ bọc ngoài của một khối bộc phá phá đá cỡ nhỏ được kích hỏa bằng ngòi tẩm dầu.

Thuốc nổ được đặt đúng vào chỗ khối đá dằn ép lên ngàm gỗ, đánh bật chốt hãm của trục quay mà không làm gãy các dầm chịu lực chính.

Hắn soi mũi thanh khảo sát xuống lớp bùn rêu bám trên mặt ván.

Hằn sâu trên thớ gỗ là hàng loạt vết xước kim loại sắc mảnh, xếp song song thành từng cụm ba rãnh nhỏ — tựa những vết đinh sắt đóng dưới đế ủng đi rừng vừa miết qua mặt đá.

Có hai cỡ dấu chân khác nhau: một cỡ dài bè, một cỡ thon gọn hơn. Cả hai đều sải bước dài, gót dẫm sâu xuống ván, có vẻ những người này đã mang theo vật nặng. Dấu vết tiến từ con đường bậc đá trên đỉnh dốc vào trạm tời, quần thảo quanh bệ trục một hồi rồi mới rút ngược trở ra. Ở giữa hai hàng vết chân là một rãnh cọ xát dài, nơi một vật thể nặng vừa bị kéo lê qua sàn gỗ.

Cắt ngang những rãnh đinh sắt ấy là một vệt máu tươi sẫm màu.

Máu kéo dài từ khe đá chiếu nghỉ, bò ngoằn ngoèo trên sàn ván rồi dẫn thẳng vào góc khuất phía sau tang cuốn dây cáp.

Đó là một cỗ trục tời bằng gỗ nghiến bọc đai sắt, cao ngang ngực người, đặt trên hai trụ đỡ cắm ngập vào nền đá vôi. Bánh răng thép của trục tời to bằng cái nong, rỉ sét bám dày cộm thành từng lớp vảy nâu đỏ.

Và ngay trên những chiếc răng thép nham nhở ấy, một bàn tay đầy máu đã bấu chặt vào mép kim loại, để lại những vệt ngón tay trượt dài trước khi buông thõng xuống nền ván.

"Thầy... thầy Ký..." Chu Bá Cửu bỗng túm lấy vạt áo chàm của Vương Quang, ngón tay run lẩy bẩy chỉ vào góc khuất sau khung trục tời: "Có... có bóng người..."

Vương Quang giữ chặt thanh Thiết Xích Khảo Sát trước ngực, bước vòng qua bệ bánh răng sắt rỉ sét.

Núp sau khung gỗ mục của cỗ máy tời, kẹp giữa hai súc gỗ chịu lực và vách đá hàm ếch kín gió, một bóng người đang ngồi sụp xuống, đầu gục sát vào hai đầu gối.

Đó là Lão Bùi.

Lão thợ rèn ngồi co quắp trong bóng tối ẩm ướt, toàn thân run lên bần bật theo từng cơn co giật của cơ bắp. Chiếc áo tơi lá rách bươm của lão đã biến thành một mớ giẻ vụn đẫm nước bùn và máu tươi. Chiếc chân teo quắt không còn bọc da trâu bị trật khớp quặt sang một bên, tím tái và sưng phù, rách toạc da thịt dính đầy đất cát. Mười đầu ngón tay của lão rướm máu, móng tay bật gốc nham nhở vì bấu vào đá dốc suốt mấy chục bậc trườn kéo.

Nhưng lão vẫn còn thở.

Từng tiếng thở khò khè, nặng nhọc rít qua kẽ răng lão. Bàn tay phải đầy sẹo bỏng của Lão Bùi vẫn nắm chặt lấy cán chiếc búa tạ mười cân, đầu búa găm chặt vào một khe nứt trên sàn gỗ như điểm tựa cuối cùng giữ lão khỏi gục ngã hoàn toàn xuống mép vực.

"Bác rèn!" Chu Bá Cửu nghẹn ngào toan quỳ sụp xuống bên cạnh.

"Khoan đã," Vương Quang khẽ đưa cánh tay trái ngăn Chu Bá Cửu lại.

Hắn nhìn ra phía sau mép vực, rồi nhìn vào hốc đá kín gió: "Hạ gùi xuống. Lấy hết vải khô và chai dầu trẩu ra đây. Mau lên, lão đang lạnh cóng."

Chu Bá Cửu cuống cuồng làm theo, lột chiếc áo tơi lá rách nát của Lão Bùi ra, dùng mảnh vải gai khô lau sạch lớp nước mưa bết quanh ngực lão, rồi đổ một ít dầu trẩu xoa mạnh vào hai bên thái dương và lòng bàn tay co quắp. Hơi ấm từ dầu trẩu và lực xoa bóp khiến hơi thở đứt quãng của lão thợ rèn dần dần liền mạch trở lại.

Ánh mắt người Ký lục găm chặt vào bàn tay trái của Lão Bùi.

Bàn tay trái rách rưới của lão thợ rèn đang bóp chặt lấy một vật thể kim loại nhặt được dưới sàn tời, ghì sát vào trước lồng ngực gầy guộc.

Đó là một chiếc đục sắt cán vuông dài hơn một thước.

Thân đục bằng thép đanh chắc, mũi đục vẹt đi một mẩu vì vừa nện mạnh vào nền đá cứng. Gần chuôi cầm có hai chữ triện nhỏ sắc sảo khắc chìm:

“Thủy Công”.

Vương Quang từng thấy kiểu ký hiệu này trên một số khí cụ dùng cho việc nạo vét đê kè của phủ hạt, nhưng chưa đủ dữ kiện để khẳng định chiếc đục xuất xứ từ ty sở nào. Trên thân đục còn dính một lớp bùn vàng hạt mịn, khác biệt hoàn toàn với thứ bùn xám lẫn đá vụn đặc trưng của lòng mỏ Thác Khói.

Nghe thấy tiếng động gần sát bên tai, cái đầu bù xù bết máu và bùn đất của Lão Bùi khẽ giật một nhịp.

Lão thợ rèn từ từ ngẩng khuôn mặt xám ngoét lên. Đôi mắt đục ngầu của lão trợn trừng nhìn vào bộ áo chàm sũng nước của Vương Quang, tròng mắt vằn vện tia máu lay động dữ dội. Lão há hốc miệng, nhưng cuống họng khô khốc chỉ bật ra những tiếng khẹc... khẹc... nghẹn đặc.

"Bùi lão, là ta," Vương Quang ngồi xổm xuống trước mặt lão, giọng trầm và phẳng lặng: "Chúng ta đã ra khỏi lòng mỏ."

Thân thể Lão Bùi khẽ giật bắn lên. Bàn tay đang siết chiếc đục sắt của lão run lẩy bẩy.

Lão chồm nửa thân trên về phía Vương Quang, bàn tay dính máu bấu chặt lấy mép gấu áo chàm của người Ký lục. Hơi thở phả ra tanh nồng mùi máu ứ, giọng lão khàn đục, vỡ vụn từng âm tiết nghẹn ứ nơi cổ họng:

"Hai người... áo nẹp da..."

Vương Quang ghé sát tai lắng nghe: "Họ đi đâu?"

"Ủng... có đinh sắt..." Lão Bùi thở dốc từng hồi, ngực hõm sâu phập phồng đau đớn: "Không phải... phu mỏ... Chúng dùng thuốc nổ... bửa ngàm tời..."

"Để kéo thứ gì?"

"Cọc... cọc ngoài vách đứng..." Lão Bùi nuốt một ngụm nước bọt lẫn máu, ngón tay trỏ rách nát run run chỉ ra ngoài mép sàn gỗ chênh vênh: "Dưới hộc đá treo... có cọc... Bọn chúng dùng tời... bẩy bật nó lên rồi..."

Lời nói nghẹn lại nơi cuống họng, lão thợ rèn kiệt sức gục đầu vào cán búa tạ, hai bờ vai gầy nhô lên theo từng nhịp thở yếu ớt.

Vương Quang đứng thẳng dậy, nhìn theo hướng ngón tay Lão Bùi vừa chỉ.

Phía ngoài mép sàn tời chìa ra hư không, một sợi cáp sắt cũ cuốn quanh tang tời đang buông thõng xuống màn sương mù mịt của vách đá Thác Khói. Sợi cáp ấy vốn ngâm rỉ sét qua nhiều năm tháng, nhưng nay bề mặt từng đoạn dài đã bị ma sát mài sáng loáng ánh thép nguội.

Đúng lúc đó, một âm thanh khô khốc dội lên từ khối tang tời gỗ nghiến phía sau lưng họ.

Két... rột roạt...

Sợi cáp sắt rung giật một nhịp dứt khoát, kéo căng như dây đàn giữa khoảng không lộng gió.

Một chiếc răng sắt trên bánh răng của trục tời nhích khỏi khớp hãm, phát ra tiếng khục nặng nề!

Chiếc tang cuốn bằng gỗ nghiến bắt đầu chầm chậm xoay tròn.

Có một tải trọng lớn treo dưới đáy sợi cáp ngoài vực sâu đang trượt dần xuống, kéo theo toàn bộ cỗ máy tời chuyển động.

"Nó... nó đang tụt xuống!" Chu Bá Cửu hoảng hốt kêu lên, hai tay lóng ngóng muốn lao tới giữ bánh răng.

"Tránh xa tang tời ra!" Vương Quang quát lớn.

Sức kéo của một khối nặng rơi ngoài vách đứng đủ sức nghiền nát bất cứ ai cản đường. Nếu để sợi cáp tuột hết khỏi tang cuốn, cú giật ở đoạn cuối có thể bẻ gãy khung gỗ, kéo sập cả sàn tời xuống vực.

Không đụng vào chiếc đục Thủy Công đang nằm trong tay Lão Bùi, Vương Quang thò tay trái rút phăng một chiếc nêm sắt dài bản giắt sau đai lưng.

Hắn bước gấp hai bước tới sát bệ trục, căn đúng khe hở giữa hai chiếc răng cưa của bánh răng lớn và dầm đỡ gỗ nghiến, đóng mạnh mũi nêm sắt vào ngàm hãm. Hắn dồn toàn bộ trọng lượng cơ thể, đạp mạnh chân trái tì chặt lên thân nêm để ép chết khớp chuyển động.

RẮC!

Bánh răng thép đang quay nghiến sầm vào thân nêm sắt, phát ra tiếng kim khí chát chúa kèm theo một vệt lửa xòe sáng lóa. Mũi nêm sắt ngập sâu vào thớ gỗ mục dưới sức ép ngàn cân, kẹp cứng lấy hai chiếc răng cưa rỉ sét.

Cú va chạm dội một lực chấn động cực mạnh ngược trở lại. Vai và cẳng tay phải đang bị thương của Vương Quang giật thắt lên một cơn đau buốt xé da thịt, khiến hắn lảo đảo suýt hụt chân trên mặt ván ướt. Hắn cắn chặt môi, nén tiếng rên rỉ, hai mắt tối sầm lại trong chốc lát trước khi nhịp thở dần đều trở lại.

Tang cuốn rốt cuộc đã đứng yên. Sợi cáp sắt ngoài mép vực căng cứng, phát ra những tiếng rít u u theo từng đợt gió thốc.

Vương Quang lấy cuộn dây gai dự phòng trên đai gùi của Chu Bá Cửu, buộc một đầu vào cột giàn gỗ chịu lực, đầu kia quấn quanh ngực làm dây bảo hiểm. Cầm thanh Thiết Xích Khảo Sát bằng tay trái, hắn thận trọng bò trườn trên mặt ván trơn nhẫy, nhô người qua bờ vực sâu để nhìn xuống vách núi bên dưới.

Màn sương mù bị gió tạt sang một bên, để lộ khoảng vách đá cách sàn tời chừng sáu trượng.

Ở đó có một hộc đá tự nhiên khoét sâu vào lòng núi, từng được bàn tay con người đục phẳng thành một bệ đỡ vuông vức. Nhưng bệ đá ấy nay đã trống không.

Mép hộc đá bị vỡ toác nham nhở, rỉ ra từng dòng nước đục mang màu bùn xám — thứ nước giống hệt dòng lạch ngầm đang cuộn chảy dưới chân mỏ Thác Khói.

Và lơ lửng giữa khoảng không bên dưới sàn tời, treo ở đầu sợi cáp sắt, là một khối đá xanh hình trụ dài hơn một trượng, bị xích sắt trói chặt bốn góc. Khối đá đang lắc lư theo từng đợt gió thốc giữa vực sâu.

Có vẻ khối đá đã bị kéo bật khỏi hộc neo, rồi trượt xuống giữa vách trước khi bị sợi cáp giữ lại.

Dưới ánh sáng mờ đục của buổi chiều tà, lớp rêu bám trên thân khối đá bị cào xước để lộ hai chữ triện khắc chìm:

“Trấn Mạch”.

Hai chữ này Vương Quang chưa từng thấy trên bất kỳ sổ mục hay khí cụ nào ở huyện nha.

Hắn khom người thu mình trở lại mặt sàn gỗ, cởi bỏ dây buộc bảo hiểm. Hắn rút thêm một thanh nêm sắt nữa đóng chêm chặt vào khe bánh răng để gia cố then hãm, bảo đảm khối đá không thể tiếp tục trượt xuống.

Chu Bá Cửu ngồi bên cạnh Lão Bùi, thấy Vương Quang quay lại liền thì thào: "Thầy Ký... dưới đó là thứ gì vậy?"

"Một khối đá khác từng nằm trong hộc neo dưới vách," Vương Quang đáp phẳng lặng: "Giờ hộc đá đã trống, còn nó bị treo giữa vực."

Hắn đưa mắt nhìn lên sườn dốc phía sau trạm tời.

Con đường mòn lát đá cũ tiếp tục ngoằn ngoèo leo ngược lên đỉnh yên ngựa của rặng Thác Khói — nơi có đèo Gió ăn thông sang các tuyến đường liên huyện bên kia núi.

Dưới lớp đất bùn ẩm ướt của con đường dốc, hai hàng dấu chân đinh sắt in sâu vào thớ đất, bước chân gấp gáp hướng thẳng lên đỉnh đèo, biến mất vào màn sương đen kịt của đêm đông đang đổ sụp xuống núi rừng.

0
Ủng hộ tác giả Cương Vương Nếu bạn yêu thích tác phẩm, hãy ủng hộ mình ly cafe nhé <3