Quyển 2: Huyết Chiến Nam Thiên
Chương 3: Ánh Đao Giặc Tràn Lên Bãi Đá Đen
Nam Thiên Tu Tiên Truyện
Mục lục
118 chươngCuộn, vuốt hoặc dùng hai nút để xem thêm Đã tải 118/118 chương
Mặt trời đầu đông nhô lên khỏi đường chân trời biển Đông, rải một dải lụa màu lòng đào dát vàng lấp lánh trên muôn trùng ngọn sóng biếc. Mũi thuyền nan của lão Đinh lách qua những luồng nước xoáy sủi bọt trắng xóa, chầm chậm ghé sát vào một vũng vịnh kín gió nép dưới chân dãy vách đá sừng sững phía nam quần đảo Cô Tô. Nơi đây chính là Bãi Đá Đen.
Đúng như cái tên phàm trần mộc mạc của nó, trải dài suốt hai dặm bờ cong hình lưỡi liềm là vô vàn khối đá bazan đen mun, bóng nhẫy như gỗ mun ngâm bùn, bị sóng gió ngàn năm gọt giũa thành những hình thù kỳ dị, lởm chởm nhô ra biển như hàm răng cá kình khổng lồ. Trên mặt đá bám đầy những mảng rong rêu trơn tuột và những bọc hàu, sò đá kết thành từng tảng xù xì, sắc nhọn như dao cạo. Chỉ cần sơ sẩy trượt chân ngã xuống là da thịt rách toạc, máu tươi lập tức hòa vào bọt sóng biển mặn chát.
Ven mép nước ngập triều, chừng ba bốn chục túp lều tranh lụp xụp của dân phu lặn ngọc trai dựng san sát nhau. Cọc lều đóng bằng thân gỗ tràm dẻo dai, mái lợp bằng lá dừa nước xơ xác và những tấm lưới rách chắp vá, nép mình dưới bóng những hốc đá bazan để tránh ngọn gió bấc gầm rú từng cơn từ phương bắc thổi tràn về. Một mùi hương đặc trưng của xóm chài nghèo lập tức xộc vào mũi Lý Quân: Mùi nồng nặc của rong biển phơi trên vách đá quyện với mùi khói trấu hun cá, mùi mắm ruốc chưng mỡ hành cay nồng, mùi bùn ngập mặn ngai ngái bốc lên từ những vũng nước đọng, và thoang thoảng cả mùi mỡ cá voi khét lẹt dùng để trét kín khe hở đáy thuyền nan.
"Đến nơi rồi đấy, chú mày Tư Sẹo!" Lão Đinh buông mái chèo gỗ nghiến xuống sàn thuyền kêu cái cộp, đưa mu bàn tay chai sần quệt giọt mồ hôi đọng trên trán, thở phào một hơi dài. "Cột chặt dây nèo vào cọc đá kia đi, kẻo con nước ròng rút ra là thuyền trôi dạt vào kẽ rạn nát bét ngay."
Lý Quân khẽ gật đầu, vươn cánh tay gân guốc thắt chiếc nút thòng lọng bằng dây gai thô quanh một mỏm đá nham thạch đen nhánh. Chiếc nón lá Lưu Ly kéo sụp xuống tận sống mũi, che khuất vết sẹo dài xù xì kéo từ trán xuống gò má và con mắt trái nhắm nghiền giả mù. Trên lưng hắn là chiếc bao tải gai rách rưới bọc thanh Long Văn Kiếm, bên ngoài buộc túm vài chiếc phao vỏ ốc và hai chiếc dùi sắt cùn rỉ sét, chẳng khác nào một gã phu lặn lam lũ già nua lưu lạc tìm đường kiếm sống.
"Bác Đinh! Bác Đinh đã về rồi đấy ư!" — Một tiếng gọi lanh lảnh, giòn tan vang lên từ phía sau mỏm đá bazan nhô cao.
Ngay sau đó, một bóng người gầy nhom, thoăn thoắt lướt trên những tảng đá trơn nhẫy như một con rái cá. Đó là một đứa trẻ trạc chừng mười ba, mười bốn tuổi, mình trần trùng trục, chỉ vận độc một chiếc khố vải thô màu nâu sồng đã bạc phếch. Làn da nó đen nhánh như củ súng ngâm nước mặn, lồng ngực hơi hóp lại vì áp lực nước sâu, hai bắp chân chằng chịt những vết sẹo do san hô cứa, nhưng đôi mắt thì đen láy, sáng quắc như hai hạt ngọc trai đáy biển.
"Thằng Cóc đấy à? Hôm nay con nước kém, mày không lặn rạn ngoài à?" Lão Đinh cười khà khà, đưa tay xoa mái tóc bù xù khét mùi nắng gió của thằng bé.
"Sáng sớm nay sóng to quá bác ơi, luồng nước xoáy ở vũng Vực Tròn chảy xiết như thác đổ, cháu chỉ dám mò men theo mép rạn cạn bắt được dăm con ốc tai tượng với mớ ngao hoa thôi." Thằng Cóc nhoẻn miệng cười, hàm răng trắng bóc nổi bật trên khuôn mặt đen nhẻm, đoạn đưa mắt tò mò nhìn sang gã ngư dân lạ mặt đang đứng cạnh lão Đinh. "Ủa, bác Đinh mang ai theo thế này?"
"Đây là chú Tư, người cùng quê xứ Thanh với tao, chạy nạn sóng gió ngoài khơi dạt vào Tiên Yên. Chú ấy có nghề lặn sông lặn biển từ nhỏ, muốn ra đây tìm một góc lán kiếm miếng cơm đắp đổi qua mùa đông lạnh giá. Tao dắt chú ấy gửi gắm cho mày, hai chú cháu nương tựa vào nhau mà kiếm con ngao con sò."
Thằng Cóc nhìn vết sẹo dài dữ dằn trên mặt Lý Quân và dáng người trầm lặng như khối đá ngầm, trong mắt thoáng hiện vẻ e dè bẽn lẽn. Nhưng khi nhìn thấy đôi bàn tay chai sần nứt nẻ và lớp bùn sông còn bám nơi gấu quần thô của Lý Quân, sự cảnh giác trong lòng đứa trẻ nghèo lập tức tan biến. Những kẻ có đôi bàn tay chai sần vì cào nghêu quăng chài như thế, tuyệt đối không phải phường gian xảo chốn thị thành.
"Cháu chào chú Tư!" Thằng Cóc khoanh tay lễ phép. "Lán của cháu ở ngay hốc đá kia, tuy rách nát gió lùa nhưng che được mưa, chú cứ vào đặt bao tải nghỉ ngơi cho ấm chân đã."
"Đa tạ chú em." Lý Quân cất giọng trầm khàn, đục ngầu như tiếng nước sông Mã mùa lũ tràn bờ. Hắn bước theo thằng Cóc nhảy thoăn thoắt qua từng gờ đá trơn trượt, lòng thầm cảm phục: Thằng bé này tuy chưa từng bước vào con đường tu luyện, nhưng nhờ lăn lộn với sóng biển từ thuở lọt lòng mà gân cốt dẻo dai, bước chân bám đá vững chãi chẳng kém gì những phu chài lão luyện của làng Bến Vạn quê nhà.
...
Bên trong túp lều tranh của thằng Cóc, không gian chật hẹp chỉ đủ kê một tấm sạp gỗ tràm cũ kỹ làm giường ngủ. Góc lều dựng vài ống tre đựng nước ngọt, mấy chiếc kính lặn bọc da cá nhám đã mòn vẹt và một bếp lò nặn bằng đất sét nung đỏ au. Khói củi đước cay nồng bốc lên nghi ngút, xua tan cái lạnh buốt của gió biển mùa đông. Thằng Cóc thoăn thoắt bắc một chiếc nồi đất lên bếp, đổ vào mớ ngao hoa béo múp vừa bắt được, thả thêm mấy lát khế chua xắt mỏng cùng một nắm ớt chỉ thiên cay xè. Chẳng mấy chốc, mùi canh ngao sôi sùng sục tỏa ra thơm phức, lấn át cả vị tanh nồng của bùn nước mặn.
"Bác Đinh, chú Tư, hai người đi thuyền suốt đêm chắc bụng dạ cồn cào rồi, ăn bát canh ngao nóng cho ấm người đã!"
Thằng Cóc múc canh ra hai chiếc bát sành sứt mép, kèm theo một đĩa muối ớt vắt chanh rừng và một gói cơm nguội độn khoai lang bọc trong lá chuối héo. Lý Quân bưng bát canh sành nóng rẫy trên tay. Hắn không dùng pháp lực để xua đi giá lạnh, mà chậm rãi húp một ngụm nước canh nóng. Vị ngọt đậm đà của thịt ngao biển tươi rói hòa cùng vị chua thanh của khế, vị cay xé lưỡi của ớt và vị mặn mòi của muối biển như một luồng hơi ấm chảy tràn từ cổ họng xuống đan điền, xua tan lớp sương muối buốt giá đang tích tụ nơi lồng ngực.
Nhìn thằng Cóc cặm cụi nhặt từng con ốc nhỏ bẻ cho lão Đinh, Lý Quân bỗng nhớ tới thằng Hai và con Út ở quê nhà da diết. Chúng nó ở Bến Vạn sông Mã thuở hàn vi cũng từng chia nhau từng củ khoai nướng, từng ngụm nước chè xanh như thế này. Phàm nhân cõi Nam lam lũ, cả đời vật lộn với sóng gió tai ương, nhưng trong từng túp lều tranh rách nát vẫn luôn ấm áp ngọn lửa tình người mộc mạc, sẻ chia từng bát cơm manh áo.
"Bãi Đá Đen này phu lặn đông không cháu?" Lý Quân vừa nhai củ khoai ngọt bùi vừa cất tiếng hỏi, ánh mắt lơ đãng nhìn ra khoảng biển mênh mông trước cửa lán.
Thằng Cóc thở dài, đôi vai gầy khẽ chùng xuống: "Dạ, độ chừng bốn mươi nóc lều chú ạ. Toàn dân nghèo từ mạn Móng Cái, Tiên Yên dạt ra đây mò ngọc trai kiếm sống. Nhưng dạo này... khổ lắm chú ơi!"
"Khổ vì sóng to gió lớn à?" Lão Đinh chen vào hỏi.
"Sóng to gió lớn thì dân vạn chài tụi cháu quen rồi, có chết dưới đáy biển cũng là tại số trời." Thằng Cóc cắn chặt môi, trong giọng nói pha lẫn nỗi uất ức dồn nén: "Khổ là khổ vì bọn cướp biển Quỷ Đầu Đao ở vũng Vực Tròn kia kìa! Bọn chúng do tên Ba Mắt cầm đầu, ỷ vào đao to búa lớn và tà thuật hung tợn, ngày nào cũng xua thuyền qua đây hống hách đòi thu tô. Mỗi ngày một thợ lặn phải nộp cho chúng một viên ngọc trai lóng lánh hoặc ba cân thịt sò huyết, ai không nộp đủ là bị chúng quất roi da rách thịt, có người còn bị chúng trói nghiến ném xuống biển cho cá mập rỉa xác!"
Nghe đến đó, con mắt phải của Lý Quân khẽ nheo lại: "Bọn chúng chỉ cướp ngọc trai thôi sao?"
"Không chỉ ngọc trai đâu chú!" Thằng Cóc ngó nghiêng ra ngoài cửa lán như sợ có tai vách mạch rừng, đoạn hạ thấp giọng xuống thì thào: "Độ nửa năm nay, bọn Quỷ Đầu Đao còn lùng sục ráo riết đồ đồng cổ nữa! Bất kể là mảnh thạp rỉ xanh, chiếc chuông đồng mục, hay mũi giáo mũi dao phỏng cổ vớt được từ xác các con thuyền đắm ngàn năm dưới đáy rạn ngầm, bọn chúng đều tịch thu bằng sạch. Nghe đâu... có thuyền buôn lạ mặt từ phương bắc mang cờ tam giác viền xanh thỉnh thoảng ghé vào vũng Vực Tròn đêm hôm khuya khoắt, đem bạc trắng và đan dược ra đổi lấy những thứ đồng nát mục nát đó!"
Thuyền buôn phương bắc... thu gom đồ đồng cổ! Trái tim Lý Quân khẽ thắt lại. Một luồng sát ý lạnh buốt thoảng qua đáy mắt hắn rồi lập tức được nén chặt xuống. Đúng như Chánh Tiên Sư Trần Đạo Hiền đã từng cảnh báo tại Thăng Long: Bọn Bắc Cực Hàn Thiên Tông phương bắc không bao giờ từ bỏ dã tâm nhòm ngó cõi Nam! Bọn chúng biết thần khí Trống Đồng viễn cổ vỡ nát lưu lạc ở phàm trần, nên đã dùng mạng lưới hải tặc tay sai và bọn buôn lậu biển để càn quét, thu gom từng mảnh vỡ phế phẩm đồng thau hòng truy tìm tung tích thần vật!
Bãi Đá Đen này bề ngoài chỉ là một xóm chài hoang sơ nghèo khổ, nhưng bên dưới đáy nước sâu thẳm kia, những cơn sóng ngầm của âm mưu tranh đoạt và vận mệnh giang sơn đã bắt đầu cuộn trào dữ dội!
...
Ăn xong bữa cơm đạm bạc, Lý Quân khoác áo tơi bện rơm bước ra bờ cát bazan để quan sát địa hình con nước. Gió biển thổi phần phật vào vạt áo thô ráp của hắn, mang theo vị mặn chát của bọt sóng tung trắng xóa trên những gờ đá nhọn. Đúng lúc ấy, ánh mắt hắn bị thu hút về phía doi cát nhô ra ở mé cực nam của vịnh Bãi Đá Đen. Nơi đó, một chiếc thuyền buôn viễn dương to lớn sừng sững đang thả neo tránh gió. Thân thuyền đóng bằng gỗ kiền kiền đen bóng, dài hơn mười trượng, hai bên mạn thuyền sơn hình đôi mắt rồng uy nghiêm đón sóng. Trên cột buồm bằng gỗ sao cao vút, một lá cờ vuông màu đỏ thêu chữ "Gia Định" bay phần phật trong gió sớm.
Thuyền buôn viễn dương từ phương Nam! Một mùi hương nồng nàn, the mát và ngai ngái vô cùng đặc biệt nương theo ngọn gió biển phương nam xộc thẳng vào cánh mũi Lý Quân. Mùi hương này không hề tanh nồng như mùi cá biển mặn, mà thơm ấm, the the như tinh dầu lá tràm pha lẫn nhựa cây rừng nhiệt đới. Lý Quân tò mò rảo bước men theo mép nước tiến lại gần.
Trên bến cát, hàng chục thủy thủ vạm vỡ, da ngăm đen bóng loáng như đồng hun, đầu chít khăn rằn sọc xanh trắng đang hò dô kéo những thùng gỗ đóng đai mây từ trên thuyền xuống bãi đá. Bên cạnh những kiện hàng trân châu sáng ngời hạt to bằng ngón chân cái là những bó rễ cây mù u khô cong dùng để nấu cao trị vết bỏng nước mặn, những cây gỗ tràm ngâm bùn đen nhánh dùng làm cọc ngầm chống mục rữa, và hàng chục chum sành bịt kín miệng bằng sáp ong tỏa ra mùi the mát ngào ngạt.
"Này lão huynh, hàng trong chum sành kia là linh vật gì mà mùi thơm ấm áp lạ thường vậy?" Lý Quân bước tới, giả giọng khàn khàn cất tiếng hỏi một gã thương nhân trung niên vận áo bà ba đen đang đứng kiểm hàng.
Gã thương nhân quay lại, thấy một lão ngư chột mắt lam lũ thì khẽ mỉm cười xởi lởi. Người phương Nam vốn tính tình hào sảng, không câu nệ sang hèn: "À, lão ngư huynh đệ đấy ư! Đây là Dầu Tràm U Minh, đặc sản quý báu của vùng rừng tràm bạt ngàn xứ Cửu Long phương Nam chúng tôi đấy! Thứ dầu này cất từ lá tràm ngàn năm trên đầm lầy châu thổ, dùng xoa bóp kinh lạc thì ấm nóng thấu xương, trị được hàn khí sông nước; mà đem làm mồi hỏa công thì tuyệt đỉnh vô song, nổi bồng bềnh trên mặt nước mặn mà vẫn bốc cháy ngùn ngụt như bão lửa, dội nước lã vào càng bùng lên dữ dội!"
"Thuyền của các vị vượt vạn dặm sóng gió từ tận Gia Định ra đến tận đảo Cô Tô này sao?" Lý Quân giả vờ kinh ngạc, ánh mắt chăm chú quan sát từng thớ gỗ kiền kiền đanh chắc của con thuyền.
"Đúng thế đấy lão huynh!" Gã thương nhân vỗ đùi cười hào sảng: "Chúng tôi dong thuyền nương theo gió mùa tây nam vượt biển, chở dầu tràm, rễ mù u và trân châu ngọc trai mạn biển Hà Tiên, Phú Quốc ra duyên hải vịnh Bắc Bộ để đổi lấy sắt thép mỏ Thiết Sơn và vải vóc tơ tằm xứ Bắc. Vùng đất phương Nam chúng tôi mênh mông sông nước lắm, dòng Cửu Long Giang cuộn sóng chia làm chín nhánh sông Tiền sông Hậu đỏ ngầu phù sa bồi đắp ngút ngàn; lại thêm rặng Thất Sơn bảy ngọn sừng sững chốn An Giang địa linh nhân kiệt, mây phủ quanh năm, là chốn tu tiên của biết bao bậc dị nhân ẩn dật! Bờ cõi Nam Thiên này non sông liền một dải, dẫu cách trở muôn trùng sóng gió thì tình nghĩa đồng bào Bắc - Nam vẫn luôn gắn bó keo sơn!" — Lý Quân đứng lặng bên mép sóng, từng lời nói hào sảng của người thương nhân phương Nam như rót mật vào lòng hắn.
Chín nhánh sông Cửu Long... rặng Thất Sơn bảy ngọn... Dầu Tràm U Minh cháy rực trên mặt nước! Một chân trời mới to lớn, hùng vĩ của dải đất phương Nam bỗng chốc mở toang ra trong tâm trí hắn. Hắn nhận ra, cõi Nam Thiên không chỉ có sông Mã, sông Hồng hay dãy Hoàng Liên Sơn hiểm trở, mà còn có cả một vùng trời đất phương Nam trù phú, rộng lớn, đang âm thầm tích lũy linh khí và sức mạnh non sông để làm hậu phương vững chắc cho đại cuộc kháng chiến chống lại tà ma phương bắc! Lý Quân thò tay vào túi áo vải thô, móc ra năm đồng bạc kẽm phàm trần đưa cho người thương nhân: "Lão huynh, ta quanh năm ngụp lặn dưới biển lạnh, kinh mạch buốt giá. Huynh có thể nhượng lại cho ta một bầu gốm nhỏ đựng Dầu Tràm U Minh này được chăng?"
"Chuyện nhỏ! Đồng hương cõi Nam gặp nhau nơi đầu sóng ngọn gió là cái duyên!" Gã thương nhân hào phóng đón lấy mấy đồng bạc kẽm, tiện tay xách một bầu gốm nung nhỏ trét sáp kín miệng trao cho Lý Quân: "Tặng thêm cho lão huynh một nắm rễ mù u khô này nữa, lặn ngụp lỡ có bị san hô cứa rách thịt hay cá độc cắn, cứ nhai nát đắp vào là mụn mủ tan biến ngay!"
"Đa tạ lão huynh!"
Lý Quân ôm bầu gốm đựng Dầu Tràm U Minh vào lòng. Hắn khẽ vận chuyển một tia thần thức mỏng như sợi tơ lướt qua bầu gốm: Thứ dầu tràm này chứa đựng Hỏa Linh Chi Khí nhiệt đới cực kỳ thuần hậu và dữ dội, lại có đặc tính không tan trong nước biển. Đây chính là thứ vật liệu tuyệt hảo để chế tác phù hỏa chống đông cứng và làm chất dẫn lửa cho các trận địa bẫy ngầm sông biển sau này!
...
Buổi chiều muộn, khi hoàng hôn buông xuống nhuộm đỏ ối cả một vùng vịnh Cô Tô, Lý Quân trở về túp lều tranh thì thấy thằng Cóc đang ngồi co ro trên sạp gỗ tràm, hai hàm răng đánh vào nhau lập cập vì lạnh. Bắp chân phải của thằng bé sưng vù, mưng mủ đỏ ửng vì một vết rách sâu do san hô cứa trúng trong lúc lặn vội trốn sóng dữ ban trưa. Đôi tai nó chảy ra một dòng mủ vàng nhạt, hai thái dương giật giật từng hồi đau đớn.
"Đau... đau quá chú Tư ơi..." Thằng Cóc rên rỉ, nước mắt lưng tròng trên khuôn mặt đen nhẻm. "Tai cháu cứ kêu u u như có đàn ong vò vẽ bay bên trong, đầu nhức như búa bổ..." — Lý Quân bước lại gần, ánh mắt đanh lại đầy xót xa.
Hắn nhận ra ngay: Thằng bé lặn sâu quá mức mà không biết cách điều hòa hơi thở, áp lực nước biển đè ép làm tổn thương màng nhĩ; lại thêm độc tố của san hô ngấm vào vết thương hở, nếu không chữa trị kịp thời thì chỉ ba ngày nữa là thối thịt hoại tử, điếc đặc suốt đời!
"Đừng cựa quậy, để chú xem cho."
Lý Quân kéo thằng Cóc ngồi thẳng dậy. Hắn không dùng chân dịch linh lực cao cấp vì cơ thể phàm nhân yếu ớt của thằng bé không thể chịu nổi linh khí bạo ngược. Hắn vận dụng y lý Nam Dược Tuệ Tĩnh và những bài thuốc dân gian mà thầy Tuệ Ông từng truyền dạy thuở xưa ở Bến Vạn sông Mã:
Hắn mở bầu gốm lấy ra vài giọt Dầu Tràm U Minh ấm nồng, hòa cùng bột rễ mù u mà gã thương nhân phương Nam vừa tặng, cẩn thận đắp lên vết rách san hô nơi bắp chân thằng bé. Chất dầu tràm the mát vừa chạm vào da thịt, mủ độc lập tức sôi lên rồi trào ra ngoài, vết sưng đỏ xẹp xuống trông thấy! Tiếp đó, Lý Quân đưa hai ngón tay cái thô ráp đặt chuẩn xác vào hai huyệt Phong Trì sau gáy và hai huyệt Ế Phong dưới dái tai của thằng Cóc. Hắn dùng thủ pháp xoa bóp kinh lạc nhẹ nhàng, day tròn theo chiều kim đồng hồ rồi khẽ ấn sâu một nhịp.
"Ách!" Thằng Cóc khẽ kêu lên một tiếng.
Chỉ trong chớp mắt, một luồng hơi nóng ấm áp từ ngón tay Lý Quân chạy dọc theo đường kinh lạc thông thẳng lên đỉnh đầu thằng bé. Tiếng ong kêu u u trong tai nó bỗng chốc im bặt, áp lực đè nặng nơi màng nhĩ tan biến như mây khói, hơi thở thông suốt, hai mắt sáng rực trở lại!
"Ơ... hết đau rồi! Tai cháu nghe rõ mồn một rồi chú Tư ơi!" Thằng Cóc nhảy tót xuống sạp gỗ, sờ sờ vào bắp chân đã hết nhức nhối, kinh ngạc nhìn Lý Quân như nhìn thấy một vị thầy thuốc trên núi cao: "Chú Tư... chú tài thật đấy! Thuốc này của chú như có phép mầu vậy!"
Lý Quân khẽ mỉm cười, lắc đầu giản dị: "Phép mầu gì đâu, đó là mẹo thông tai của dân lặn sông Mã quê chú đấy thôi. Sau này lặn xuống nước sâu, hễ thấy tai hơi tức thì phải bịt mũi ngậm miệng thở nhẹ ra để cân bằng áp lực nước, tuyệt đối không được nín thở trồi lên quá nhanh kẻo vỡ mạch máu não, nhớ chưa?"
Thằng Cóc nhìn người đàn ông áo nâu trước mặt, trong lòng dâng lên một niềm cảm kích sâu sắc đến rơi nước mắt. Từ ngày cha mẹ nó chết chìm trong bão biển, nó côi cút một mình nơi Bãi Đá Đen này, chỉ toàn gặp những kẻ chửi bới, đánh đập và cướp bóc. Chưa từng có một ai dịu dàng chăm sóc, chữa vết thương và dạy cho nó những kinh nghiệm quý báu để giữ mạng sống như người chú Tư sẹo này!
Thằng bé đứng lặng một hồi, như vừa hạ một quyết tâm hệ trọng trong đời. Nó bước vội về phía góc lều, lật tấm ván gỗ mục nát dưới gậm sạp nằm lên, thò tay bới sâu vào lớp cát ẩm ướt lôi ra một chiếc hộp gỗ tràm nhỏ bọc kỹ bằng nhiều lớp da cá đuối khô.
"Chú Tư... cái này... cháu tặng chú!" Thằng Cóc run run mở từng lớp da cá đuối, đưa chiếc hộp gỗ ra trước mặt Lý Quân.
Lý Quân khẽ cau mày: "Vật này là gì thế?"
"Là một món đồ đồng cổ mà cháu lặn mò được từ một xác tàu buôn cổ bị đắm dưới rãnh đá ngầm vụng Vực Tròn hồi mùa hè năm ngoái." Thằng Cóc thì thào, ánh mắt ánh lên vẻ nghiêm túc: "Cháu giấu kỹ dưới cát, không dám cho bọn cướp Quỷ Đầu Đao hay biết. Bác Đinh bảo chú cũng thích tìm hiểu đồ đồng xưa, cháu biếu chú làm kỷ niệm, cảm ơn chú đã cứu cái tai và cái chân của cháu!" — Lý Quân đón lấy chiếc hộp gỗ, gỡ lớp vải gai bọc bên trong ra.
Đập vào mắt hắn là một vật bằng đồng thau dài chừng nửa thước, phủ một lớp rỉ đồng màu xanh ngọc cổ kính. Đó là một mảnh dao găm đồng thời Hùng Vương phỏng chế! Mũi dao đã bị gãy mất một nửa do va đập vào rạn đá ngàn năm, nhưng phần chuôi dao và đốc dao thì vẫn còn nguyên vẹn đến kinh ngạc: Chuôi dao đúc rỗng hình một vũ sĩ Lạc Việt đang quỳ, hai tay ôm trước ngực trong tư thế cung kính hướng về phía trước, đầu đội mũ lông chim Lạc, trên lưng khắc hình vảy rồng. Đặc biệt nhất, dọc theo hai bên đốc dao là những đường hoa văn chìm khắc họa hình sóng nước cuộn tròn xoắn ốc ngược chiều kim đồng hồ — một đường nét đồ đằng hoàn toàn trùng khớp với hoa văn trên Mảnh Trống Đồng Điềm Lạc mà Lý Quân đang đeo trước ngực!
Ong! Ngay khoảnh khắc ngón tay Lý Quân chạm vào lớp rỉ xanh của chiếc cán dao găm, Mảnh Trống Đồng Điềm Lạc giấu trong bọc da cá mập trước ngực hắn bỗng phát ra một tiếng ngân u u cực kỳ nhỏ, chỉ có thần thức của hắn mới nghe thấy được! Một cảm giác chấn động mãnh liệt dâng lên trong lòng Lý Quân! Đây tuy không phải là mảnh vỡ thật của thần khí Trống Đồng Đông Sơn, mà chỉ là một món đồ đồng phỏng cổ do các nghệ nhân Bách Đúc thời cổ sao chép lại hoa văn thượng cổ, nhưng những đường nét chạm khắc trên đó lại lưu giữ trọn vẹn tinh hoa của khẩu quyết Thủy Đạo Lạc Việt!
"Vật này quý giá lắm, cháu giữ lấy mà phòng thân." Lý Quân nén sự xúc động trong lòng, toan trả lại cho thằng bé.
Nhưng thằng Cóc nhất quyết xua tay lùi lại: "Cháu không biết chữ, cũng chẳng biết dùng dao kiếm, giữ nó chỉ tổ rước họa vào thân nếu bị bọn Quỷ Đầu Đao phát hiện. Chú Tư cầm lấy đi, cháu tặng thật lòng đấy!" Nhìn ánh mắt chân thành, trong trẻo của đứa trẻ mồ côi, Lý Quân khẽ gật đầu: "Được, vậy chú xin nhận. Ơn này của cháu, chú sẽ ghi nhớ trong lòng."
...
Đêm đông buốt giá buông xuống Bãi Đá Đen. Gió biển gầm rú từng cơn bên ngoài vách đá bazan, sóng biển đập vào bờ đá ầm ầm như tiếng sấm rền xa xăm. Bên trong lán tranh, thằng Cóc sau một ngày mệt mỏi và được chữa khỏi bệnh đã chìm sâu vào giấc ngủ say sưa, tiếng thở đều đặn vang lên bên bếp trấu còn âm ỉ ánh than hồng. Lý Quân ngồi xếp bằng trong góc tối, nơi bóng đêm bao phủ hoàn toàn thân ảnh hắn. Hắn thắp một ngọn đèn dầu lạc leo lét, đặt mảnh dao găm đồng phỏng cổ lên một tấm vải sạch trước mặt. Đoạn, hắn nhẹ nhàng mở cúc áo thô, cẩn thận lấy Mảnh Trống Đồng Điềm Lạc bọc trong da cá mập ra ngoài.
Dưới ánh sáng vàng vọt của ngọn đèn dầu, lớp rỉ đồng thau cổ kính của hai món đồ như hòa quyện vào nhau.
Lý Quân nheo mắt lại, vận chuyển một tia chân dịch yếu ớt rót vào thức hải, phóng tầm mắt quan sát tỉ mỉ từng chi tiết trên cán dao găm:
Tư thế quỳ của bức tượng vũ sĩ... hai tay ôm ngực... lưng uốn cong hình cánh cung... và đặc biệt là những đường vân sóng nước xoắn ốc ngược chiều kim đồng hồ nơi đốc dao! Một luồng linh cảm bỗng chốc xé toạc màn sương mù bế tắc trong đầu Lý Quân!
"Hóa ra là vậy! Cửu Long Hỗn Độn Quy Chân Quyết không hề bắt người tu luyện phải gồng mình chống chọi với sức ép của đại dương!"
Lý Quân thì thầm, con ngươi bỗng chốc sáng rực lên như đuốc:
"Nước biển mặn có tính chất hàn lãnh, dòng chảy ngầm của biển Cô Tô lại xoáy tròn ngược chiều kim đồng hồ. Đêm qua ta vận chuyển chân dịch theo lối thẳng đuột của dòng sông Mã nước ngọt, nên kinh mạch mới bị hàn khí đại dương phong tỏa, đóng băng đan điền! Muốn dung nạp Thủy nguyên biển cả, thân thể phải uốn lượn như cánh cung của tượng vũ sĩ, dẫn dắt chân dịch xoay vần theo đường xoắn ốc ngược chiều kim đồng hồ, mượn sức của sóng ngầm để hóa giải lực ép ngàn cân!"
Đây chính là bí quyết "Đạp Ba Lướt Bùn" — một mắt xích chuyển tiếp cực kỳ quan trọng để kết nối Thủy nguyên nước ngọt sông Mã với Huyền Thủy đại dương sâu thẳm! Bằng sự kiên nhẫn của một đứa con làng chài và y lý ngũ hành tương sinh, Lý Quân ngồi bất động suốt ba canh giờ. Hắn đối chiếu từng vết rỉ đồng, từng đường vân xoắn ốc trên mảnh dao găm phỏng cổ với hoa văn chim Lạc trên Mảnh Trống Đồng thật, tự mình suy ngẫm, điền khuyết từng chữ, từng mạch dẫn khí bị đứt gãy. Hắn nhắm nghiền hai mắt, bắt đầu vận chuyển chân khí trong đan điền.
Lần này, từng giọt chân dịch không còn chảy cuồn cuộn thành dòng thẳng nữa, mà xoay tròn quanh tâm Ngũ Hành Đạo Đài theo hình trôn ốc ngược chiều kim đồng hồ. Vù... vù... Linh khí biển mặn buốt giá từ bốn phương tám hướng men theo các lỗ chân lông tràn vào cơ thể Lý Quân. Nhưng kỳ diệu thay, khi chạm vào luồng chân dịch xoáy tròn, lớp hàn khí lạnh buốt lập tức bị vắt kiệt tạp chất, hóa thành những dòng Thủy linh tinh thuần, ấm áp như dòng sữa mẹ rót thẳng vào đan điền! Khối băng phiến từng làm tắc nghẽn kinh mạch hắn đêm qua tan biến hoàn toàn không còn một vết tích!
Đạo đài tầng thứ nhất sau khi trọng tu rung lên khe khẽ, chân dịch ngưng tụ thêm ba giọt óng ánh, trong suốt như ngọc bích! Bình cảnh bế tắc Thủy nguyên suốt dọc đường vượt biển đã hoàn toàn được giải tỏa! Lý Quân thở ra một hơi khí đục dài, trong lòng dâng lên một niềm hân hoan khó tả. Hắn cẩn thận bọc lại mảnh dao găm đồng phỏng cổ giấu kỹ vào bao tải gai, rồi áp Mảnh Trống Đồng vào sát da thịt trước ngực áo. Hắn hiểu rằng, con đường phía trước vẫn còn vô vàn gian nan, nhưng chỉ cần giữ vững đạo tâm bần nông kiên định, học hỏi từ từng mảnh ghép phỏng cổ lưu lạc trong nhân gian, thì không có bình cảnh nào là không thể vượt qua!
...
"U u u... u u u...!"
Sáng sớm hôm sau, khi màn sương mù dày đặc màu sữa còn chưa kịp tan trên mặt biển Bãi Đá Đen, một chuỗi âm thanh rúc lên từ những chiếc tù và vỏ ốc biển chát chúa, thê lương bỗng xé toạc sự tĩnh lặng của xóm chài!
"Bọn cướp biển! Bọn Quỷ Đầu Đao đến rồi bà con ơi!"
Tiếng la hét thất thanh, tiếng chân chạy thình thịch hỗn loạn, tiếng trẻ con khóc thét và tiếng người lớn gọi nhau í ới vang lên khắp các ngóc ngách Bãi Đá Đen. Lý Quân lập tức mở choàng mắt. Hắn vươn tay kéo sụp chiếc nón lá Lưu Ly xuống che khuất nửa khuôn mặt sẹo, đứng dậy bước ra mép lán quan sát. Từ phía mũi đá bazan vụng Vực Tròn, ba chiếc thuyền chiến mũi nhọn sơn màu đen kịt, cắm cờ vẽ hình đầu lâu quỷ ngậm đao máu đang xé sóng lao vun vút vào bờ cát. Trên mỗi thuyền chở chừng hai mươi tên hải tặc mặt mày bặm trợn, mình xăm vằn vện hình thủy quái, tay lăm lăm đại đao sáng loáng và lao móc bọc sắt.
Cầm đầu chiếc thuyền đi giữa là một gã đàn ông to lớn như hộ pháp, đầu cạo trọc lốc, mình khoác chiếc áo da hải cẩu đen sì tanh tưởi. Giữa trán gã có một vết sẹo chém dọc sâu hoắm, đỏ lựng như một con mắt thứ ba dị hợm — Chính là Tạ Tam Nhãn (Ba Mắt), thủ lĩnh băng Quỷ Đầu Đao! Khí tức tỏa ra từ người Ba Mắt cuồn cuộn, hung hãn như một con thú dữ dưới đáy biển — Tu vi Luyện Khí tầng 10 đỉnh phong!
"Rầm!"
Mũi thuyền chiến đâm sầm vào bãi cát bazan. Ba Mắt nhảy phốc xuống mép nước, vung thanh Quỷ Đầu Đao to bản cắm phập xuống một tảng đá làm đá vụn bắn tung tóe, cất giọng ồm ồm như chuông vỡ:
"Lũ sâu bọ Bãi Đá Đen đâu hết rồi? Mau mang toàn bộ ngọc trai thượng phẩm và đồ đồng cổ mò được trong tuần qua ra đây nộp cống! Tên nào dám giấu giếm nửa viên ngọc hay một mảnh xỉ đồng, bản trại chủ sẽ bẻ gãy từng khúc xương ném cho cá kình rỉa thịt!"
Hàng chục tên hải tặc hung hãn lập tức tràn lên bờ, tay cầm roi da bện gân cá đuối quất vun vút vào vách lán, đá văng những chum vại nước ngọt và sọt đựng ốc của ngư dân. Những người dân chài nghèo khổ run lẩy bẩy, bồng bế con cái quỳ rạp trên bờ cát bazan ướt lạnh. Từng người run rẩy chìa ra những chiếc túi vải thô đựng vài viên ngọc trai méo mó, xỉn màu giao nộp cho bọn cướp.
"Đồ phế thải! Cả tuần lặn ngụp mà chỉ mò được mấy viên ngọc lép này thôi sao?" Một tên cướp có vết chàm xanh trên mặt đạp văng một lão ngư già ngã lăn ra bãi đá, đoạn hung hăng sấn sổ bước về phía lán của thằng Cóc.
"Thằng nhóc Cóc đâu! Mày lặn giỏi nhất bãi này, tuần này mò được thứ gì quý giá mau nôn ra đây!" Tên mặt chàm quát tháo, vung tay tóm lấy cổ áo thằng Cóc nhấc bổng lên không trung.
"Cháu... cháu không có ngọc quý... Biển động sóng to quá, cháu chỉ mò được mớ ốc tai tượng này thôi..." Thằng Cóc sợ hãi ôm chặt chiếc túi cói rách trước ngực.
"Nói láo!" Tên cướp trừng mắt, giật phăng chiếc túi cói trên tay thằng bé, dốc ngược xuống đất.
Xoảng! Ba viên ngọc trai nhỏ bằng hạt ngô và vài mảnh vỏ trai xà cừ rơi lăn lóc trên cát. Tên cướp nhìn thấy không có đồ đồng cổ hay ngọc trai thượng phẩm, liền nổi trận lôi đình, vung roi da quất thẳng vào mặt thằng Cóc: "Mày dám giấu đồ đồng cổ để đem bán trộm cho thuyền buôn Gia Định đúng không? Hôm nay tao chém đứt hai tay mày xem mày còn lặn được nữa không!"
Nói đoạn, tên cướp vung lưỡi đại đao sáng loáng toan chém xuống cánh tay gầy gò của thằng bé!
"Cứu cháu với... chú Tư ơi!" Thằng Cóc nhắm nghiền mắt hét lên tuyệt vọng.
Trong đám đông dân chài đang quỳ rụp đầu, Lý Quân đứng nép sau một tảng đá bazan, ánh mắt lạnh tanh như băng tuyết ngàn năm. Hắn hoàn toàn có thể dùng một kiếm Long Văn chém bay đầu tên cướp này trong chớp mắt. Nhưng hắn biết rõ, nếu để lộ tu vi Trúc Cơ Kỳ lúc này, không chỉ kế hoạch săn lùng tàn tích Bạch Long Vĩ bị đổ bể, mà còn đánh động đến lũ trinh sát Bắc Cực Hàn Thiên Tông đang lởn vởn ngoài khơi! Phải dùng thủ pháp bần nông ve sầu thoát xác!
Nghĩ là làm, Lý Quân lập tức khom lưng, bước lảo đảo như một gã phu già què quặt hoảng loạn chạy tới: "Ấy ấy... đại gia tha mạng! Đại gia bớt giận!" Khi bước chân của hắn lướt qua mép một tảng đá bazan phủ đầy rêu trơn, mũi chân bần nông của Lý Quân khẽ búng nhẹ một cái cực kỳ kín đáo.
"Bụp!"
Một viên sỏi bazan nhỏ bằng ngón tay cái, mang theo một tia kình lực ám kình vô hình bắn xé gió, đập chuẩn xác vào huyệt Côn Lôn nơi mắt cá chân sau của tên cướp mặt chàm!
"Ái chà!" — Tên cướp bỗng thấy cả bàn chân tê dại như bị kim châm, mất đà trượt ngã nhào về phía trước.
"Rầm!"
Gã cắm thẳng đầu vào một sọt đựng vỏ sò tai tượng sắc nhọn bên cạnh. Vỏ sò cứa nát mặt gã, máu tươi chảy ròng ròng, lưỡi đại đao văng ra xa cắm phập vào bãi cát bazan! Thằng Cóc nhanh chân lăn một vòng thoát khỏi tầm tay tên cướp, thoát chết trong đường tơ kẽ tóc!
"Mẹ kiếp! Đứa nào ám toán tao?" Tên mặt chàm ôm khuôn mặt đầy máu lồm cồm bò dậy, gầm rống điên cuồng như chó dại.
"Dạ dạ... đại gia ơi, đá ở đây trơn rêu lắm, lão già này chạy vội quá cũng suýt ngã đây này!" Lý Quân vờ trượt chân ngã quỵ xuống cát bên cạnh thằng Cóc, hai tay run rẩy bốc một nắm cát xoa xoa, giọng nói run rẩy như sắp ngất xỉu vì sợ hãi.
Tạ Tam Nhãn đứng đằng xa nhìn thấy cảnh đó, đôi mắt hung tợn khẽ nheo lại. Gã xách thanh Quỷ Đầu Đao sải bước nặng nề tiến lại gần. Mũi đao to bản lạnh ngắt của Ba Mắt nâng cằm Lý Quân lên, con mắt sẹo trên trán gã giật giật từng hồi: "Lão già chột mắt này ở đâu ra? Sao trước giờ bản trại chủ chưa từng thấy mặt mày ở Bãi Đá Đen này?" Thần thức của Ba Mắt càn quét khắp người Lý Quân.
Nhưng dưới uy năng thần kỳ của chiếc Nón Lá Lưu Ly và lớp bồ hóng ngụy trang xù xì, toàn bộ dao động linh lực của Lý Quân hoàn toàn bị triệt tiêu, chỉ hiện ra khí tức của một lão ngư phàm trần gầy gò, kinh mạch tắc nghẽn, khí huyết suy kiệt vì tuổi già và sương muối!
"Bẩm... bẩm trại chủ gia..." Lý Quân run rẩy móc trong túi áo thô ra hai viên ngọc trai xỉn màu, méo mó mà hắn nhặt được trên bãi đá ban sáng, dâng lên bằng hai tay: "Lão là dân tị nạn trôi dạt từ Tiên Yên ra... mới tới đây hôm qua xin theo thằng cháu Cóc kiếm miếng cơm... Đây là hai viên ngọc lão nhặt được bên mép rạn, xin dâng lên trại chủ gia để tạ tội cho sự vụng về của thằng cháu..."
Ba Mắt nhìn hai viên ngọc trai hạ phẩm xỉn màu trên tay Lý Quân, khóe miệng khẽ co giật khinh bỉ. Gã đưa tay giật lấy hai viên ngọc nhét vào túi, đoạn đưa chân đạp một cú như trời giáng vào ngực Lý Quân!
"Bịch!"
Lý Quân vận kình lực bắp thịt phân tán lực đòn, giả vờ ngã lăn ra bãi cát bazan ôm ngực ho sặc sụa, khóe miệng rỉ ra một vệt máu đỏ tươi do tự cắn vào đầu lưỡi.
"Hừ! Một lũ phế vật già nua vô dụng!" Ba Mắt khạc một bãi nước bọt tanh tưởi xuống bãi cát, đoạn quay sang quát lũ lâu la: "Lục soát hết các lều lán cho tao! Tìm xem có chiếc thạp đồng, chuông đồng hay mảnh giáo đồng nào không! Ba ngày nữa thuyền buôn của các vị thượng sứ phương bắc sẽ cập vịnh Vực Tròn, nếu không gom đủ số đồ đồng cổ theo giao kèo, trại chủ tao sẽ lột da từng đứa chúng mày!"
Lũ hải tặc lục tung từng góc lán, nhưng không tìm thấy món đồ đồng nào ngoài mấy chiếc nồi đất sứt mẻ. Sau một hồi chửi bới, cướp đoạt toàn bộ ngọc trai và cá khô của xóm chài, Ba Mắt mới hậm hực vung tay dẫn lâu la quay trở lại ba chiếc thuyền chiến, gầm rú xé sóng quay về hướng vũng Vực Tròn.
...
Bãi Đá Đen trở lại vẻ im lìm tang tóc. Tiếng khóc thút thít của những người phụ nữ và tiếng thở dài cay đắng của các lão ngư phu vang vọng giữa tiếng sóng biển gầm gào. Thằng Cóc vội vàng bò lại gần, đỡ Lý Quân dậy, nước mắt ròng ròng rơi xuống chiếc áo nâu rách của hắn: "Chú Tư... chú vì cứu cháu mà bị tên ác ma kia đá thổ huyết... Cháu có tội với chú..." Lý Quân khẽ gạt giọt máu nơi khóe miệng, ánh mắt nhìn theo hướng ba chiếc thuyền chiến đang khuất dần sau mũi đá bazan vụng Vực Tròn.
Trong đáy mắt hắn, không hề có một chút sợ hãi hay oán hận mù quáng, mà chỉ có một sự sắc lạnh, tĩnh lặng đến rợn người như vực thẳm ngàn trượng dưới đáy đại dương. Hắn đã nắm rõ: Băng Quỷ Đầu Đao có sáu mươi tên, sào huyệt nằm ở vụng Vực Tròn; Ba Mắt có tu vi Luyện Khí tầng 10; và đặc biệt là ba ngày nữa sẽ có thuyền của Bắc Cực Hàn Thiên Tông tới giao dịch đồ đồng cổ!
"Không sao đâu cháu." Lý Quân vỗ nhẹ vào vai thằng Cóc, cất giọng trầm ấm mà đanh thép như thép nguội:
"Người nghèo chúng ta nhẫn nhục không phải vì hèn nhát, mà để chờ đúng ngọn gió triều. Món nợ máu lửa này... biển Cô Tô sẽ sớm đòi lại sòng phẳng bằng cả vốn lẫn lời!"
THƠ KẾT CHƯƠNG:
Bãi đá Cô Tô sóng cuộn sâu,
Lều tranh mấy mái nép ghềnh nâu.
Mảnh thau ngẫm nét xua dòng lạnh,
Thế kiếm nương thân dạt ngọn cầu.
Lũ quỷ buông mồi vơ ngọc báu,
Thuyền Nam lướt gió chở tinh châu.
Đèn khuya lặng tỏ nguồn sinh lực,
Mượn nước ngàn khơi dệt phép mầu.
Thảo luận
Bình luận chương
0 bình luận
Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên bình luận chương này.