Nam Thiên Tu Tiên Truyện

Quyển 1: Bến Vạn Chài & Sóng Gió Tiêu Trang

Chương 87: Kết Thúc Quyển 1: Về Thăm Quê Cũ

Đăng: 16/09/2026 16:20 3,367 từ 50 lượt đọc

Mùa đông năm ấy, gió bấc thổi sớm hơn mọi năm, mang theo cái rét ngọt căm căm của đất trời phương Bắc tràn về bãi bồi sông Mã. Dòng sông Mã mùa này nước trong xanh phẳng lặng như một dải lụa mềm vắt ngang đôi bờ xứ Thanh. Không còn những cơn lũ cuồn cuộn đỏ ngầu phù sa gầm thét như mùa hạ, con sông lúc này mang vẻ đẹp trầm mặc, hiền hòa của người mẹ già bao dung dang rộng vòng tay đón đứa con phiêu bạt trở về. Trên con đường đê đất đỏ uốn lượn ven sông, một bóng người gầy guộc lặng lẽ sải từng bước dài dạn dày sương gió.

Vẫn manh áo nâu thô bạc phếch phất phơ trong gió lạnh, chiếc Nón Lá Lưu Ly kéo thấp quá trán, thanh Long Văn Cổ Kiếm bọc trong lớp vải bố gai xù xì đeo chéo sau lưng. Đôi bàn chân trần nứt nẻ vì sương muối dẫm nhẹ trên lớp đất phù sa xôm xốp, mỗi bước chân đều nhẹ nhàng êm ái tựa như một chiếc lá khô rơi xuống mặt đường. Lý Quân đã đi suốt nửa tháng trời từ dãy non thiêng Yên Tử xuôi về nam. Hắn không ngự kiếm phi hành trên chín tầng mây, cũng không dùng pháp thuật xé gió lướt đi. Hắn đi đò dọc, ngồi bè gỗ, lội qua những bến sông quen thuộc như một người khách buôn nghèo khó trở về làng sau những chuyến đi đằng đẵng phương xa.

Sau khi đúc lại Ngũ Hành Đạo Đài, phục hồi Trúc Cơ tầng 1 với chân dịch sánh đặc bách luyện, điều đầu tiên và duy nhất thôi thúc trong tâm khảm hắn không phải là đi tìm linh sơn phúc địa để bế quan, mà là một nỗi nhớ thương da diết cồn cào hướng về mảnh đất chôn nhau cắt rốn: Bến Vạn sông Mã. Hắn hiểu rất rõ: Tu tiên là nghịch thiên cải mệnh, thọ mệnh trăm năm ngàn năm. Nhưng nếu một kẻ bước chân lên con đường trường sinh mà quên đi cội nguồn gốc rễ, quên đi bát cơm manh áo của cha mẹ già, thì dẫu có tu thành Kim Đan hay Nguyên Anh bất tử, rốt cuộc cũng chỉ là một khúc gỗ mục trôi dạt vô hồn giữa dòng đời lạnh lẽo!

Đi qua rặng tre đầu làng, mùi khói rạ mùa gặt nồng nàn thoang thoảng bay trong gió chiều đông khiến lồng ngực Lý Quân khẽ thắt lại. Hắn dừng chân trước một túp lều tranh xiêu vẹo lợp lá cọ nằm nép mình bên gốc đa cổ thụ ở ngã ba bến nước. Đó là thảo am của danh y Tuệ Ông – người thầy thuốc già phúc hậu đã từng chữa bệnh phong hàn cho cha hắn, từng dạy hắn những bài học vỡ lòng về y lý phàm trần, về kinh lạc huyệt đạo và sự tuần hoàn của ngũ hành âm dương. Chính những bài học mộc mạc từ củ mài, ngải cứu, lá lốt của người thầy lang nghèo này đã bao lần cứu mạng Lý Quân giữa chốn rừng sâu nước độc, giúp hắn xoa dịu thức hải chấn thương sau trận chiến sinh tử với Cao Biền.

Trong lều, mùi thuốc bắc, thuốc nam đun sôi bốc lên thơm ngát. Thầy Tuệ Ông lúc này tóc đã bạc trắng như cước, lưng hơi còng, đang cặm cụi dùng chiếc dao cầu bằng gang thái từng phiến rễ cây cam thảo.

Lý Quân tháo chiếc nón lá xuống, đứng nép bên bậu cửa tre, khẽ cất tiếng gọi trầm ấm:

"Thầy ơi..."

Lưỡi dao cầu bỗng khựng lại. Thầy Tuệ Ông ngẩng mái đầu bạc phơ lên, nheo đôi mắt kèm nhèm nhìn qua làn khói thuốc mỏng manh. Khi nhận ra khuôn mặt thân quen với đôi mắt đen láy kiên định của cậu bé phu thuyền năm nào, tay ông lão khẽ run lên, buông rơi thanh gỗ xuống đất:

"Quân... Quân đấy phải không con?"

Lý Quân bước vào trong lều, hai đầu gối quỳ sụp xuống nền đất nện, chắp tay dập đầu thi lễ:

"Con là Lý Quân đây thầy. Con đi làm ăn phương xa nay mới có dịp về bái kiến thầy."

Thầy Tuệ Ông vội vàng bước tới, đôi bàn tay gầy guộc đầy vết chai và mùi thảo mộc run run đỡ Lý Quân đứng dậy. Ông lão nhìn ngắm hắn từ đầu đến chân, thấy hắn vẫn mặc manh áo nâu thô rách vá, nhưng sắc diện hồng hào, ánh mắt sáng ngời thâm sâu như giếng ngọc, liền thở phào một hơi dài đầy mãn nguyện:

"Về là tốt rồi! Sống sót trở về là hồng phúc của tổ tiên rồi con ơi! Mấy năm nay thiên hạ tao loạn, giặc giã phương Bắc nhòm ngó khắp nơi, ta cứ thắc thỏm lo cho con nơi đất khách quê người..."

Lý Quân không nói về những trận chém giết tiên môn đẫm máu ở Đèo Ngang, không kể về tà trận Tô Lịch hay bãi cọc rực lửa ở Bạch Đằng Giang. Hắn chỉ ngồi bên bếp than hồng cùng người thầy già, uống một bát nước chè xanh gừng ấm áp, lắng nghe thầy kể chuyện làng quê: Chuyện mùa màng năm nay được mùa ngô bãi, chuyện con hến sông Mã mùa này béo tròn, và chuyện hai đứa em của hắn ngoan ngoãn chăm chỉ ra sao.

Trước khi từ biệt, Lý Quân lặng lẽ lấy từ trong túi vải ra một bọc nhỏ bọc bằng lá dong rừng tươi rói:

"Thầy ơi, chuyến đi rừng phương xa vừa rồi, con tình cờ hái được củ Hà Thủ Ô đỏ tự nhiên trăm năm trên vách đá non cao. Con xin kính biếu thầy để thầy phối thuốc cứu giúp những người nghèo khổ ở bến sông này."

Đó là củ Hà Thủ Ô đã được giọt bích dịch của Mảnh Trống Đồng tưới tắm, thuần khiết sinh khí, có thể cải tử hoàn sinh cho người phàm sắp cạn kiệt thọ nguyên. Thầy Tuệ Ông cầm lấy bọc thuốc, ngửi thấy mùi hương thanh khiết xông thẳng vào kinh mạch, trong lòng kinh ngạc khôn xiết, nhưng ông hiểu tính tình kín kẽ của đứa học trò nghèo nên chỉ trầm ngâm gật đầu, vỗ nhẹ lên vai hắn một cái thật chặt:

"Tâm con sáng như trăng rằm sông Mã. Đi đâu thì đi, giữ được cái tâm ấy thì trời đất không phụ con đâu!"

...

Rời khỏi túp lều của thầy Tuệ Ông, Lý Quân rẽ bước theo con đường mòn quen thuộc dẫn ra bãi bồi Bến Vạn. Hoàng hôn mùa đông buông xuống rất nhanh. Mặt trời đỏ ối như lòng đỏ trứng gà từ từ lặn xuống sau dãy núi đá vôi phía tây, nhuộm một màu vàng cam ấm áp lên những mái nhà tranh ven sông. Khói lam chiều bảng lảng bốc lên từ những chái bếp, mang theo mùi rơm rạ nồng nàn và mùi cá bống kho nghệ thơm lừng – mùi hương thân thương mà suốt những năm tháng phiêu bạt gió bụi, Lý Quân chưa từng một giây phút nào nguôi quên. Trước mắt hắn, thấp thoáng sau rặng tre ngà và giàn trầu không xanh mướt, một ngôi nhà ngói ba gian khang trang, tường quét vôi trắng, sân gạch đỏ au hiện ra sừng sững giữa xóm chài nghèo.

Đó chính là ngôi nhà mà Lý Quân đã gửi bạc trắng về cho gia đình xây dựng từ chuyến đi áp tải hàng hóa năm xưa (). Giữa những túp lều tranh vách đất dột nát xung quanh, ngôi nhà ngói ba gian đỏ au như một biểu tượng của sự kiên cường vươn lên từ bùn đất lầy lội. Bên góc sân gạch đỏ, một người đàn ông trung niên tóc đã hoa râm, lưng hơi còng vì những năm tháng dầm mình cào hến dưới sông Mã – ông Lý Lão Tam (Lý Chấn) – đang ngồi trên chiếc ghế gỗ thấp, tỉ mỉ đan lại những mắt lưới rách. Bên cạnh ông, một người phụ nữ lam lũ mặc tấm áo tứ thân màu nâu sồng, đầu quấn khăn vuông – mẹ của Lý Quân – đang cúi lưng quét những chiếc lá xoan khô rụng trên sân.

Dưới hiên nhà, một chàng trai trẻ vạm vỡ, da ngăm đen khỏe mạnh – Lý Hiển (thằng Hai) – đang cặm cụi bửa những thanh củi lim xếp ngay ngắn vào chái bếp. Bên bậu cửa sổ, một cô bé chừng mười tuổi tóc cài hoa dại – Lý Hoa (bé Út) – đang ngồi nắn nót viết từng nét chữ Nho lên phiến đá đen. Cảnh tượng bình yên, ấm áp đến nghẹn ngào ấy khiến bước chân của người Trúc Cơ Chân Nhân bỗng nhiên khựng lại. Lý Quân đứng lặng bên rào dâm bụt đỏ rực, hai mắt hắn bỗng cay xè. Mảnh Trống Đồng Điềm Lạc trong ngực áo áp chặt vào da thịt, truyền đến từng nhịp đập ấm áp lạ thường.

Hắn từng đối mặt với tà tu giết người không chớp mắt ở Đèo Ngang, từng lặn sâu đáy vực chém giết quái vật, từng đối đầu với tàn hồn ngàn năm của Cao Biền mà không hề run sợ nửa phân... Nhưng đứng trước cổng nhà mình lúc này, trước người mẹ già lưng còng và người cha lam lũ, đôi chân cứng như thép nguội của hắn bỗng nhiên run rẩy.

"Kẹt..." — Lý Quân khẽ đẩy nhẹ cánh cổng tre bước vào sân.

Tiếng động rất nhỏ, nhưng người mẹ nhạy cảm của người làng chài lập tức ngẩng đầu lên. Chiếc chổi tre trên tay bà bỗng nhiên rơi tuột xuống nền gạch đỏ. Bà đứng sững người, đôi mắt mờ đục đăm đăm nhìn vào bóng hình gầy guộc mặc manh áo nâu thô đứng ở cổng. Vẫn dáng đi hơi cúi, vẫn bờ vai săn chắc gân guốc, vẫn đôi mắt đen láy chất chứa nỗi niềm sâu thẳm của đứa con trai cả...

"Quân... Quân ơi! Có phải con không Quân?!" — Tiếng gọi nghẹn ngào xé toạc không gian tĩnh lặng của buổi chiều tà!

Ông Lý Lão Tam giật thót mình, đánh rơi cả con thoi đan lưới xuống chân. Thằng Hai buông chiếc búa bửa củi, bé Út vứt mẩu phấn chạy ùa ra hiên nhà!

"Mẹ! Cha! Con đã về rồi đây!"

Lý Quân không kìm được lòng mình nữa, hắn sải bước lao tới, quỳ sụp xuống giữa sân gạch đỏ, hai tay ôm chặt lấy đôi chân gầy guộc đầy bùn đất của mẹ hiền!

"Trời đất ơi! Con tôi! Thằng Quân của mẹ đã về thật rồi!"

Người mẹ ôm chầm lấy đầu con trai, những giọt nước mắt nóng hổi lăn dài trên đôi gò má nhăn nheo, rơi ướt đẫm manh áo nâu của Lý Quân. Bàn tay khô ráp, nứt nẻ của bà vuốt ve từng vết sẹo trên khuôn mặt, trên cánh tay gân guốc của hắn, vừa khóc vừa nghẹn ngào:

"Con đi biền biệt mấy năm trời... Mẹ đêm nào cũng ra đầu bến ngóng thuyền... Cứ ngỡ con gặp nạn nơi đất khách..."

Ông Lý Lão Tam bước tới, bàn tay run rẩy đặt lên bờ vai săn chắc của con trai cả. Người cha nghèo cả đời lam lũ, ít nói, chỉ biết giấu kín tình thương sâu thẳm vào lòng đáy sông. Đôi mắt đỏ hoe của ông nhìn Lý Quân, môi mấp máy hồi lâu mới thốt lên được một câu run rẩy:

"Về được là tốt... Về là tốt rồi con ơi... Tổ tiên phù hộ cho nhà họ Lý ta rồi..."

"Anh Cả! Anh Cả đã về!" Thằng Hai chạy tới ôm chặt lấy lưng anh, đôi mắt vằn lên niềm tự hào khôn xiết. Bé Út sà vào lòng Lý Quân, níu chặt lấy vạt áo nâu rách rưới của anh mà ríu rít như chim non.

Cả gia đình quây quần bên nhau giữa sân gạch đỏ au trong ánh hoàng hôn ấm áp. Những giọt nước mắt mừng tủi hòa lẫn nụ cười rạng rỡ xua tan đi toàn bộ cái lạnh giá của mùa đông bãi bồi. Đêm hôm ấy, ngọn đèn dầu le lói thắp sáng gian nhà ngói ba gian. Bữa cơm đoàn viên đạm bạc nhưng ấm cúng lạ thường: Một niêu cơm gạo mới thơm dẻo, một đĩa rau muống luộc chấm tương, và một âu cá bống kho nghệ vàng ươm thơm lừng – chính tay người mẹ thức dậy nấu món ăn mà Lý Quân thích nhất từ thuở ấu thơ.

Lý Quân ngồi bên mâm cơm, ăn từng hạt cơm dẻo, cắn từng miếng cá bống bùi béo ngậy mùi nghệ tươi. Hắn cảm nhận rõ ràng: Cao lương mỹ vị của chốn kinh kỳ lầu son gác tía, hay linh đan diệu dược của giới tu tiên, cũng không thể nào sánh bằng hương vị của bát cơm mẹ nấu nơi quê nhà!

Hắn bưng chén trà nóng bằng hai tay, kính cẩn dâng lên trước mặt cha già:

"Thưa cha, thưa mẹ, chuyến này con đi buôn phương xa, công việc đã hanh thông thuận lợi. Gia đình ta từ nay không còn phải chịu cảnh bần hàn đói rách nữa."

Nói đoạn, Lý Quân đặt lên chiếc chõng tre ba chiếc túi vải nhỏ:

Chiếc túi thứ nhất nặng trịch: Chứa hai trăm lượng bạc trắng nguyên chất – số bạc hắn đã dành dụm từ những chuyến giao dịch và thu dọn chiến trường. Số bạc này đủ để gia đình mua thêm mười mẫu ruộng màu mỡ ven sông Mã, chu cấp cho thằng Hai lấy vợ, nuôi bé Út ăn học chữ thầy Tuệ Ông đến nơi đến chốn, sống an nhàn ba đời không phải lo âu cơm áo.

Chiếc túi thứ hai là ba chiếc bình gốm nhỏ: Bên trong đựng những viên Dưỡng Sinh Hoàn do chính tay Lý Quân phối chế từ thảo dược phàm trần hòa cùng nước linh dịch pha loãng cực kỳ dịu nhẹ. Hắn dặn dò tỉ mỉ:

"Đây là thuốc bổ dưỡng tạng phủ do một vị danh y phương xa bào chế. Mỗi tháng cha mẹ uống một viên, sẽ trừ sạch chứng phong thấp đau lưng khi mùa đông tới, khí huyết dồi dào, sống thọ trăm tuổi an lành."

Hắn quay sang nắm chặt bàn tay chai sần của em trai Lý Hiển:

"Thằng Hai, anh sắp tới phải theo một chuyến buôn đường dài rất xa về phương Bắc, có thể mười năm, hai mươi năm mới có dịp trở về. Cơ ngơi này, nếp nhà này, anh giao lại toàn bộ cho em. Em thay anh chăm sóc cha già mẹ yếu, rèn giũa bé Út nên người. Em làm được không?"

Lý Hiển nhìn thẳng vào mắt anh trai, thấy trong đôi mắt thâm sâu ấy một sự ủy thác thiêng liêng nặng tựa non cao. Chàng trai trẻ bần nông gật đầu thật mạnh, hai mắt rực sáng:

"Anh Cả cứ yên tâm lên đường! Em ở nhà sẽ chăm sóc cha mẹ chu đáo, giữ trọn nếp nhà gia giáo của cha, quyết không để anh phải bận lòng một mảy may nào!"

Đêm đã khuya, gió bấc ngoài sông Mã thổi rít qua rặng tre ngà. Cha mẹ và hai em sau những ngày dài mỏi mòn ngóng đợi, nay trong lòng đã an yên tuyệt đối, đều đã chìm sâu vào giấc ngủ thanh bình. Lý Quân đứng dậy, bước nhẹ nhàng ra giữa gian nhà chính. Hắn thắp ba nén nhang trầm lên bàn thờ tổ tiên họ Lý. Khói hương nghi ngút bay lên, quyện vào mái ngói đỏ au. Hắn quỳ sụp xuống, dập đầu ba lạy tạ ơn tổ tiên non sông đất mẹ đã che chở cho đứa con bần nông vượt qua muôn vàn kiếp nạn sinh tử. Hắn quay đầu nhìn lại gian buồng trong, nơi cha mẹ đang say giấc nồng, tiếng thở đều đặn, an lành.

Một giọt nước mắt trong suốt khẽ lăn dài trên gò má người tu sĩ áo nâu rồi tan biến vào bóng đêm. Mối duyên trần thế... đến đây đã trọn vẹn! Hắn đã cứu cha thoát chết, đã xây cho cha mẹ ngôi nhà ngói ba gian khang trang, đã để lại bạc trắng và thuốc trường thọ, đã lo liệu chu toàn cho các em. Gánh nặng ân tình trần tục trên vai hắn đã được cởi bỏ hoàn toàn. Đạo hiếu đã vẹn tròn, tâm can hắn lúc này đạt tới cảnh giới thông suốt, phẳng lặng như mặt gương không một hạt bụi trần!

Lý Quân xoay người, kéo sụp chiếc Nón Lá Lưu Ly che khuất nửa khuôn mặt. Hắn sải bước bước ra khỏi cửa tre. Sáng sớm hôm sau, khi những tia nắng hồng đầu tiên của mùa đông le lói xuyên qua màn sương sớm bảng lảng trên sông Mã, bóng dáng người thiếu niên áo nâu đã khuất sau rặng tre đầu làng. Không một tiếng từ biệt ồn ào. Hắn ra đi thanh thản, dứt khoát như cánh chim Lạc vút bay về phía chân trời rộng lớn.

...

Mười ngày sau. Trên đỉnh cao nhất của dãy non thiêng Yên Tử, nơi mây ngàn cuồn cuộn trôi dưới chân tựa như sóng biển bồng bềnh. Gió sớm thổi lồng lộng, cuốn bay tà áo nâu bạc phếch của người thiếu niên. Dưới chân hắn, giang sơn Đại Việt trải dài ngút ngàn tầm mắt: Từ dải đồng bằng châu thổ sông Hồng phù sa trù phú, những dòng sông uốn lượn như rồng bay, cho đến cửa biển Bạch Đằng ngút ngàn sóng bạc và dải Hoành Sơn xa xăm mờ ảo. Lý Quân đứng sừng sững trên mỏm đá chênh vênh như một cây thông cổ thụ nghìn năm cắm rễ vào vách đá.

Bên trong cơ thể hắn, tòa Ngũ Hành Hỗn Độn Đạo Đài cửu tầng bách luyện tỏa ra ánh kim quang trầm tĩnh. Chân dịch ngũ sắc sánh đặc như mật ong rừng cuộn xoáy nhịp nhàng. Thần thức Trúc Cơ mở rộng trăm trượng, hòa nhập vào từng nhịp thở của non sông gấm vóc. Mảnh Trống Đồng Điềm Lạc trước ngực khẽ ngân lên một tiếng u u trầm hùng bất diệt.

Hắn không còn là đứa trẻ bần nông gầy gò ngơ ngác bán mình vào mỏ sắt năm nào. Trải qua mười năm phong trần, nếm trải trăm ngàn đòn roi, máu và nước mắt; vượt qua cạm bẫy tiên môn, đại chiến đầm lầy, phá tan tà trận Tô Lịch và nhấn chìm hạm đội giặc tại Bạch Đằng Giang... Thiếu niên áo nâu ngày hôm nay đã trở thành một Trúc Cơ Chân Nhân uy nghi, vững chãi tựa bàn thạch, đạo tâm kiên định không gì lay chuyển nổi! Lý Quân từ từ ngẩng đầu lên, ánh mắt sắc lạnh như kiếm lệnh hướng thẳng về phương Bắc xa xôi – nơi mây đen và tuyết trắng đang cuồn cuộn vần vũ, nơi môn phái ngàn năm Bắc Cực Hàn Thiên Tông và những kẻ thù hùng mạnh đang chờ đợi hắn.

Bàn tay chai sần của hắn nắm chặt lấy chuôi Long Văn Cổ Kiếm. Manh áo nâu bay phần phật giữa mây ngàn gió núi. Một mình, một kiếm, một nón lá. Hắn chính thức cất bước bước vào con đường độc hành vấn đỉnh trường sinh, gánh vác sứ mệnh bảo vệ bình yên cõi Nam...


THƠ KẾT CHƯƠNG:

Non thiêng Yên Tử ngút ngàn mây,
Áo vải tơi nâu lộng gió ngày.
Sông Mã ơn sâu tròn đạo hiếu,
Đài sen chín bậc vững thân đây.
Chân nguyên tôi luyện bừng sinh khí,
Kiếm bén phong trần rẽ lối tây.
Độc bộ trường sinh vươn cánh Lạc,
Trời Nam một bóng vượt trùng vây.

0