Nam Thiên Tu Tiên Truyện

Quyển 2: Huyết Chiến Nam Thiên

Chương 1: Áo Nâu Xuống Núi Yên Tử

Đăng: 07/10/2026 22:38 3,265 từ 3 lượt đọc

Gió bấc đầu đông thổi rát mặt qua cánh rừng ngập mặn Tiên Yên, mang theo hơi muối mặn chát của biển Đông quyện cùng mùi ngai ngái nồng nặc của vũng bùn và lá sú vẹt mục rỗng. Bên mép bãi bồi ven sông, nơi hàng ngàn gốc đước cắm rễ chằng chịt xuống bùn đen như những chiếc lồng sắt khổng lồ giữa cõi hoang vu, một căn chòi tranh xiêu vẹo lợp bằng lá bổi nằm trơ trọi hứng từng cơn gió biển rít qua khe liếp nứa.

Lão Chích ngồi co ro bên miệng lò than bằng đất nung, dùng chiếc kẹp sắt hoen rỉ gắp từng thanh củi sú vẹt đỏ rực. Lão năm nay ngoài ngũ tuần, lưng còng gập xuống như ngọn cỏ năn, khóe mắt trái mù lòa phủ một màng sẹo trắng đục – vết tích của một lần bị rễ đước sắc như dao cạo đâm thủng trong cơn bão biển ba mươi năm trước. Nửa đời dầm mình dưới bãi bùn đốt than đổi gạo, da dẻ lão đen đúa chằng chịt vết muỗi dĩn đốt và sẹo hàu cứa, chai sần như vỏ cây bần cổ thụ.

Bỗng nhiên, tai lão khẽ giật. Giữa tiếng sóng triều ì ầm vỗ vào bãi xa và tiếng gió rít u u qua tán sú, một chuỗi bước chân chậm rãi vang lên trên mặt bùn non. Lão Chích nheo con mắt còn lại, thận trọng nhìn qua kẽ nứa mục.

Dưới màn sương sớm bảng lảng màu tro lạnh, một bóng người từ từ bước ra. Đó là một thiếu niên vóc dáng gầy guộc nhưng lưng thẳng tắp như thân cau, khoác trên mình manh áo nâu thô bạc phếch đã sờn rách ở gấu áo, đầu đội chiếc nón lá kéo sụp che khuất nửa khuôn mặt. Sau lưng hắn, một vật dài bọc trong lớp bao tải gai xù xì buộc chéo bằng dây mây rừng. Hắn đi chân trần, sải từng bước dài ung dung trên lớp bùn nhão nhoẹt, nhưng kỳ lạ thay, mỗi khi gót chân nhấc lên, bùn đen chỉ khẽ chạm mép ngón chân chứ tuyệt nhiên không hề lún sâu như người thường.

Lão Chích thầm giật mình. Vùng bãi bồi Tiên Yên này bùn sâu lút đầu gối, ngay cả dân cào ngao lão luyện cắm sào lội bùn cũng phải bì bõm thở không ra hơi. Người này đi nhẹ tựa mây bay, không phát ra nửa tiếng thở dốc, ắt hẳn là con nhà vạn chài võ nghệ cao cường hoặc sơn trâu dạn dày rừng rậm.

Khi đến trước cửa chòi, thiếu niên dừng bước, tháo chiếc nón lá xuống kẹp bên sườn, để lộ khuôn mặt phong trần dãi dầu sương gió, đôi mắt đen láy phẳng lặng như mặt nước giếng khơi. Hắn khẽ chắp hai tay theo thế chào của kẻ sông hồ mộc mạc, cất giọng trầm ấm:

"Thưa bác, cháu từ vùng núi xuôi về cửa biển, gặp cơn mưa bấc lạnh giá, xin bác cho ghé nhờ mái chòi hơ lửa một lát."

Lão Chích nhìn đôi bàn tay chai sần đầy vết sẹo của thiếu niên, lại thấy nét mặt chất phác không hề có vẻ hung hãn của phường trộm cướp, liền gật đầu, dịch người sang một bên:

"Trời sắp trở gió lớn rồi, chú mày mau vào đây ngồi cho ấm. Rừng ngập mặn mùa này sương muối độc lắm, dầm mưa lạnh là thấu xương ngay."

Thiếu niên khẽ cúi đầu tạ ơn rồi bước vào lều, ngồi thu lu ở một góc phản tre đối diện lò than. Người thiếu niên ấy chính là Lý Quân.

...

Bốn ngày trước, sau khi hoàn tất chuyến về thăm quê cũ Bến Vạn, lặng lẽ an trí cha mẹ và các em trong ngôi nhà ngói ba gian đỏ au ấm áp, Lý Quân đã quay trở lại đỉnh Phù Vân non thiêng Yên Tử. Đứng trước ngôi chùa đồng mờ ảo giữa mây ngàn gió lộng, hắn dập đầu bái tạ linh khí trời Nam, dứt bỏ mọi vướng bận hồng trần, chính thức bắt đầu chặng đường nhập thế viễn chinh.

Từ non cao Yên Tử, hắn không ngự kiếm phi hành trên chín tầng mây để tránh kinh động đến tai mắt của các thế lực tiên môn và mạng lưới trinh sát ngầm của phương Bắc. Với cảnh giới Trúc Cơ tầng 1 vừa mới phục hồi vững chắc, đan điền ngũ sắc của hắn tuy sánh đặc thâm sâu nhưng vẫn cần dưỡng khí. Ngự kiếm chỉ dùng trong tình huống sinh tử khẩn cấp; một canh giờ ngự kiếm có thể vắt kiệt hơn nửa chân dịch, cực kỳ nguy hiểm nơi đất khách quê người.

Hắn chọn cách đi bộ. Men theo những vệt đường mòn dốc đứng của đèo Yên Lập, hắn vận hành khinh thân thuật cơ bản kết hợp nhịp thở điều hòa của ngư dân lội sông. Qua bến đò sông Uông Bí, hắn nhập vào dòng người phàm phu buôn muối gánh củi, men theo dải duyên hải Đông Bắc đi suốt bốn ngày bốn đêm để tiến vào vùng cửa biển Tiên Yên – trạm trung chuyển cuối cùng trước khi dong thuyền ra quần đảo Cô Tô ngoài khơi xa.

Suốt bốn ngày ròng rã dầm mưa dãi gió, Lý Quân không hề cảm thấy mệt mỏi hay đói khát. Trước khi xuống núi, hắn đã nuốt một viên Ích Cốc Đan màu xám tro luyện từ dược thảo thanh tịnh. Dược lực ôn hòa của đan dược tan ra trong tỳ vị, tỏa thành những luồng sinh khí thanh khiết nuôi dưỡng lục phủ ngũ tạng, giúp hắn hoàn toàn bài trừ trọc khí của ngũ cốc phàm trần. Đối với tu sĩ Trúc Cơ, việc giữ cho kinh mạch và đan điền thanh khiết là quy tắc sống còn; nếu liên miên ăn uống thức ăn thế tục nhiều dầu mỡ ô uế, cặn bã sẽ lắng đọng vào huyết mạch, làm chậm quá trình vận hành của chân dịch bách luyện.

Lúc này, trong túi trữ vật bằng da cá mập giấu kỹ trong cạp quần, Lý Quân mang theo toàn bộ gia tài tích lũy sau mười năm vào sinh ra tử: Ba mươi hai viên linh thạch trung phẩm lấp lánh linh khí; một viên Trúc Cơ Đan dự phòng bọc sáp kín; năm viên Ích Cốc Đan; chiếc nón lá Lưu Ly ẩn giấu khí tức; và một chiếc Hàn Ngọc Bình nhỏ bằng ngón tay cái chứa một giọt bích dịch ngưng tụ từ đêm rằm tháng trước, hạn dùng còn lại chừng sáu mươi ngày.

Còn trước ngực áo nâu của hắn, nơi huyệt Đản Trung ấm áp, Mảnh Trống Đồng Điềm Lạc vẫn được bọc kín trong ba lớp da cá mập phơi khô và giấy dó mài bột vỏ điệp, buộc chặt bằng sợi dây gai thô ráp. Mảnh đồng nằm im lìm áp sát vào lồng ngực hắn, truyền qua làn da từng nhịp đập trầm hùng tĩnh lặng.

Kể từ sau trận đại chiến Đầm Dạ Trạch khiến tu vi bị hút cạn phải bách luyện trọng tu, Lý Quân đã khắc cốt ghi tâm một chân lý sắt đá: Thần khí chưa hoàn chỉnh thì tuyệt đối không có công năng thần thánh chủ động. Nó không phải là tấm khiên đồng bay ra đỡ đòn, cũng chẳng thể hô mưa gọi gió theo ý muốn. Nó chỉ là một gốc rễ cổ xưa mang theo hai sứ mệnh bất biến: Ban phát từng giọt linh dịch vào đêm trăng tròn để gột rửa linh dược, và tự phát tác hộ chủ khi chủ nhân rơi vào lằn ranh cái chết.

Thế nhưng, cái giá của sự hộ chủ ấy quá đỗi kinh hoàng! Lần đầu tiên là cả một vùng đan điền tan biến, biến thành kẻ phế nhân phải bắt đầu lại từ con số không giữa muôn trùng hiểm họa. Lý Quân hiểu rằng, nếu sau này ở cảnh giới Kim Đan hay Nguyên Anh mà kích hoạt then chốt hộ chủ tàn khốc ấy, dẫu không bị đánh rớt về phàm nhân thì đan khí cũng cạn kiệt, đạo thương rạn nứt, thọ nguyên hao tổn hàng chục năm.

Hắn tuyệt đối không bao giờ cho phép bản thân sinh ra tâm lý ỷ lại vào mảnh đồng! Sống sót giữa trời đất, dựa vào thanh kiếm trong tay và sự cẩn trọng sắt đá trong tâm mới là con đường trường sinh duy nhất.

...

"Lách tách... lách tách..."

Những hạt mưa nặng hạt bắt đầu quất xối xả lên mái lá chòi than. Gió biển thổi thốc vào kẽ liếp khiến ngọn lửa trong lò đất chao đảo, phả ra từng đợt khói than sú vẹt khét nồng làm cay xè sống mũi.

Từ ngoài cửa rừng đước, hai bóng người đàn ông lực lưỡng mặc áo cộc rách vai, vác theo hai bó củi sú ướt sũng hối hả chạy vào lều, miệng thở hồng hộc:

"Mưa bấc ập xuống nhanh quá! Con nước hôm nay dâng cao hơn bình thường hai thước, bãi cào ngao ngoài doi cát ngập trắng xóa rồi bố ơi!"

Hai gã phu than trẻ tuổi quẳng phịch bó củi xuống góc sàn, quẹt mồ hôi trán lẫn nước mưa. Khi thấy Lý Quân đang ngồi thu lu bên lò lửa, hai gã thoáng ngạc nhiên liếc nhìn chiếc bao tải gai sau lưng hắn, nhưng thấy hắn mặc manh áo nâu rách vá, mặt mũi hiền lành nên cũng chẳng buồn gặng hỏi, chỉ gật đầu chào một tiếng cộc cằn của dân lao động rồi xúm lại quanh lò sưởi. Lão Chích cời đống tro tàn trong đáy lò, dùng chiếc que sắt khều ra một củ khoai lang vùi tro nướng đã chín nứt vỏ. Lớp vỏ cháy sém tỏa ra mùi thơm ngọt ngào, ấm áp ngây ngất giữa chốn rừng lầy buốt giá.

Lão bẻ đôi củ khoai bốc khói nghi ngút, đưa nửa củ lớn về phía Lý Quân:

"Chú mày từ xa tới, dầm mưa lạnh chắc bụng dạ cồn cào rồi. Cầm lấy củ khoai vùi tro mà lót dạ. Đất này chẳng có cao lương mỹ vị gì đâu, chỉ có củ khoai củ mài bãi cát thôi." — Lý Quân khẽ giật mình.

Hắn đã nuốt Ích Cốc Đan, trong người không hề có cảm giác đói. Theo lẽ thường của người tu tiên, từ chối thức ăn phàm tục là điều tất yếu để tránh làm vẩn đục kinh mạch. Nhưng nhìn đôi bàn tay run rẩy đen đúa dính đầy bụi tro của ông lão, nhìn nửa củ khoai vàng ruộm nghi ngút khói thơm, ánh mắt Lý Quân bỗng chốc mềm lại.

Tu tiên nếu chỉ biết giữ mình thanh sạch trên mây trắng, khinh nhờn hạt cơm củ khoai của phàm trần thì đạo tâm ấy há chẳng phải là thứ đạo tâm khô héo, vong bản hay sao? Hắn sinh ra từ bùn đất làng chài, lớn lên nhờ củ khoai củ sắn của cha mẹ nghèo. Bát cơm củ khoai của người lao động không phải là trọc khí làm hoen ố đạo tâm, mà là hơi ấm của cõi nhân gian, là cội nguồn của ý chí sinh tồn!

Lý Quân cung kính đưa hai tay đón lấy nửa củ khoai nóng hổi:

"Cháu xin bác. Đa tạ bác đã thương tình." — Hắn khẽ bóc lớp vỏ cháy sém dính tro đen, cắn một miếng nhỏ.

Vị ngọt lịm đậm đà của mật khoai tươm ra nơi đầu lưỡi, quyện với chút vị khét bùi của tro than hoa bốc lên ấm sực khoang miệng. Cảm giác ấm áp lan tỏa từ cuống họng xuống bụng dạ, đánh thức toàn bộ ký ức tuổi thơ những chiều đông lạnh giá bên bờ sông Mã. Hắn lại nhớ đến niêu cá bống kho nghệ của mẹ.

Mùi thơm mộc mạc của gừng già, nghệ xắt lát, vị mặn mòi của tương cua đồng và những con cá bống bùi béo ngập trong nước kho vàng óng... Cái hương vị bình dị ấy đã nuôi sống thể xác hắn, hun đúc nên đạo tâm kiên cường bất khuất của hắn suốt những năm tháng làm phu mỏ sắt. Củ khoai vùi tro hôm nay, chén nước vối rừng hôm nay, chính là chiếc mỏ neo níu giữ linh hồn hắn ở lại với cõi đời, giúp tâm cảnh Trúc Cơ sau những ngày bế quan cô độc trên đỉnh non cao tìm lại được sự cân bằng tĩnh tại.

Gã phu than trẻ tuổi tên là Đinh Đại rót một bát nước vối rừng đun sôi đỏ quạch từ chiếc ấm đất sứt vòi, đẩy sang trước mặt Lý Quân:

"Uống ngụm nước nóng đi chú em. Nước vối búp non hái trên đồi Tiên Yên đấy, đắng chát lúc đầu nhưng ngọt hậu ngọt giọng lắm!" — Lý Quân bưng bát sành mẻ sứt mép, nhấp một ngụm dài.

Vị chát đắng nồng nàn xộc thẳng lên cuống họng, để rồi chỉ sau vài nhịp thở, một dòng dư vị ngọt lành thanh mát từ từ đọng lại dưới chân răng, làm dịu hẳn cái khô rát của gió biển đầu đông. Hắn khẽ thở ra một làn hơi trắng mỏng manh, ánh mắt trở nên sâu thẳm.

...

"Mấy hôm nay ngoài cửa biển Vạn Ninh có biến lớn đấy bố ạ," gã phu than thứ hai tên là Đinh Nhị vừa hơ hai bàn tay nứt nẻ trên lửa vừa thì thào nói, giọng chùng xuống đầy lo lắng.

Lão Chích ngước mắt lên, lông mày nhíu lại:

"Biến gì? Lại là đám phu lặn mò ngọc tranh chấp bãi cào à?"

"Không phải tranh chấp thường đâu!" Đinh Nhị lắc đầu quầy quậy: "Đám cướp biển Quỷ Đầu Đao ngoài lộng Cô Tô dạo này hoành hành dữ dội lắm. Chúng nó vừa đánh chìm ba chiếc thuyền buôn gỗ lim của phủ Hải Đông, chém chết cả chục người vứt xác trôi dạt vào bãi đá đen. Nghe đâu bọn chúng kết bè với lũ lái buôn cờ đen từ phương Bắc đưa sang, lùng sục khắp các đảo hoang tìm kiếm thứ gì đó dưới đáy biển."

Đinh Đại cũng thêm vào:

"Đúng đấy bố. Hôm qua con chở than sang bến Mũi Ngọc, thấy mấy tay khách lạ mặc áo choàng xanh thêu hình núi tuyết, mắt trắng môi thâm, trên hông đeo lệnh bài bằng ngọc lạnh ngắt. Bọn họ thuê thuyền nan ra đảo với giá cắt cổ, lại còn dặn dò tìm thợ lặn có thể nín thở ba canh giờ dưới nước. Người thường ai nín thở được lâu thế? Trừ phi là yêu quái dưới sông hoặc người có tà thuật!"

Lão Chích thở dài sườn sượt, lắc đầu ngao ngán:

"Loạn rồi... Vùng biển Đông Bắc này vốn nhiều rạn san hô ngầm, luồng nước xoáy hiểm ác như miệng quỷ. Ngoài bãi Móng Rồng đảo Cô Tô nước sâu thăm thẳm, đá sắc như chông, lại có bầy thủy quái khổng lồ ẩn nấp dưới hang ngầm. Người phàm bén mảng tới đó mười phần chết chín. Lũ cướp biển với người lạ phương Bắc kéo ra đấy làm gì không biết!" — Ngồi trong góc tối, Lý Quân lặng lẽ nhấp thêm một ngụm nước vối, vẻ mặt trầm tĩnh không gợn một tia dao động.

Nhưng trong tâm khảm hắn, từng lời nói của hai gã phu than đã được ghi khắc rõ mồn một:

Áo choàng xanh thêu hình núi tuyết... Lệnh bài ngọc lạnh... Đó chính là dấu hiệu của tu sĩ Bắc Cực Hàn Thiên Tông! Lũ ma đầu phương Bắc quả nhiên đã vươn vòi bạch tuộc tới tận vùng duyên hải Đông Bắc của cõi Nam. Bọn chúng cấu kết với hải tặc bản địa Quỷ Đầu Đao, lùng sục khắp các rạn đá ngầm Cô Tô... Liệu có phải chúng cũng đang lùng tìm tung tích của những di vật viễn cổ, hay đang âm mưu thiết lập trạm phong ấn trấn yểm long mạch biển Đông? Hơn nữa, thông tin về "bãi rạn Móng Rồng", "luồng nước xoáy hiểm ác" và "bầy thủy quái" là những mảnh ghép vô giá cho chuyến hải hành sắp tới của hắn. Một người cẩn trọng như Lý Quân chưa bao giờ bước chân vào hiểm địa mà không nắm rõ địa hình con nước.

"Đa tạ các bác đã cho tá túc," Lý Quân khẽ lên tiếng, giọng nói mộc mạc: "Nghe các bác kể chuyện sóng gió ngoài khơi mà cháu thấy rợn người. Cháu định ra mé biển tìm việc chèo đò kiếm ăn, phen này chắc phải cẩn thận hơn nhiều."

Đinh Đại cười xòa, vỗ vai Lý Quân:

"Chú mày còn trẻ, mặt mũi trông sáng sủa thế kia thì cứ ở lại trong bờ mà làm than với bố con tao, việc gì phải đâm đầu ra biển cho sóng nó dập! Ngoài ấy không có chỗ cho người hiền lành đâu!" — Lý Quân chỉ mỉm cười nhẹ nhàng, không đáp lời.

...

Khoảng một canh giờ sau, cơn mưa bấc dần ngớt hạt. Gió biển thổi bạt những đám mây đen xám xịt về phía chân trời, để lộ ra khoảng trời xanh ngắt sau mưa. Rừng sú vẹt Tiên Yên lấp lánh ánh nước dưới những tia nắng đông yếu ớt vừa le lói rọi xuống bãi bồi.

Lý Quân đứng dậy, chỉnh lại chiếc nón lá trên đầu, cẩn thận buộc chặt mối dây bao tải gai sau lưng. Hắn bước tới bên bậu cửa tre, cúi người chào lão Chích và hai người phu than:

"Mưa đã tạnh, cháu xin phép lên đường cho kịp con nước chiều. Cảm ơn bác và các anh đã nhường hơi ấm lò than và củ khoai ngọt bùi."

Nói đoạn, trước khi quay gót, ngón tay hắn khẽ búng nhẹ. Dưới đáy chiếc bát sành mẻ uống nước vối, một xâu năm mươi đồng tiền đồng sáng loáng – tiền công đủ mua cả một gánh khoai lớn – nằm ngay ngắn cạnh kẽ nứa mà không hề phát ra một tiếng động.

Lão Chích vẫy vẫy bàn tay chai sạn tiễn khách:

"Đi đường cẩn thận nhé chú mày! Nhớ lời tao dặn, thấy thuyền buồm cờ đen thì phải né thật xa ra đấy!" — Lý Quân quay đầu lại, khẽ gật đầu một cái thật sâu.

Hắn sải bước rời khỏi căn chòi than, đôi chân trần đạp trên lớp bùn non ươn ướt, thoăn thoắt tiến thẳng ra con lộ đất dẫn về bến Mũi Ngọc. Phía trước hắn, mặt biển Đông bao la bát ngát hiện ra ngút ngàn tầm mắt. Sóng bạc đầu nhấp nhô cuồn cuộn dưới ánh tà dương, gió đại dương lồng lộng thổi bay tà áo nâu bạc phếch. Thiếu niên bần nông một mình một kiếm, chính thức bước vào bão táp trùng khơi!


THƠ KẾT CHƯƠNG:

Non thẳm mây bay phủ khói tràn,
Chân trần áo vải xuống trần gian.
Đường rừng dốc thẳm qua khe suối,
Bãi sú triều dâng cuộn sóng ngàn.
Bếp đượm vùi tro thơm củ ngọt,
Hơi nồng ngụm vối đuổi phong hàn.
Thuyền nan rẽ sóng tìm khơi rộng,
Kiếm sắt bền gan giữ cõi an.

0