Quyển 2: Huyết Chiến Nam Thiên
Chương 30: Mùi Hoa Hồi Rừng Lạng Sơn
Nam Thiên Tu Tiên Truyện
Mục lục
118 chươngCuộn, vuốt hoặc dùng hai nút để xem thêm Đã tải 118/118 chương
Chiếc thuyền nan mũi cong khẽ rẽ làn sương mù bảng lảng trên mặt nước, mũi thuyền êm ru chạm vào doi cát ngập phù sa dưới chân một rặng sung già cỗi. Gió bấc cuối thu rít qua khe núi đá vôi nghe như tiếng sáo thổi u hoài. Sương muối biên viễn chớm lạnh buốt giá, từng giọt nước đọng trên tán lá rừng thi thoảng lại rơi lộp độp xuống mặt nước sông Thương phẳng lặng như một tấm gương đồng phủ bụi. Lý Quân đứng trên mũi thuyền, đôi bàn chân trần bè bè bấm chặt vào ván gỗ thau nguội. Hắn không vội bước lên bờ, mà đứng im lìm như một thân cọc gỗ, đôi mắt đen sâu thẳm phóng xuất thần thức săn mồi vạn chài quét một vòng bán kính ba dặm quanh bến nước.
Nơi đây là một bến thuyền dịch trạm bỏ hoang thuộc địa phận châu Hữu Lũng, cửa ngõ hiểm trở bậc nhất dẫn ngược lên Ải Chi Lăng của xứ Lạng. Hai bên bờ sông, những vách núi đá vôi màu xám mốc dựng đứng sừng sững tựa như những nhát rìu khổng lồ của tạo hóa chém thẳng xuống trần gian. Giữa các khe đá tai mèo sắc lẹm, bạt ngàn những cánh rừng hồi cổ thụ xòe cành xanh thẫm, hoa hồi kết chùm hình ngôi sao tám cánh ngả màu nâu sẫm, tỏa ra mùi tinh dầu cay nồng nàn, ấm áp mà se thắt trong làn gió bấc buốt lạnh.
Khẽ đưa tay chạm vào chiếc túi da cá sấu bên hông, Lý Quân cảm nhận được một chuyển động nhỏ bé, ấm áp đang cựa quậy bên trong. Con chuột chúa Hắc Tí sau khi được hắn chia cho mẩu rễ địa hoàng khô lúc sáng sớm đã hoàn toàn tỉnh táo, chiếc mũi nhỏ phập phồng hít thở luồng địa khí nồng mùi khoáng thạch đá vôi phả ra từ các hang động ven sông. Sát bên cạnh, hai chiếc Hàn Ngọc Bình dán kín Phong Linh Phù vẫn tỏa ra hai luồng nhiệt lượng đối nghịch: một bên ấm nóng nồng đượm của giọt Hổ Phách thuần dương, một bên mát lạnh dịu nhẹ của giọt Lưu Ly chí âm.
Mọi thứ đều kín kẽ, không một tia linh ba nào rò rỉ ra ngoài.
"Đến lúc gác mái chèo, khoác áo tơi cỏ."
Lý Quân lẩm bẩm trong lòng. Hắn cúi người, nhấc bổng chiếc thuyền nan lên bằng một tay, nhẹ nhàng giấu nó vào sâu bên trong một hốc đá ngầm rậm rạp dây leo ven bờ sông, dùng bùn non và rêu đá xóa sạch toàn bộ vết trượt trên bãi cát.
Từ chiếc túi vải thô giắt dưới đáy thuyền, hắn lấy ra bộ y phục ngụy trang đã chuẩn bị từ trước: một chiếc áo tơi bện bằng rơm nếp và vỏ cây cọ khô đã ngả màu vàng úa, viền áo xơ xác tơi tả như đã dầm mưa dãi nắng hàng chục năm ròng; chiếc nón lá rách tươm quấn một dải vải nâu sậm che khuất nửa khuôn mặt dãi dầu; đôi giày bện bằng rơm khô thô ráp phủ kín đôi bàn chân trần đồng hun; và trên vai là một chiếc gùi tre mốc meo, bên trong xếp đầy những bó rễ cây nam dược tầm thường như củ bình vôi, quế chi, rễ đinh lăng khô và vài cành hoa hồi Lạng Sơn.
Thanh Long Văn Kiếm bọc trong ba lớp bao tải gai rách rưới, giắt chìm dưới đáy gùi thuốc, chỉ để lộ chiếc chuôi kiếm quấn dây đay xơ xác tựa như chiếc cán cuốc cùn của người làm vườn. Lý Quân khẽ vận chuyển cơ bắp trên toàn thân. Khung xương bách đúc của hắn khẽ thu hẹp lại nửa tấc, tấm lưng thẳng tắp hơi còng xuống, hai đầu gối hơi chùng, biến vóc dáng một thanh niên vạn chài uy dũng thành một gã đan sư giang hồ nghèo khó, khập khiễng lê bước mưu sinh giữa chốn biên viễn hoang vu. Lúc này, trên cõi đời không còn người áo nâu Lý Quân, cũng chẳng còn lão ngư Tư Sẹo chốn biển khơi, mà chỉ có một gã đan sư áo tơi lam lũ mang danh Lý Giang Điền.
Rời khỏi bến nước hoang vắng, Lý Quân men theo con đường mòn lởm chởm đá tai mèo dẫn lên trục dịch đạo chính. Càng đi sâu vào lòng thung lũng, mùi hoa hồi càng thêm nồng nặc. Từng làn gió bấc thổi qua rừng cây, làm rung rinh hàng vạn cánh hoa hình sao, phả vào không gian một mùi hương cay cay, ngọt ngọt, nồng ấm lạ kỳ. Mùi hương ấy xua tan đi phần nào cái buốt giá cắt da cắt thịt của sương muối, nhưng lại không giấu nổi mùi tanh nồng của máu và lưu huỳnh đang âm ỉ bay tới từ phía hẻm núi Quỷ Môn Quan đằng xa. Chưa đi được năm dặm, trước mắt Lý Quân đã xuất hiện một trạm gác dã chiến được dựng bằng những thân gỗ lim đen kịt chắn ngang con đèo độc đạo.
Trên trạm gác, bốn gã tu sĩ mặc trường bào màu lam thêu hoa văn mây tuyết — y phục đặc trưng của đệ tử ngoại môn Bắc Cực Hàn Thiên Tông — đang khoanh tay đứng nhìn xuống với ánh mắt kiêu căng, ngạo mạn. Dưới chân đèo, hơn hai mươi tên thổ phỉ bản địa thuộc sơn trại Ma Nhai, tay lăm lăm giáo mác sáng loáng và gậy sắt có ngạnh, đang hung hãn quát tháo, chặn bắt đoàn người phàm và dân buôn bán qua ải.
"Đứng lại! Dỡ toàn bộ gùi hàng xuống kiểm tra!"
Một tên thổ phỉ mặt sẹo, râu ria xồm xoàm gõ mạnh cán giáo xuống phiến đá ven đường, phát ra tiếng kêu chan chát chói tai.
Trước mặt hắn, một bà mế người Tày già nua, lưng còng rạp dưới gùi nếp nương nặng trĩu, đang run rẩy van lơn:
"Lạy các quan lớn... Già chỉ mang ít gạo nếp nương sang chợ bản đổi lấy mấy thang thuốc cho đứa cháu đang sốt rét... Xin các quan thương tình..."
"Thương tình cái con khỉ mốc! Lệnh của Thượng nhân Ma Nhai ban xuống: Toàn bộ gạo nếp, lương khô, quặng sắt của dân bản đều phải sung công phục vụ đại trận! Lũ tiện dân các ngươi biết gì mà lải nhải!"
Tên mặt sẹo hung tợn vung chân đá thẳng vào chiếc gùi mây của bà lão! XOẢNG... RÀO...! Chiếc gùi tre rách toác, từng hạt gạo nếp nương trắng ngần, thơm mùi nương rẫy văng tung tóe khắp nền đất đỏ bùn lầy, bị bàn chân dẫm đạp của đám lính canh nghiền nát thành bột vụn. Bà cụ ngã chúi về phía trước, hai bàn tay gầy guộc run rẩy bới từng vốc đất bùn để nhặt nhạnh từng hạt gạo rơi vãi, nước mắt lăn dài trên đôi gò má nhăn nheo như vỏ cây rừng.
Cách đó không xa, một đoàn phu phen gầy trơ xương, trần lưng mang những tảng đá vôi lớn và những thanh quặng sắt nguội dài cả trượng, đang lầm lũi bước đi dưới những lằn roi da quất vun vút của đám sai nha. Bọn chúng đang gom quặng sắt và đá tảng đưa thẳng lên đỉnh vách đá Ma Nhai hẻm Chi Lăng. Đứng giữa đám đông, hai hàm răng Lý Quân khẽ siết lại, lồng ngực hắn dâng lên một cơn sóng giận dữ ngút ngàn. Nhưng đạo tâm bần nông tôi luyện qua muôn trùng bão tố lập tức ghìm chặt bước chân hắn lại. Không được manh động. Kẻ đại trí không vì giận nhất thời mà làm hỏng đại cục non sông!
Hắn giả vờ ho sù sụ từng cơn khàn đặc, hai vai rụt lại trong manh áo tơi xơ xác, bước chân khập khiễng tiến lại gần chỗ bà mế đang ngồi khóc. Hắn cúi người xuống, vờ như run rẩy nhặt giúp bà lão chiếc nẹp gùi tre gãy, nhưng bàn tay thô ráp của hắn đã khéo léo nhét kín vào tay bà một củ gừng đá Tây Bắc ấm nóng cùng một thỏi bạc vụn được bọc kín trong lớp lá chuối khô.
"Mế cầm lấy, men theo khe suối cạn bên hữu mà về bản ngay đi. Đừng lên chợ nữa." — Lý Quân khẽ thì thào bằng tiếng địa phương mộc mạc, giọng trầm ấm như tiếng gió thổi qua vách nứa.
Bà mế ngẩng đầu lên. Nhìn thấy ánh mắt kiên định, ấm áp sau vành nón rách tươm của người thanh niên xa lạ, bà khẽ run lên một cái, bàn tay nắm chặt lấy củ gừng đá ấm sực, lặng lẽ gật đầu rồi lau nước mắt, lủi nhanh vào rừng hồi rậm rạp.
"Này! Thằng đan sư rách rưới kia, bò lại đây!" — Tiếng quát the thé của tên thổ phỉ mặt sẹo cắt ngang dòng suy nghĩ của Lý Quân.
Lý Quân còng lưng bước tới, vờ như sợ sệt cúi gập người xuống, hai tay run lẩy bẩy tháo chiếc gùi thuốc nam đặt xuống thềm đá:
"Dạ bẩm... bẩm các quan lớn... Kẻ hèn này họ Lý, vốn là thầy thuốc dạo chốn rừng sâu, gom được ít rễ cây củ bình vôi với hoa hồi mang lên bí thị Lạng Sơn đổi bát cơm đắp đổi qua ngày..."
Tên mặt sẹo thô bạo thọc mũi giáo vào gùi mây, bới tung những bó thuốc nam tầm thường. Mùi tanh của lưu huỳnh và hàn khí từ trên trạm gác phả xuống, một tên tu sĩ Trúc Cơ tầng ba của Hàn Thiên Tông liếc mắt quét thần thức qua chiếc gùi tre. Dưới sự bảo hộ tuyệt đối của chiếc Nón Lá Lưu Ly và lớp bao tải gai tẩm bột Điệp Ngũ Sắc, thanh Long Văn Kiếm và chiếc túi da cá sấu bên hông Lý Quân hoàn toàn ẩn giấu linh lực, chỉ hiện lên như một thanh sắt rỉ và một chiếc túi đựng bùa chú phàm trần rẻ tiền.
"Hừ, toàn rễ cây cỏ rác thối tha!" Tên tu sĩ phương Bắc nhổ toẹt một bãi nước bọt xuống đất, giọng the thé vẻ khinh miệt: "Cõi Nam nghèo nàn mạt rệp, đan sư cái nỗi gì mà ăn mặc như ăn mày ăn xin! Lấy của nó ba mươi đồng tiền xâu rồi tống cổ nó đi!"
"Dạ dạ... xin đội ơn các quan lớn khoan hồng!"
Lý Quân khúm núm thò tay vào cạp quần, rút ra một xâu tiền đồng mòn vẹt, cung kính dâng lên bằng cả hai tay. Tên mặt sẹo giật phắt lấy xâu tiền, đá một cú vào bắp chân hắn:
"Cút mau! Nhớ đi theo đường cái, nếu bén mảng tới gần hẻm Quỷ Môn Quan thì đừng trách bọn ông băm xác cho kền kền rỉa thịt!"
"Dạ dạ, kẻ hèn này ghi lòng tạc dạ..."
Lý Quân vội vàng ôm lấy gùi thuốc, bước thấp bước cao vượt qua trạm gác. Khi bóng dáng trạm kiểm soát đã khuất sau một khúc cua hiểm trở của vách núi, ánh mắt lờ đờ, sợ sệt của người đan sư nghèo bỗng chốc đanh lại, sắc lẹm như lưỡi dao cạo. Hắn khẽ ngẩng đầu nhìn lên đỉnh vách đá Ma Nhai mù mịt sương đen phía trước. Mùi lưu huỳnh, mùi rỉ sắt và mùi tử khí của phù xương người đang ngày một nồng nặc. Long mạch non sông nơi Ải Chi Lăng quả nhiên đang bị giặc phương Bắc dùng độc thuật phong thủy tàn phá dữ dội!
Men theo một con suối cạn rêu phong phủ kín, Lý Quân rẽ ngoắt vào một khe nứt tự nhiên ăn sâu vào lòng một dãy núi đá vôi đồ sộ. Sau khi đi sâu vào lòng hang chừng ba trăm trượng, vượt qua hai lớp cấm chế cách âm và ẩn khí thô sơ do các tán tu địa phương giăng ra, một luồng hơi ấm ngai ngái hòa cùng ánh sáng vàng vọt của hàng trăm ngọn đèn dầu mù u bỗng ùa ra trước mắt. Đó chính là Bí thị Lạng Sơn — khu chợ đen tu chân lớn nhất vùng biên cương Đông Bắc, được hình thành tự phát bên trong một quần thể hang động đá vôi ngầm khổng lồ từ hàng trăm năm qua.
Không gian bên trong hang đá cao rộng tới hàng chục trượng. Vòm đá vôi nhũ rủ xuống lấp lánh như những dải lụa thạch nhũ, nhưng không khí thì ngột ngạt, mịt mù khói trầm hương, khói thuốc lào và mùi tanh nồng của máu thú tươi. Khắp lòng hang, hàng trăm tu sĩ đủ mọi thành phần đang tụ tập: những gã thợ săn yêu thú người Tày, người Nùng quấn khăn chàm sẫm, bên hông đeo nỏ gỗ lim và dao quắm bọc da trăn; những toán tán tu phu mỏ phong trần rách rưới; những thương nhân phương Nam từ Gia Định, Cửu Long mang theo ngọc trai, dầu tràm; và cả những kẻ buôn đồ cổ đào trộm từ các ngôi mộ đá viễn cổ. Mọi người đều trùm kín mặt bằng khăn vải hoặc áo tơi, thì thào trao đổi hàng hóa bằng những ánh mắt đầy cảnh giác, đa nghi.
Lý Quân tìm một góc đá ẩm ướt gần vách hang, trải một tấm chiếu rách ra mặt đất, rồi bày lên đó vài bó rễ đinh lăng khô, củ bình vôi và ba chiếc lọ đất nung nhỏ bé. Hắn khẽ mở nắp một chiếc lọ sành. Một mùi thơm thảo mộc ấm nóng nồng đượm lập tức tỏa ra — đó là mùi của những viên Xích Dương Hoàn do chính tay hắn luyện chế từ gừng đá Tây Bắc và dược thảo cõi Nam. Chỉ trong chốc lát, hơi ấm của đan dược nhiệt đới đã thu hút sự chú ý của vài ba gã tán tu săn thú đang run cầm cập vì nhiễm hàn độc sương muối.
"Này đạo hữu, đan dược này luyện từ vị gì mà ấm nóng lạ kỳ thế này?" Một gã thợ săn trung niên quấn khăn chàm bước tới, xoa xoa đôi bàn tay nứt nẻ, cất giọng khàn khàn hỏi.
Lý Quân khẽ ngẩng đầu, cố ý hạ giọng khàn đục như người già:
"Là Xích Dương Hoàn gia truyền của phường đan sư áo tơi xứ Thanh. Uống vào một viên, xua tan hàn độc sương muối ba ngày ba đêm, kinh mạch ấm áp như ngồi bên bếp lửa. Đổi lấy linh tài hoặc cổ vật đào từ lòng đất, không lấy bạc vụn."
"Tốt quá! Ta đổi cho ngươi hai khúc sừng mang ngàn năm, một túi mật trăn đá, và gán thêm cây Cung Gỗ Lim tháo khớp gia truyền của phường săn Chi Lăng này nữa! Cung đẽo từ gỗ lim đá ngâm dầu trẩu, ngàm khóa ở giữa bọc đồng thau tháo rời làm hai khúc, tiện gài dọc sườn gùi, vừa tầm để đan sư các ngươi đi rừng phòng thân!"
Gã thợ săn mừng rỡ, lập tức đặt đồ đổi lấy hai viên đan dược rồi vội vã nuốt một viên vào bụng. Chỉ vài hơi thở sau, sắc mặt tái mét của gã bỗng hồng hào trở lại, một luồng nhiệt khí bốc lên nghi ngút từ đỉnh đầu gã, làm những người xung quanh không khỏi liếc nhìn với vẻ thèm thuồng. Lý Quân nhận lấy hai khúc cung lim đen nhánh, khéo léo gài dọc vào hai bên nan sườn của chiếc gùi tre.
Lợi dụng lúc giao dịch, Lý Quân vờ như lơ đãng cất tiếng hỏi:
"Đạo hữu từ trên mạn Quỷ Môn Quan xuống à? Nghe nói trên đó dạo này động tĩnh ghê gớm lắm, quan quân cấm đường ráo cả?"
Gã thợ săn giật mình, vội nhìn quanh rồi hạ giọng thì thào:
"Ngươi là người phương xa tới, tốt nhất đừng có dại mà mò lên đó! Giặc Bắc Cực Hàn Thiên Tông đang phối hợp với lũ thổ phỉ Ma Nhai phong tỏa toàn bộ hẻm núi Quỷ Môn Quan. Nghe nói chúng bắt hàng ngàn dân phu đúc cọc sắt đóng sâu xuống suối ngầm để lập đại trận gì ghê gớm lắm, hút cạn linh khí làm cây rừng chết khô hàng loạt!"
"Thế môn phái bản địa cõi Nam ta không ai can thiệp sao?" Lý Quân hỏi dồn.
"Có chứ!" Gã thợ săn chép miệng, giọng lộ vẻ xót xa: "Mấy hôm trước, một toán đệ tử của Tứ Phủ Đạo Tông do một vị tiên tử áo lam dung nhan tuyệt mỹ dẫn đầu đã xông vào phá trận. Nhưng lũ giặc quá đông, lại có Hắc Băng Thượng Nhân bày bẫy ma phục kích! Nghe đâu toán người của vị tiên tử kia đã bị vây khốn trên đỉnh vách đá Dựng Đứng hẻm Quỷ Môn Quan ba ngày nay rồi! Lương thảo cạn kiệt, phù lục sắp hết, lại bị hàn khí bao vây... e rằng khó lòng sống sót qua đêm trăng tròn tới đây!"
Hàn Bân Cơ! Quả nhiên là nàng! Bàn tay Lý Quân trong tay áo khẽ siết chặt lại. Cảm xúc trào dâng, nhưng nét mặt người đan sư áo tơi vẫn giữ nguyên vẻ trầm mặc, lặng lẽ gật đầu cảm tạ rồi thu dọn sạp thuốc.
Sau khi gã thợ săn rời đi, Lý Quân khoác gùi mây, lững thững dạo quanh khu chợ ngầm để tìm kiếm mục tiêu cốt tử nhất của chuyến thâm nhập này. Từ sau khi liều mình ghép nối Mảnh Tâm Điềm Lạc và Mảnh Vành Ngoài Hải Nhược dưới rãnh sâu Bạch Long Vĩ, Thần Khí Trống Đồng trước ngực tuy đã thức tỉnh năng lực ngưng tụ hai giọt linh dịch theo chu kỳ Sóc – Vọng thuần Việt, nhưng khẩu quyết Cửu Long Hỗn Độn Quy Chân Quyết khắc trên thân trống lại bị đứt gãy một tầng then chốt: Tầng kết nối giữa Thuần Dương Thần Hỏa (vầng Mặt Trời) và Chí Âm Chân Thủy (đoàn thuyền vượt sóng).
Hai dòng linh lực đối nghịch như nước với lửa, nếu không có pháp môn trung hòa bằng Thổ tính phù sa bản địa thì mỗi lần vận công, đan điền hắn sẽ đau đớn như bị xé rách! Hắn bắt buộc phải săn lùng các đồ đồng phỏng chế hoặc bản rập cổ truyền của Khâm Thiên Giám thời viễn cổ lưu lạc trong dân gian để tự mình điền khuyết tầng công pháp này. Đi đến tận cùng góc hang đá tối tăm và ẩm ướt nhất, nơi rêu xanh bám dày đặc trên những tảng đá vôi sứt mẻ, bước chân Lý Quân bỗng khựng lại.
Tại một góc khuất sát vách hang rỉ nước, một lão già mù lòa, tóc tai bù xù như tổ quạ, trên người khoác một manh chiếu rách rưới đang ngồi co ro bên một đống đồ phế liệu gỉ sét. Trước mặt lão bày la liệt những mảnh gốm vỡ, rìu đá cùn, mũi tên đồng xanh xỉn và vài cuộn giấy mục nát đào từ các hầm mộ đá cổ chốn rừng thiêng nước độc.
"Lão trượng... đống giấy mục này bán thế nào?" — Lý Quân ngồi xổm xuống, cất giọng khàn đặc hỏi.
Lão già mù khẽ giật giật đôi tai, chiếc mũi khoằm như mỏ kền kền khẽ hít hà một hơi, rồi cười khẩy một tiếng the thé:
"Mùi gừng đá... ngươi là gã đan sư vừa bán Xích Dương Hoàn ngoài kia? Đống giấy này là đồ tùy táng đào từ một ngôi mộ đá đời Hùng Vương trên đỉnh Mẫu Sơn. Đã mục nát gần hết, chữ nghĩa chẳng đọc nổi, nhưng có một cuộn giấy dó vẽ bằng chu sa ngàn năm không phai. Đổi năm viên Xích Dương Hoàn, bằng không thì dẹp đi!"
Lý Quân không hề trả giá. Ánh mắt hắn dưới vành nón rách đã dán chặt vào một cuộn giấy dó ngả màu vàng sậm, mép giấy xơ xác như mạng nhện nhưng ở giữa lại bừng lên một vệt chu sa đỏ thắm như máu tươi! Hắn rút từ trong ngực áo ra chiếc lọ sành, đổ đúng năm viên Xích Dương Hoàn vào bàn tay khẳng khiu như cành củi khô của lão già mù, rồi cẩn trọng nhấc cuộn giấy dó lên. SOẠT...!
Hai bàn tay thô ráp của Lý Quân khẽ mở hé cuộn giấy trong bóng tối mờ ảo của góc hang. Đập vào mắt hắn là một bức đồ hình rập bằng chu sa đỏ rực trên nền giấy dó cổ truyền ngàn năm của Khâm Thiên Giám! Bức vẽ mô tả tỉ mỉ hoa văn của một chiếc trống đồng viễn cổ: Ở trung tâm là vầng Mặt Trời mười hai tia sáng tỏa nhiệt ngút trời, bao quanh là đàn chim Lạc bay ngược chiều kim đồng hồ, và ngoài cùng là đoàn thuyền chiến mũi én đuôi cong đang lướt trên muôn trùng sóng dữ.
Thế nhưng, điểm khiến trái tim Lý Quân đập thình thịch từng hồi chấn động chính là dải hoa văn trung gian nối liền giữa vầng Mặt Trời và đoàn thuyền:
Đó là những vòng tròn xoắn ốc kép đồng tâm và hoa văn hình hạt thóc, hình bông lúa nước cách điệu!
Dọc theo các vòng xoắn ốc kép ấy, từng hàng ký tự chữ Khoa Đẩu cổ xưa được ghi chú bằng chu sa đỏ thẫm:
"Hỏa sinh Thổ, Thổ dưỡng Kim, Kim sinh Thủy... Lấy Phù Sa hạt thóc làm cầu nối, lấy Đất Mẹ bờ xôi ruộng mật làm gốc rễ trung hòa... Nước lửa dẫu nghịch, gặp Thổ liền hóa thành bùn non nuôi dưỡng vạn vật sinh linh... Đạo của cõi Nam là đạo nông tang, hòa hợp âm dương trong từng hạt gạo...!"
ẦM...! Tựa như một tiếng sấm sét nổ vang giữa đêm giông bão, toàn bộ những bế tắc, nghi hoặc đè nặng trong tâm trí Lý Quân suốt từ đáy biển Bạch Long Vĩ đến nay bỗng chốc tan biến như mây khói! Đúng rồi! Tại sao hắn lại cố chấp tìm kiếm một pháp môn cao siêu xa vời ở tận đâu đâu, trong khi chân lý tối thượng của công pháp Trống Đồng cõi Nam lại nằm ngay trong chính bản sắc ngàn đời của dân tộc Lạc Việt?! Mặt Trời là Hỏa, Biển Cả là Thủy. Thứ duy nhất có thể dung hòa giữa ánh nắng chói chang của trời cao và dòng nước mặn mòi của biển cả chính là Phù Sa của những dòng sông lớn — là Thổ tính thuần hậu, bao dung của đất mẹ phù sa nuôi lớn những hạt lúa nếp nương!
Chỉ cần lấy linh lực Thổ hệ phù sa trong đan điền làm chiếc cầu nối ở giữa, chân dịch Thuần Dương Hổ Phách và chân dịch Chí Âm Lưu Ly sẽ không còn xung đột tiêu diệt lẫn nhau, mà sẽ tuần hoàn sinh sôi, biến thể phách hắn thành một khối kim cương ngũ hành bất hoại!
"Đa tạ tiền nhân cõi Nam chỉ lối..."
Lý Quân thì thầm trong lòng, cẩn thận cuộn chặt bức bản rập chu sa bằng giấy dó lại, cất sâu vào lớp áo lót sát da thịt. Đúng lúc ấy, chiếc túi da cá sấu bên hông bỗng rung lên nhè nhẹ. Soạt... soạt... keng! Chuột chúa Hắc Tí từ đáy túi ngoi chiếc đầu nhỏ lên. Hai con mắt đỏ au như hạt cườm của nó chớp lia lịa, hai chân trước cào cào vào vạt áo Lý Quân, chiếc mõm nhỏ chỉ thẳng xuống một khe nứt vỉa đá ngầm tối om dưới chân vách thạch động. Từ khe nứt ấy, một luồng tử khí tanh nồng mùi máu người và mùi sắt rỉ ẩm mốc đang bốc lên ngùn ngụt.
Hắc Tí đã ngửi thấy! Dưới lòng đất đá vôi này có một mạch hang ngầm ăn thông thẳng lên thung lũng đá tai mèo của Ải Chi Lăng — nơi bảy chiếc cọc sắt Ma Nhai Đoạt Mạch Đinh đang ngày đêm cắm sâu vào long mạch non sông!
Lý Quân khẽ mỉm cười, vỗ nhẹ lên đầu con thú nhỏ:
"Tốt lắm, bạn nhỏ. Đêm nay, chúng ta đi nhổ cọc cứu người!"
Hắn siết chặt quai gùi thuốc, kéo sụp vành nón lá che khuất ánh mắt lạnh buốt như gươm tuốt trần, quay người bước nhanh về phía cửa hang ngầm, hòa mình vào màn sương muối mịt mùng của núi rừng biên ải Chi Lăng.
THƠ KẾT CHƯƠNG:
Cửa ải sương giăng khuất dặm ngàn,
Rừng hồi gió bấc buốt trần gian.
Bầu gai đan sĩ gom phương thuốc,
Nón rách lữ nhân vượt hiểm nan.
Bản rập chu sa soi dấu cổ,
Hang ngầm chuột chúa lách sương tan.
Lòng son giữ vững tình sông núi,
Biên giới Chi Lăng định thái an.
Thảo luận
Bình luận chương
0 bình luận
Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên bình luận chương này.