Nam Thiên Tu Tiên Truyện

Quyển 1: Bến Vạn Chài & Sóng Gió Tiêu Trang

Chương 83: Bãi Cọc Bọc Sắt Chờ Giặc Trên Sông Bạch Đằng

Đăng: 16/09/2026 16:18 5,783 từ 36 lượt đọc

Gió bấc từ phương Bắc tràn xuống mang theo hơi muối mặn chát của biển khơi và cái buốt lạnh cắt da cắt thịt của những ngày cuối thu. Dưới làn sương mù dày đặc phủ kín cửa sông Bạch Đằng, con thuyền nan chở hai bóng người lặng lẽ rẽ sóng cập vào doi cát hoang vắng thuộc vùng Yên Hưng. Chiếc Nón Lá Lưu Ly kéo sụp xuống quá trán, Lý Quân đứng ở mũi thuyền, hai bàn chân trần bám chặt vào be gỗ ướt sũng. Manh áo nâu bạc phếch ướt đẫm sương đêm, dính sát vào lồng ngực gầy guộc nhưng săn chắc như gỗ lim ngâm bùn. Hắn rời khỏi kinh thành Thăng Long ngay trong đêm rằm, sau khi tiếng chuông trên tháp Báo Thiên vừa dứt hồi thứ chín.

Không một lời từ biệt với các vị cự đầu tông môn, không một bước chân bước vào những phủ đệ tráng lệ bên hồ Lục Thủy. Đối với một đứa con sinh ra từ bùn đất bãi bồi Bến Vạn, chốn kinh kỳ phồn hoa rực rỡ kia tuy ngập tràn cơ duyên, nhưng cũng chính là cái bẫy giăng sẵn đầy nanh vuốt. Đổng Vạn Trình đã đền mạng, Bàng Vĩ gãy tay, thế lực của Bùi gia tạm thời lùi vào bóng tối, nhưng ánh mắt thèm thuồng và sự kiêng dè của những con cáo già nghìn năm chốn đạo môn kinh kỳ thì chưa bao giờ nguội lạnh. Ở lại Thăng Long làm Thượng Khách Trưởng Lão chẳng khác nào tự trói mình vào cột đá giữa bầy thú đói.

Rút lui đúng lúc, nương theo con nước xuôi về phương Đông, ấy mới là sự tỉnh táo tột cùng của một kẻ săn mồi dày dạn. Hàn Bân Cơ ngồi ở khoang giữa, chiếc áo choàng lông màu tuyết trắng đã được thay bằng tấm áo vải chàm sẫm màu của một cô gái lái đò miền duyên hải. Thanh cổ kiếm bên hông nàng được bọc kín trong lớp bao bố gai xù xì, thoạt nhìn chỉ như một khúc củi đòn gánh tầm thường. Nàng nhìn tấm lưng trần dầm dãi sương gió của Lý Quân, trong đôi mắt phượng trầm mặc thoáng hiện lên một tia cảm khái khó tả.

Từ lúc rời bến Đông Bộ Đầu, vượt sông Đuống rồi xuôi theo dòng sông Lục Đầu đổ về hạ lưu Bạch Đằng, Lý Quân trước sau chỉ xưng danh là "Lý Giang Điền" – một gã bạn thuyền chở muối từ miền biển. Ngay cả khi đối diện với các trạm tuần tra của quan binh Đại Việt dọc bờ sông, hắn cũng chỉ móc ra vài đồng tiền kẽm han rỉ cùng tấm thẻ bài thợ chài rách mép, khúm núm cúi đầu dạ thưa đúng phép của một kẻ dân đen lam lũ. Sự kiên nhẫn và kín kẽ ấy, người phàm không thể có, mà tu sĩ cậy tài ngạo vật chốn tiên môn lại càng không bao giờ làm được.

"Lý huynh." Bân Cơ khẽ cất tiếng, giọng nói trong trẻo như tiếng chuông ngọc rơi trên mặt băng, nhưng âm lượng được ghìm xuống cực thấp, chỉ đủ cho hai người nghe thấy. "Phía trước ba dặm là bến Yên Hưng. Khâm Thiên Giám Chánh Tiên Sư Trần Đạo Hiền đã mang theo ba mươi đệ tử nội môn đến đó từ chiều qua. Bọn họ đang kết hợp với thủy quân tiền triều dựng trận mai phục. Huynh thực sự không muốn ra mặt gặp Chánh Tiên Sư sao?"

Lý Quân không quay đầu lại, đôi mắt đen sâu thẳm vẫn chăm chú dõi theo từng gợn sóng đục ngầu cuộn xoáy dưới mạn thuyền. Hắn nâng dầm chèo gỗ lên, khẽ lắc cổ tay một cái, con thuyền liền trượt êm ru vào một rạch nước cạn đầy sú vẹt, che khuất hoàn toàn tầm nhìn từ lòng sông lớn.

"Gặp để làm gì?" Lý Quân nhàn nhạt đáp, ngữ điệu phẳng lặng không gợn sóng. "Trần Đạo Hiền là quan triều đình, cai quản Khâm Thiên Giám, sau lưng ông ta là vương pháp và hoàng tộc. Còn Lý mỗ chỉ là một tán tu rách rưới, một kẻ chạy thuyền kiếm bát cơm qua ngày. Ở Thăng Long, ta ném ba chiếc cọc đồng Đoạt Mạch Đinh ra giữa điện Thần Quy là để trả nợ ân tình với mảnh đất kinh kỳ, dập tắt tai họa long mạch, chứ không phải để bán thân cho triều đình làm con cờ xung trận. Lần này đến Bạch Đằng, ta chỉ muốn xem hạm đội tà tu phương Bắc lợi hại đến mức nào, nhân tiện mượn sát khí nơi chiến địa để mài giũa đạo tâm."

Hắn dừng lại một nhịp, bàn tay thô ráp sờ lên ngực áo – nơi Mảnh Trống Đồng Điềm Lạc vẫn đang tỏa ra luồng hơi ấm vô hình áp chặt vào da thịt:

"Hơn nữa, người đời thường nói: 'Tiên - Phàm cách biệt như trời với vực'. Nhưng ở mảnh đất này, khi giặc ngoại bang tràn tới, ranh giới ấy rốt cuộc chỉ mỏng manh như một dải sương mai. Nàng nhìn ra ngoài bãi sông kia mà xem."

Bân Cơ khẽ vén vành nón mê, đưa mắt nhìn qua khe lá sú vẹt. Cảnh tượng trước mắt khiến tâm thần vị đệ tử chân truyền của Tứ Phủ Đạo Tông bỗng chốc rung động mãnh liệt. Đó không phải là chiến trường rực rỡ hào quang pháp bảo hay rền vang tiếng thần chú của giới tu chân. Trải dài ngút ngàn tầm mắt dọc theo bãi bồi cửa sông Bạch Đằng, dưới làn mưa phùn rả rích và gió lạnh cắt thịt, là cảnh tượng lao động khổng lồ, bi tráng của hàng vạn con người trần thế.

Đại đa số bọn họ – đến mười phần có chín – là những người lính chân đất, những phu phen bần nông và dân chài lưới nghèo khổ tụ họp từ khắp các châu huyện miền Hải Đông, An Bang, Đông Triều. Bọn họ hoàn toàn không biết gì về tiên nhân, chẳng hay biết gì về Trúc Cơ hay Kim Đan, và càng không hề hay biết rằng sâu thẳm trong đại quân giặc đang vượt biển kia có những tà tu ngự khí phi hành, nắm giữ yêu thuật dời non lấp bể. Trong mắt những người nông dân mặc áo tơi lá này, giặc đến nhà thì đàn bà cũng đánh, giặc cậy thuyền to giáp sắt thì phải dùng mồ hôi, gân cốt và sự am hiểu luồng lạch non sông để chôn vùi chúng xuống đáy biển sâu!

Hàng ngàn cây gỗ lim, táu, sến, nghiến khổng lồ – những cổ thụ nghìn năm được đốn hạ từ rừng già Yên Tử và vòng cung Đông Triều – đang được kết thành từng bè lớn kéo xuôi theo dòng nước. Cây nào cây nấy thẳng tắp, đường kính to bằng cả vòng tay người ôm, thân gỗ chắc nịch, nặng trịch đến mức chìm nghỉm dưới nước.

Dọc bờ sông, hàng trăm lò rèn dã chiến rực lửa đỏ rực cả một góc trời. Tiếng búa đập đe chan chát, tiếng bễ thổi phì phò hòa cùng mùi than đá khét lẹt và mùi sắt nung cháy đỏ rực. Hàng trăm người thợ rèn mình trần trùng trục, da dẻ đen nhánh bóng nhẫy mồ hôi dù trời đang rét buốt, đang miệt mài đập búa, tôi rèn những mũi sắt hình búp sen hoặc mũi giáo ba khía nhọn hoắt. Mỗi đầu cọc sắt nặng tới vài chục cân, sắc lẹm, được đóng chặt vào ngọn các thân cây gỗ lim bằng những chiếc đinh sắt cỡ lớn.

Dưới lòng sông, khi con nước triều bắt đầu rút xuống để lộ ra những bãi bùn đen nhức nhối, hàng ngàn binh lính trần lưng lội bùn sâu ngang thắt lưng. Bọn họ dùng vồ gỗ lớn gõ chan chát, hò reo theo nhịp:

"Dô... tả! Dô... tả! Đóng cho sâu! Đóng cho chặt! Cho thuyền giặc đâm vào rách toạc mạn sườn!"

Tiếng hò dô trầm hùng vang vọng khắp khúc sông rộng, hòa vào tiếng sóng vỗ ì oạp vào bờ cát. Bàn chân họ giẫm đạp lên vỏ hà sắc nhọn cứa rách da thịt, máu đỏ ứa ra hòa vào bùn xám và bọt sóng mặn mòi, nhưng không một ai dừng tay. Ánh mắt của những người lính phàm trần ấy rực sáng một thứ ý chí sắt đá, kiên cường đến lạnh người.

"Gỗ lim bọc sắt..." Bân Cơ lẩm bẩm, ánh mắt lóe lên sự kinh ngạc sâu sắc. "Bọn họ... định dùng những cây cọc gỗ này để đâm thủng năm mươi chiến thuyền bọc sắt của giặc sao? Nhưng chiến thuyền của Bắc Vực dài tới hơn chục trượng, mạn thuyền bọc lá đồng dày hai tấc, lại có phù văn gia cố, sức nặng ngàn cân lướt đi như núi lở, cọc gỗ tầm thường làm sao cản nổi?"

Lý Quân khẽ nhếch mép gằn một tiếng, đôi mắt hắn lóe lên tia sáng sắc sảo của một kẻ sinh ra từ sông nước:

"Cọc gỗ không cản nổi, nhưng con nước triều của biển Đông thì cản nổi!"

Hắn bước xuống khỏi mạn thuyền, đôi chân trần giẫm lún sâu vào lớp bùn cát mịn màng ven bờ. Bùn lạnh buốt thấm qua kẽ ngón chân, nhưng lại mang đến cho Lý Quân một cảm giác thân thuộc đến tận xương tủy. Đây chính là mảnh đất nuôi dưỡng hắn lớn lên, từ những ngày theo cha Lý Lão Tam lặn ngụp cào hến trên sông Mã.

"Bân Cơ cô nương, tu sĩ các người quanh năm ngồi trên đỉnh núi cao ngắm mây ngắm gió, chỉ biết ngự kiếm trên chín tầng trời, nào có hiểu được tính khí của dòng nước." Lý Quân vừa bước đi trên doi cát, vừa trầm giọng nói. "Ở vùng biển Đông này, nước triều không lên xuống hỗn loạn, mà tuân theo quy luật 'nhật triều' vô cùng nghiêm ngặt. Mỗi ngày chỉ có một lần nước lớn và một lần nước ròng. Khi triều lên, nước biển dâng cao hơn hai trượng, cuồn cuộn tràn vào lòng sông, che lấp toàn bộ bãi cọc nhọn. Lúc ấy, mặt sông phẳng lặng mênh mông như biển hồ, chiến thuyền to lớn cỡ nào cũng có thể lướt đi êm ru."

Hắn ngồi xổm xuống, nhặt một cành sú gãy, vạch lên bãi cát ẩm ướt một hình vẽ uốn lượn:

"Nhưng một khi triều rút, nước biển rút đi cực kỳ mau lẹ, dòng chảy xiết như thác đổ về phía cửa vịnh! Chỉ trong vòng nửa canh giờ, mực nước có thể tụt xuống sâu hơn một trượng, để lộ ra những doi cát ngầm và bãi bùn lầy lội. Nếu cắm cọc thẳng đứng, khi thuyền giặc lướt tới theo triều ròng, đáy thuyền bằng phẳng có thể chỉ trượt qua ngọn cọc. Nhưng nếu cắm cọc nghiêng..."

Cành sú trong tay Lý Quân cắm phập xuống cát, chĩa mũi xiên nghiêng chếch về phía thượng nguồn:

"Cắm nghiêng theo chiều con nước chảy xiết! Khi thuyền giặc xuôi dòng tháo chạy, trọng lượng ngàn cân của chiến thuyền cộng với sức nước rút chảy xiết sẽ biến những chiếc cọc lim bọc sắt này thành những ngọn đại giáo xé toạc đáy thuyền! Càng giãy giụa, cọc càng đâm sâu, thuyền càng nhanh đắm!"

Hàn Bân Cơ nén một hơi dài, ánh mắt nhìn Lý Quân từ kinh ngạc chuyển thành sự thán phục tự đáy lòng. Nàng tuy là tu sĩ Trúc Cơ trung kỳ, đọc vạn cuốn kinh thư trong Tàng Kinh Các của Tứ Phủ Đạo Tông, nhưng những tri thức thực chiến mộc mạc, hiểm hóc và gắn liền với phong thổ non sông như thế này thì chưa từng một cuốn sách nào ghi chép! Đúng lúc ấy, phía trước bãi cọc bỗng vang lên tiếng quát tháo hỗn loạn.

Một toán quân hiệu phàm trần đang đứng quanh một bãi cát ngầm, nơi dòng sông chia làm hai nhánh tạo thành một bãi xoáy dữ dội. Một viên tướng trẻ mặc giáp sắt, tay cầm địa đồ da dê, trán nhăn tít lại đầy vẻ lúng túng:

"Khốn kiếp! Luồng lạch chỗ này sâu cạn thất thường, đáy sông toàn đá ngầm pha cát lún! Thuyền đóng cọc vừa neo vào đã bị dòng xoáy xoay tròn suýt lật! Không đóng cọc được ở đây thì giữa bãi sông sẽ hở ra một khoảng trống rộng hơn ba mươi trượng! Chiến thuyền giặc chỉ cần nương theo luồng lạch sâu này là có thể ung dung thoát hiểm ra biển khơi!"

Đám thợ lặn và dân chài xung quanh đều lắc đầu ngao ngán. Một lão ngư già run rẩy nói:

"Bẩm Tướng quân, chỗ này người vùng biển gọi là 'Luồng Chết'. Dưới đáy nước có ba hang ngầm thông ra lạch sâu, nước chảy ngầm xoáy như cối xay thịt. Người phàm lặn xuống chưa kịp cắm cọc thì đã bị nước cuốn đập đầu vào đá ngầm chết tươi rồi!"

Viên tướng trẻ nghiến răng ken két, nắm chặt chuôi kiếm trong tay, ánh mắt đầy vẻ bất lực. Lý Quân đứng sau rặng sú vẹt, khẽ liếc nhìn địa hình dòng nước. Thần thức Trúc Cơ của hắn phóng thích ra ngoài, âm thầm luồn lách xuống đáy dòng sông sâu thẳm. Trong chớp mắt, toàn bộ kết cấu của lòng sông Bạch Đằng – từ những tảng đá ngầm phủ đầy rêu xanh, những hốc cát sụt lở cho đến những dòng hải lưu nóng lạnh đan xen – đều hiện rõ mồn một trong tâm trí hắn.

Hắn khẽ kéo vành nón lá, quay sang Bân Cơ nói nhỏ:

"Đứng ở đây đợi ta."

Nói đoạn, Lý Quân sải bước đi thẳng về phía bãi cát ngầm. Manh áo nâu bạc phếch ướt sũng phất phơ trong gió lạnh, bước chân trần đạp trên sỏi đá nhẹ nhàng không một tiếng động.

"Ngươi là ai? Dân chài phương nào dám xông vào khu vực cấm quân dựng trận?" Một tên lính canh lập tức rút đao ra quát lớn, mũi đao sáng loáng chĩa thẳng vào ngực Lý Quân.

Lý Quân không hề né tránh, hắn chắp tay khom lưng, cất giọng khàn đặc mang đậm âm sắc vạn chài sông Mã:

"Bẩm Tướng quân, tiểu nhân là Lý Giang Điền, dân chạy thuyền buôn củi gỗ từ mạn ngược xuôi về. Nghe các vị quan tài bàn tán về dòng xoáy ngầm, tiểu nhân mạo muội xin thưa một lời."

Viên tướng trẻ quay phắt lại, ánh mắt sắc bén lướt qua người Lý Quân. Thấy người trước mặt chỉ mặc một manh áo nâu thô rách vá, chân trần dính đầy bùn đất, dáng vẻ gầy guộc chất phác của một kẻ cùng đinh, lửa giận trong mắt viên tướng thoáng dịu bớt, nhưng giọng điệu vẫn đầy vẻ nghi hoặc:

"Ngươi là kẻ buôn củi thì biết gì về thủy trận? Nơi này là chiến trường sinh tử của đại quân, không phải chỗ cho kẻ phàm phu lắm lời!"

Lý Quân khẽ mỉm cười, giọng nói vẫn từ tốn, rành rọt:

"Tiểu nhân không hiểu thủy trận của nhà binh, nhưng mười mấy năm lặn lội trên các con sông lớn, nước xoáy chỗ nào có cá ngạnh, cát lún chỗ nào có hến nằm, tiểu nhân đều nắm rõ trong lòng bàn tay. Vùng 'Luồng Chết' này nhìn thì hung hiểm, nhưng thực chất xoáy nước trên mặt là do ba hòn đá mồ côi nằm chồm hỗm dưới đáy tạo nên. Nước chảy từ ngã ba sông dồn về, va vào đá mồ côi nên mới cuộn ngược lên."

Hắn giơ ngón tay trỏ chai sần chỉ về phía doi cát nhô ra cách đó hai mươi trượng:

"Tướng quân không cần cho thuyền neo giữa dòng xoáy. Hãy cho người kéo bè cọc lên doi cát phía trên kia, nương theo dòng chảy thuận của con nước mà thả trôi bè cọc xuống. Khi bè trôi tới mép đá mồ côi, cho lính thả bốn chiếc mỏ neo sắt móc chặt vào kẽ đá ngầm. Lúc ấy bè sẽ tự khắc đứng im như bàn thạch giữa dòng! Sau đó, chỉ cần cắm sáu cây cọc lim dài bốn trượng, bọc mũi sắt nhọn hoắt, chĩa ngược vào tim dòng xoáy. Khi thuyền giặc tháo chạy theo luồng nước sâu, chính dòng xoáy này sẽ hút mũi thuyền của chúng đâm thẳng vào tim cọc sắt!"

Viên tướng trẻ nghe xong, sắc mặt bỗng chốc sững sờ. Gã mở to mắt nhìn theo hướng tay chỉ của Lý Quân, rồi cúi đầu đối chiếu với tấm bản đồ tác chiến trên tay.

Một lão ngư già bên cạnh đột nhiên vỗ đùi đánh đét một cái, reo lên thất thanh:

"Trời đất ơi! Đúng rồi! Lão già này sống ở bến Yên Hưng sáu mươi năm mà không nghĩ ra! Chỗ đá mồ côi ấy có một cái gờ đá tảng rất phẳng, neo thuyền vào đó thì bão to cũng không lay chuyển nổi! Vị tiểu ca này quả là mắt thần!"

Viên tướng trẻ ngẩng phắt đầu lên nhìn Lý Quân, trong ánh mắt đầy vẻ kính nể và cảm kích. Gã vội vàng chắp tay hành lễ theo phép nhà binh:

"Bản tướng là Đô úy tiền quân Lê Phong! Không ngờ giữa chốn thảo dã lại có được bậc kỳ tài am hiểu sông nước bực này! Dám hỏi Lý huynh đệ có muốn vào trướng làm Thủy Quân Tham Mưu, hưởng bổng lộc triều đình không?"

Lý Quân khẽ lùi lại nửa bước, cúi đầu đáp:

"Đa tạ thịnh tình của Tướng quân. Tiểu nhân chỉ là kẻ ăn hạt gạo của non sông, thấy giặc đến thì góp chút sức mọn của kẻ chèo đò mà thôi. Tiểu nhân còn có chuyến thuyền gỗ phải giao ở bến dưới, xin phép được cáo lui."

Nói xong, không đợi Lê Phong kịp giữ lại, Lý Quân đã xoay người thoăn thoắt sải bước đi vào màn sương mù mịt ven rặng sú vẹt. Bóng hình áo nâu nhanh chóng nhạt nhòa rồi biến mất sau những thân cây chàm cổ thụ, để lại viên tướng trẻ đứng ngơ ngẩn nhìn theo với tấm lòng đầy thán phục.

Trở lại bên con thuyền nan, Bân Cơ đã đứng đợi sẵn. Nàng nhìn hắn, khẽ cười nhạt một tiếng:

"Lý huynh thật khéo che giấu. Chỉ vài câu chỉ điểm mộc mạc đã bịt kín sơ hở chết người của toàn bộ bãi cọc ngầm. Nhưng huynh có nhận ra không? Phía trên bầu trời cửa biển... bắt đầu có biến rồi."

Sắc mặt Lý Quân lập tức đanh lại. Hắn ngẩng đầu nhìn lên khoảng không gian u ám phía trên cửa sông Bạch Đằng. Nơi đó, mây đen cuồn cuộn kéo về từ hướng biển Đông, dày đặc và u tối bất thường. Gió bấc thổi mỗi lúc một mạnh, nhưng trong luồng gió lạnh buốt ấy lại thoang thoảng mùi tanh nồng của máu và mùi thối rữa tanh tưởi của loài thủy quái dưới đáy vực sâu. Tầng Tu Chân Giới của cuộc chiến tranh hỗn hợp này... cuối cùng đã bắt đầu chuyển động!

Thần thức của Lý Quân khẽ động, hai tròng mắt hắn lóe lên một tia sáng xanh biếc mờ ảo. Xuyên qua làn sương mù dày đặc và những tầng mây xám xịt, hắn nhìn thấy rõ ràng: Ở độ cao hơn ba trăm trượng phía trên cửa biển, có hàng chục đạo u quang màu đen kịt đang lượn lờ bay lượn. Đó là những con "Huyết Mục Quỷ Nha" – loài quạ quỷ mắt đỏ được nuôi dưỡng bằng thịt người chết trôi của tà tu phương Bắc! Mỗi con quạ ngậm trong mỏ một viên Huyễn Quang Thạch, đôi mắt đỏ ngầu như hai hòn than cháy, đang điên cuồng quét tầm nhìn xuống từng ngóc ngách của bãi sông Bạch Đằng nhằm ghi nhận vị trí cắm cọc và cách bố phòng của quân dân Đại Việt!

Không chỉ có quạ quỷ trên không trung, mà dưới lòng sông sâu thẳm, dòng nước cũng bắt đầu có những dao động linh lực quái dị. Một luồng khí tức âm hàn, tanh tưởi đang từ ngoài biển Đông men theo đáy lạch nước sâu lén lút trườn vào cửa sông!

"Là 'Hắc Kình Doanh' – trinh sát thủy quái của Dạ Xoa Môn phương Bắc!" Hàn Bân Cơ thấp giọng cảnh báo, ngón tay ngọc đã siết chặt lấy chuôi kiếm bọc vải bố. "Bọn chúng cưỡi Hắc Lân Ngư bọc vảy sắt, lặn sâu dưới đáy bùn, chuyên dùng tà pháp rà soát chướng ngại vật dưới nước. Nếu để bọn chúng phát hiện ra bãi cọc ngầm bọc sắt và quay về báo tin cho hạm đội chiến thuyền, toàn bộ kế sách mai phục của quân dân ta sẽ tan thành mây khói!"

Đúng lúc ấy, từ một ngọn đồi cao ven bờ sông Yên Hưng, một đạo quang mang màu vàng đất đột ngột bốc lên không trung! Đó là tín hiệu từ doanh trại của Khâm Thiên Giám! Chánh Tiên Sư Trần Đạo Hiền cùng hơn ba mươi đệ tử nội môn của triều đình đã bắt đầu hành động. Bọn họ đồng loạt vận chuyển pháp lực, kết xuất ấn quyết, kích hoạt một tòa trận pháp khổng lồ: "Bát Quái Phong Sa Đại Trận"!

Một màn sương mù màu vàng nhạt bốc lên từ mặt đất, cuồn cuộn dâng cao hàng trăm trượng, hòa lẫn vào làn mưa phùn tự nhiên, tạo thành một bức bình phong khổng lồ phong tỏa hoàn toàn không gian trên không của bãi sông Bạch Đằng. Những con Huyết Mục Quỷ Nha vừa lao vào màn sương vàng liền kêu lên những tiếng quạ quạ chói tai, đôi mắt đỏ ngầu bị cát vàng ma sát làm mù lòa, mất phương hướng đâm sầm vào vách núi rơi lả tả xuống sông!

"Trần Đạo Hiền đã phong tỏa bầu trời." Lý Quân nheo mắt nhìn trận pháp của Khâm Thiên Giám, giọng nói lạnh tanh như băng tuyết. "Nhưng ông ta và đám tu sĩ kinh kỳ không biết rằng, mối nguy hiểm thực sự không nằm ở trên trời, mà nằm ở dưới đáy bùn lầy sâu thẳm!"

Thần thức nhạy bén của Lý Quân đã bắt được một luồng sát ý lạnh lẽo đang trườn tới cách bãi cọc ngầm chưa đầy năm mươi trượng. Dưới đáy nước đục ngầu, có ba bóng đen to lớn như những chiếc thuyền độc mộc đang lướt đi cực kỳ mau lẹ. Đó là ba con Hắc Lân Ngư – loài cá quỷ mình bọc giáp sắt, mắt phát ra ánh lân tinh xanh lét. Trên lưng mỗi con quái ngư là một gã tà tu phương Bắc mặc giáp da cá mập màu đen thẫm, tay cầm đoản kích ba chĩa, trên trán dán một lá bùa màu đỏ máu: "Thấu Thủy Tầm Long Phù"!

Lá bùa ấy đang phát ra những làn sóng linh lực vô hình quét qua lòng sông, và chỉ trong vài ba hơi thở nữa, toàn bộ trận địa cọc lim bọc sắt mà hàng vạn dân phu Đại Việt vừa đổ máu dựng nên sẽ bị ghi lại trọn vẹn vào ngọc giản truyền tin trong tay chúng!

"Bân Cơ, nàng ở lại thuyền giữ chặt trận cước, đề phòng biến cố trên bờ." Lý Quân dứt khoát ra lệnh, giọng nói mang theo uy áp nặng trịch của một Trúc Cơ Chân Nhân đích thực. "Ba con cá quỷ dưới đáy sông kia, giao cho ta!"

Không đợi Bân Cơ kịp đáp lời, Lý Quân đã cởi phăng manh áo nâu ngoài, để lộ thân hình vạm vỡ với những đường gân nổi cuồn cuộn như rễ cây cổ thụ. Hắn ngậm một đoạn ống sậy rỗng vào miệng, tay phải khẽ luồn ra sau lưng, rút thanh Long Văn Cổ Kiếm ra khỏi bao. Lưỡi kiếm đen thẫm không hề phát ra một tia sáng chói mắt nào, nhưng sát ý sắc lạnh thấu xương tủy đã được phong bế trọn vẹn bên trong lưỡi thép tôi rèn từ thiết tủy Sóc Sơn.

"Tùm!"

Một tiếng động cực nhỏ vang lên, nhỏ đến mức chỉ như một chú cá chép nhảy lên đớp bọt nước mùa thu. Thân hình Lý Quân lướt đi mềm mại như một con rái cá khổng lồ, chìm nghỉm vào dòng nước đục ngầu của sông Bạch Đằng rồi biến mất hoàn toàn không để lại một gợn sóng! Dưới đáy sông, bóng tối bao trùm đặc quánh. Nước sông pha muối mặn chát và buốt giá đến tê dại da thịt, tầm nhìn của mắt trần không quá ba tấc. Những dòng chảy ngầm hung dữ cuộn xoáy như muốn xé toạc bất kỳ sinh vật nào dám xâm nhập. Nhưng đối với Lý Quân, môi trường khắc nghiệt này chính là ngôi nhà thứ hai của hắn.

Vận chuyển Cửu Long Hỗn Độn Quy Chân Quyết, Chân Thủy bản nguyên trong Ngũ Hành Đạo Đài cửu tầng nơi đan điền của hắn khẽ xoay chuyển một vòng. Toàn bộ các lỗ chân lông trên cơ thể Lý Quân lập tức đóng kín lại, da thịt hắn tự động tiết ra một lớp màng linh khí mỏng dính trơn trượt, giúp hắn triệt tiêu hoàn toàn lực cản của dòng nước. Hắn không cần dùng tay chân để bơi, mà toàn thân uốn lượn nhịp nhàng theo từng nhịp thở của dòng hải lưu, lướt đi êm ru như một cái bóng ma dưới đáy vực!

Cách đó ba mươi trượng, tên tà tu phương Bắc đi đầu – một gã tu sĩ Luyện Khí tầng 11 – đang cưỡi trên lưng con Hắc Lân Ngư khổng lồ. Gã cầm ngọc giản trong tay, khóe mắt lộ vẻ đắc ý khi nhìn thấy những bóng cọc nhọn mờ ảo bắt đầu hiện ra trong tầm quét của lá bùa:

"Hừ, lũ giòi bọ Nam Man quả nhiên đang giở trò cắm cọc dưới nước! May mà Vu Sư đại nhân liệu sự như thần, phái Hắc Kình Doanh chúng ta đi tiền trạm rà soát... Đợi ta ghi lại toàn bộ phương vị bãi cọc này, hạm đội của đại soái sẽ nã hỏa pháo san bằng toàn bộ bờ sông này thành tro bụi..."

Gã đang mải mê rót linh lực vào ngọc giản, thì đột nhiên, con Hắc Lân Ngư dưới chân gã bỗng run rẩy dữ dội! Đôi mắt lân tinh xanh lét của con quái thú co giật liên hồi, vây lưng dựng đứng lên như gặp phải thiên địch thượng cổ!

"Súc sinh, làm sao thế..."

Gã tà tu giật mình quát khẽ một câu, nhưng lời chưa dứt, một bàn tay thô ráp, lạnh ngắt như thép nguội ngâm dưới đáy băng ngàn năm đã từ trong lớp bùn đen phía dưới thò lên, chuẩn xác bóp chặt lấy cổ họng gã! Một lực đạo kinh hoàng nặng tựa ngàn cân bùng nổ!

"Rắc!"

Tiếng xương cổ gãy vụn vang lên giòn giã dưới đáy nước! Gã tà tu phương Bắc trợn trừng hai mắt, con ngươi lồi hẳn ra ngoài đầy vẻ kinh hoàng tột độ. Gã điên cuồng vận chuyển chân khí hòng phát động linh phù hộ thân, nhưng toàn bộ kinh mạch trong người gã đã bị một luồng chân dịch hỗn độn sắc bén như dao cạo tràn vào phá hủy sạch sẽ đan điền!

Trước khi bóng tối vĩnh hằng ập xuống nuốt chửng lấy sinh mệnh, hình ảnh cuối cùng mà gã nhìn thấy là một khuôn mặt thanh niên gầy guộc, đôi mắt sâu thẳm lạnh lùng không một chút cảm xúc, và một lưỡi kiếm đen thẫm đâm phập xuyên qua tim con Hắc Lân Ngư! Máu đen và máu đỏ hòa lẫn vào nhau, bốc lên cuồn cuộn giữa dòng nước buốt giá! Hai tên tà tu đi phía sau lập tức nhận ra biến cố. Bọn chúng đều là những kẻ liếm máu đầu đao dạn dày trận mạc, lập tức thúc giục quái ngư bơi giật lùi lại, đồng thời giơ cao kích ba chĩa phóng ra hàng chục đạo lôi hỏa đen ngòm xé toạc dòng nước bắn về phía Lý Quân!

"Kẻ nào to gan dám cản đường Dạ Xoa Môn!" Một tên gầm lên truyền âm qua làn nước.

Lý Quân không thèm hé răng lấy nửa lời. "Con thú dữ đi săn trong đêm không bao giờ gầm lên trước khi cắn đứt cuống họng con mồi" – lời răn dạy từ những ngày săn thú dữ và lặn biển bắt thủy quái đã ăn sâu vào tủy não hắn.

"Vèo!"

Thân hình Lý Quân bỗng chốc mờ đi! Hắn không lùi mà tiến thẳng vào luồng lôi hỏa hung bạo. Bách Đúc Đông Sơn – bí thuật tôi rèn thể phách Lạc Việt kết hợp với gân cốt Pháp - Thể song tu của hắn bộc phát uy lực kinh người! Những đạo lôi hỏa tà thuật đánh trúng vào lồng ngực trần của hắn chỉ phát ra những tiếng "keng keng" chát chúa như búa nện vào đe sắt, chẳng thể làm rách nổi một lớp biểu bì!

Khoảng cách hai mươi trượng bị san bằng trong chớp mắt! Lý Quân vung kiếm! Một đường kiếm giản dị đến cùng cực, không hoa mỹ, không chiêu thức rườm rà. Đó là nhát chém chém cá ngạnh giữa dòng nước lũ, sắc lẹm, tàn nhẫn và dứt khoát như đao phủ chém đầu tội nhân!

"Xoẹt!"

Đầu của tên tà tu thứ hai cùng với nửa cái đầu lâu của con quái ngư bị chém đứt lìa khỏi cổ, trôi dạt lềnh bềnh trong làn bọt sóng đỏ ngầu! Tên tà tu cuối cùng – kẻ duy nhất đạt tu vi Trúc Cơ sơ kỳ – hồn xiêu phách lạc! Gã chưa từng thấy một tu sĩ nào lại có thể cận chiến dưới đáy nước hung hãn, tàn bạo và mình đồng da sắt đến mức quái đản như thế này! Nhận ra mình đã đụng phải sát tinh vô địch, gã không chút do dự, lập tức giật mạnh một đạo huyết phù dán lên ngực con cá quái, định mượn huyết độn đào tẩu về phía biển khơi!

"Chạy đi đâu?"

Lý Quân nhếch mép gằn lạnh. Bàn tay trái của hắn duỗi ra, năm ngón tay co lại thành hình móng vuốt rồng, Chân Thủy bản nguyên bùng nổ tạo thành một dòng xoáy ngầm khổng lồ hút chặt lấy đuôi con quái ngư! Cùng lúc đó, tay phải hắn vung ngược Long Văn Cổ Kiếm về phía sau rồi phóng mạnh ra như một ngọn lao săn cá voi!

"Vút!"

Thanh kiếm xé toạc dòng nước đục, cắm phập từ sau lưng xuyên thẳng qua lồng ngực gã tu sĩ Trúc Cơ, ghim chặt gã cùng con quái ngư vào một thân cọc lim bọc sắt dưới đáy sông! Máu tươi phun trào xối xả! Lý Quân lướt tới như một cơn gió ngầm, đưa tay giật lấy chiếc ngọc giản truyền tin và túi trữ vật bên hông gã tà tu, sau đó vung một chưởng nện nát bấy đầu lâu kẻ địch, không cho gã bất kỳ một cơ hội nào để tẩu thoát nguyên thần. Ba tên trinh sát sừng sỏ của Bắc Vực cùng ba con cự thú giáp sắt đã bị tiêu diệt sạch sẽ trong chưa đầy mười nhịp thở!

Lý Quân lẳng lặng dùng bùn đen dưới đáy sông vùi lấp toàn bộ thi thể và máu tanh của quân giặc xuống một hố cát lún sâu hoắm. Dòng nước sông Bạch Đằng lại tiếp tục cuộn chảy ầm ào, xóa sạch mọi dấu vết của cuộc phục kích đẫm máu vừa diễn ra. Khi Lý Quân trồi lên khỏi mặt nước bên mạn thuyền nan, sắc trời đã ngả về chiều muộn. Hắn với tay lấy manh áo nâu khoác lại lên người, mái tóc ướt sũng rũ rượi trên đôi vai gầy. Hắn thảy chiếc ngọc giản trinh sát đã bị phong ấn lên khoang thuyền trước mặt Hàn Bân Cơ, rồi thản nhiên cầm lấy ống điếu thuốc lào bằng tre nứa bên mạn thuyền, châm lửa rít một hơi dài khoan khoái. Khói thuốc thơm nồng tỏa ra, xua tan đi cái lạnh buốt của sương chiều duyên hải.

Bân Cơ cầm lấy ngọc giản, kiểm tra một lượt, bàn tay nàng khẽ run lên vì xúc động:

"Lý huynh... huynh đã cứu sống toàn bộ chiến cuộc này. Nếu để ngọc giản này lọt về tay tà tu phương Bắc, năm mươi chiến thuyền của giặc sẽ không bao giờ đi vào bãi cọc."

Lý Quân nhìn ra ngoài cửa biển mênh mông, nơi những đám mây đen đang ùn ùn kéo tới báo hiệu một trận cuồng phong bão táp sắp giáng xuống trần gian. Đôi mắt hắn phẳng lặng như mặt hồ nghìn năm, sâu thẳm và kiên định đến lạ kỳ:

"Trời sắp tối rồi. Nước triều bắt đầu dâng lên ngập bãi cọc."

Hắn nhả một làn khói trắng mỏng manh vào gió bấc, giọng trầm ngâm như lời tự sự với chính non sông đất mẹ:

"Ngày mai, khi con nước ròng rút cạn máu của hạm đội giặc, cũng chính là lúc chiếc bẫy này khép lại. Ta và nàng... hãy chuẩn bị cho một trận huyết chiến long trời lở đất!"

Dưới chân hắn, dòng sông Bạch Đằng ngàn năm vẫn cuộn sóng rì rào, ôm trọn lấy hàng vạn chiếc cọc lim bọc sắt đang ẩn mình trong lòng bùn cát, kiên nhẫn chờ đợi giờ khắc nghiền nát quân thù...


THƠ KẾT CHƯƠNG:

Hải Đông gió bấc giục ngàn dâu,
Sóng cuộn Bạch Đằng nhuộm sắc sầu.
Lim thắm vùi bùn chôn bẫy nhọn,
Sắt nung bọc mũi đợi thuyền đầu.
Mây mờ phong tỏa đường chim lượn,
Kiếm bén trừ tà đáy nước sâu.
Một tấc giang sơn ngàn giọt máu,
Áo nâu vững dạ lướt đêm thâu.

0