Nam Thiên Tu Tiên Truyện

Quyển 2: Huyết Chiến Nam Thiên

Chương 29: Ngược Dòng Sông Thương Lên Biên Ải

Đăng: 07/10/2026 22:42 4,118 từ 3 lượt đọc

Mặt nước cửa sông Bạch Đằng buổi sớm bừng lên một sắc đỏ quạch của dòng phù sa bồi đắp ngàn năm. Gió bấc cuối thu thổi qua những rặng sú vẹt xao xác, cuốn theo hơi mặn chát cuối cùng của trùng khơi biển Đông hòa lẫn vào mùi bùn non nồng đượm của đất liền. Từng đợt sóng đục ngầu vỗ vào mạn con thuyền nan cũ kỹ phát ra những tiếng bì bõm... oạp oạp quen thuộc. Dưới đáy thuyền, Lý Quân ngồi xếp bằng trên tấm chiếu cói đã sờn rách mép.

Trải qua ba ngày ba đêm thả mình trôi dạt trong dòng hải lưu xoáy ngược dưới đáy vực ngàn trượng rãnh biển Bạch Long Vĩ, thoát khỏi nhát kiếm kinh hồn bạt vía của lão quái Kim Đan Bắc Hàn Thần Quân, nhục thân của hắn lúc này đã hoàn toàn lột xác. Tám tầng Đạo Đài bằng hắc huyền thạch nơi Khí Hải đan điền vững chãi như tám bậc thềm đá hoa cương ngâm dưới chân núi Thần Đinh. Từng giọt chân dịch Thủy thuộc tính trong suốt, đậm đặc phù sa cuộn trào êm ả qua mười hai đường kinh mạch chính, không ngừng nuôi dưỡng những dẻ xương sườn vừa mới nối liền và từng thớ cơ bắp màu đồng hun rắn rỏi như thép nguội.

Trước ngực áo nâu thô rách, buộc chặt bằng sợi dây gai rừng áp sát huyệt Đản Trung, hai phiến đồng thau bọc trong ba lớp da cá mập đen dày dặn vẫn đang âm ỉ lan tỏa một làn hơi ấm dịu dàng.

Mảnh Tâm Trống Điềm Lạc mang hình Mặt Trời mười hai tia sáng và Mảnh Vành Ngoài Hải Nhược khắc hình đoàn thuyền chiến mũi én đuôi cong đã khớp nối vào nhau từ tâm ra vành. Không một kẽ hở, không một vết rạn, chỉ có tiếng mạch đập trầm hùng như nhịp thở của non sông đất mẹ Đại Việt, lặng lẽ điều hòa từng luồng linh khí trong lồng ngực hắn. Sát bên hông, hai chiếc Hàn Ngọc Bình dán chặt Phong Linh Phù đang cất giữ cẩn mật cặp linh dịch nguyên bản vừa thu hoạch dưới đáy biển: một giọt Hổ Phách thuần dương ấm nóng và một giọt Lưu Ly chí âm mát rượi. Đợi khi tới ngày Mồng Một đầu tháng tiếp theo vào giờ Chính Ngọ, hoặc đêm Rằm tới vào giờ Chính Tý, chu kỳ Sóc – Vọng ngưng tụ linh dịch của Thần Khí mới lại tiếp tục tuần hoàn.

Hắn khẽ mở mắt. Đôi mắt một mí vốn sắc lạnh như lưỡi dao cạo vạn chài lúc này chìm sâu vào sự tĩnh lặng, trầm mặc như đáy đầm nước không gợn sóng. Hắn vươn bàn tay thô ráp, chai sần bè bè nắm lấy cán mái chèo bằng gỗ nghiến bóng loáng nước mặn. Một cú khẽ vặn cổ tay, mái chèo cắm sâu vào dòng nước đục ngầu, mượn sức con nước triều đang bắt đầu dâng ngược vào bờ, đẩy nhẹ mũi thuyền nan rẽ sóng lướt đi.

Con thuyền nan nhỏ nhoi như một chiếc lá tre khô, lặng lẽ lách qua những rặng cọc gỗ lim bịt sắt nhô lên lởm chởm trên bãi cạn. Rêu xanh bám chặt thân cọc, hàu hà kết thành từng mảng xám xịt gồ ghề. Cứ mỗi lần ngắm nhìn những hàng cọc ngầm sừng sững ấy, trong lồng ngực đứa con bần nông sông Mã lại dấy lên một nỗi niềm bi tráng khôn nguôi. Đó là dấu tích của máu xương, của mồ hôi bao thế hệ dân chài vót gỗ bọc sắt giữ cõi trời Nam; cũng là đạo lý sinh tồn sắt đá mà hắn khắc cốt ghi tâm: đối diện với kẻ thù hùng mạnh vượt cấp, không bao giờ lấy trứng chọi đá, mà phải mượn chính địa hình hiểm trở và cạm bẫy cơ quan của sông núi quê hương để chôn vùi dã tâm của chúng.

Thuyền lướt êm ru qua ngã ba sông Chanh, bỏ lại sau lưng vùng duyên hải mịt mùng sóng gió, tiến vào luồng lạch êm đềm của sông Thái Bình. Rời khỏi cảnh ngột ngạt nghìn cân dưới đáy biển sâu tăm tối, khung cảnh bình dị của làng quê phàm trần dần dần mở ra hai bên bờ bãi. Những dải bãi bồi xanh mướt ngô non rập rờn trong gió; những rặng tre ngà ken dày rủ bóng mát rượi xuống mặt nước phẳng lặng; xa xa trên bờ đê đất đỏ, vài con trâu mộng chậm rãi gặm cỏ, cái đuôi ve vẩy xua ruồi muỗi, thỉnh thoảng cất lên tiếng nghé ọ trầm ấm xua tan bầu không khí u tịch của buổi sớm mai.

Làn khói bếp chiều hôm của những chòi chài ven sông bảng lảng bay lên, mang theo mùi rơm rạ ẩm ướt cháy dở, mùi cá mương kho tương ngai ngái quen thuộc đến thắt lòng. Mùi vị ấy len lỏi vào cánh mũi, khiến tâm hỏa rực cháy sau những trận huyết chiến dưới đáy biển của Lý Quân dần lắng dịu lại. Đạo tâm bần nông của hắn lại tìm về cội rễ bùn đất – nơi hắn đã sinh ra, đã lớn lên và nguyện đem cả tính mạng này để gìn giữ sự bình yên cho mái rạ cha mẹ già nơi bãi bồi Bến Vạn.

Từ sông Thái Bình, Lý Quân ghìm chèo, chuyển hướng mũi thuyền rẽ vào cửa sông Thương. Dòng sông Thương buổi chiều tà mang một vẻ đẹp trầm mặc và u uẩn lạ lùng. Nước sông cuộn chảy êm đềm, một bên bờ đục ngầu phù sa đỏ, một bên bờ trong vắt ánh rêu xanh, phẳng lặng soi bóng những rặng dâu tằm trải dài tít tắp. Thuyền nan ngược dòng con nước xiết, càng lên cao dòng chảy càng gắt, những bãi đá cuội ngầm bắt đầu lởm chởm xuất hiện dưới đáy nước sâu vài trượng. Đổi lại là một tu sĩ bình thường, việc chống thuyền ngược dòng thế này sẽ tiêu tốn không ít thể lực hoặc phải ngự kiếm phi hành cho nhanh chóng. Nhưng Lý Quân tuyệt đối không làm thế.

Hắn hiểu rõ, từ cửa sông Bạch Đằng lên đến mạn Lạng Sơn là hơn ba trăm dặm đường sông hiểm trở. Nếu phô trương ngự kiếm trên tầng không, ánh kiếm phát tán linh quang giữa ban ngày chẳng khác nào tấm bia sống mời gọi thần thức của trinh sát tà tu Hắc Băng Môn đang rải rác khắp các triền núi biên viễn. Cẩn trọng là gốc của trường sinh. Hắn chọn cách nép thuyền sát bờ lau sậy, thi triển một tia kình lực Nhu Thủy hòa vào từng nhịp khua chèo. Mái chèo nghiến cắm xuống nước không phát ra một tiếng động mạnh, con thuyền nan cứ thế lướt ngược dòng như một con rái cá ngầm rẽ sóng trong sương lam.

Mất đúng bốn ngày bốn đêm kiên nhẫn ngược dòng như thế. Đến chiều muộn ngày thứ tư, khi con thuyền nan vượt qua địa phận bến Lục Nam, tiến sâu vào thung lũng Hữu Lũng giáp ranh vùng rừng núi Lạng Sơn, cảnh sắc đôi bờ bắt đầu biến đổi dữ dội. Những rặng tre ngà đồng bằng nhường chỗ cho các rặng núi đá vôi sừng sững, xám ngắt như những mũi mác khổng lồ đâm toạc nền trời chiều ảm đạm. Không khí lạnh dần, mang theo mùi ngai ngái của rêu phong ẩm ướt và hương hồi thơm cay thoang thoảng từ các khe núi gió lùa xuống. Rột... rột... xoạt...

Đúng lúc này, từ bên hông chiếc áo nâu sờn cũ của Lý Quân, chiếc túi da cá sấu tẩm Thổ Tức Châu bỗng khẽ cựa quậy. Lý Quân khựng tay chèo, ánh mắt đanh lại nhưng khóe môi thoáng giãn ra. Đó là Hắc Tí – con chuột chúa Thiềm Độc Thử Vương mà hắn đã thu phục từ đồi Huyết Đằng họ Vũ nơi rừng sâu xứ Thanh từ những ngày còn ở Luyện Khí Kỳ. Hắc Tí thuộc Thổ hệ, bản tính vốn sợ nước biển mặn sâu và hàn khí băng giá, nên suốt hành trình bôn ba ngoài khơi Cô Tô và rãnh nứt Bạch Long Vĩ, con thú nhỏ đã tự giác thu mình vào trạng thái ngủ đông sâu thẳm trong chiếc túi da cá sấu tẩm ngọc châu ấm áp.

Nay thuyền nan đã rời xa biển mặn, cập vào dòng nước ngọt sông Thương, ngửi thấy mùi đất bùn non ngai ngái, mùi mùn mục của rễ cây bờ bãi và luồng Thổ khí dày đặc phát ra từ những rặng núi đá vôi Lạng Sơn, bản năng của loài tầm quặng đào hầm viễn cổ lập tức thức tỉnh! Xoạt! Miệng túi da cá sấu hé mở. Một cái đầu chuột nhỏ bằng nắm tay thò ra ngoài. Toàn thân nó phủ một lớp lông đen nhánh mượt mà như nhung huyền, bóng bẩy không dính một hạt bụi nước. Đôi mắt tròn xoe đỏ sẫm như hai hạt cườm mã não lúng liếng đảo quanh, chiếc mũi ươn ướt hồng hào khẽ hếch lên hít hà từng luồng không khí ven sông, bộ ria mép dài sắc như sợi cước rung rung liên hồi.

"Chít... chít...!"

Con chuột nhỏ ngó thấy bóng dáng quen thuộc của Lý Quân, liền phát ra những tiếng kêu khe khẽ nũng nịu. Bốn chiếc móng vuốt sắc nhọn màu xám chì khẽ bấu vào mép túi da thô ráp, cái đuôi dài quẫy tít như chiếc roi gân. Lý Quân khẽ mỉm cười. Nụ cười hiếm hoi của kẻ bần nông áo nâu chỉ xuất hiện khi đối diện với những điều thân thuộc. Hắn đặt mái chèo ngang mạn thuyền, đưa bàn tay chai sạn ra. Hắc Tí lập tức thoăn thoắt bò lên mu bàn tay hắn, bốn móng vuốt cào nhè nhẹ nhồn nhột vào lớp da đồng hun.

"Mày ngủ một giấc dài thật đấy, con ranh." Lý Quân hạ giọng, tiếng nói trầm đục lẫn trong tiếng gió chiều. "Biển mặn không hợp với mày, nhưng đến đất Lạng Sơn này thì toàn đá vôi với hầm ngầm, đúng là sân nhà của mày rồi."

Vừa nói, Lý Quân vừa móc từ trong bọc vải gai bên người ra một mẩu rễ cây khô queo màu nâu sẫm dài bằng nửa ngón tay. Đó là nửa mẩu Địa Hoàng Mộc – loài linh thảo chứa Thổ linh khí thuần hậu mà hắn đã thu hoạch từ rừng thiêng Cúc Phương và bảo quản cẩn thận bằng bột chu sa.

Mùi thơm cay nồng của thảo mộc rừng già vừa tỏa ra, hai mắt Hắc Tí đã sáng rực lên. Nó vồ lấy mẩu rễ cây bằng hai chân trước, há chiếc miệng nhỏ để lộ hai chiếc răng cửa sắc như thép gió, gặm nhấm rôm rốp:

Rắc... rắc... rộp... Chỉ trong vài nhịp thở, mẩu địa hoàng khô đã biến mất tăm vào cái bụng căng tròn của con chuột nhỏ. Nuốt xong, nó thỏa mãn liếm láp mép, thân hình rung lên một cái. Từ dưới lớp lông đen bóng, một làn linh quang xám mờ mờ thoáng hiện, sinh khí tiêu hao sau chuyến ngủ đông lập tức được bù đắp trọn vẹn, cơ thể nó thoắt cái lại nhanh nhẹn, gân guốc lạ thường.

Lý Quân khẽ vuốt nhẹ sống lưng con chuột chúa, nét mặt trở nên nghiêm nghị, truyền âm căn dặn:

"Lát nữa thuyền cập bờ, mày không được chạy rông trên mặt đất. Hãy chui sâu xuống lòng đất ba trượng, men theo các kẽ đá vôi ngầm mà đi trước thám thính. Đánh hơi thật kỹ xem trong vòng mười dặm quanh đây có mùi âm khí của phù chú xương người, mùi băng giá của tà tu phương Bắc, hay mùi rỉ sét của quặng sắt chôn sâu hay không. Có biến là phải chui ngay vào hang ngầm rút lui, tuyệt đối không được đối đầu trực diện, nhớ chưa?"

Hắc Tí dường như hiểu thấu từng lời của chủ nhân. Đôi mắt hạt cườm đỏ au của nó chớp lia lịa, chiếc đầu nhỏ gật gật mấy cái thật mạnh, rồi ngoan ngoãn chui tọt trở lại đáy túi da cá sấu, chỉ để lộ hai lỗ mũi nhỏ thỉnh thoảng phập phồng hít thở địa khí. Thu xếp xong xuôi cho Hắc Tí, Lý Quân cầm lại mái chèo, mắt nhìn về phía khúc quanh của dòng sông Thương phía trước.

Trời đã ngả về chiều muộn. Mặt trời đỏ ối như một quả cầu lửa lặn dần sau những rặng núi đá vôi nhấp nhô, hắt lên mặt nước những vệt sáng đỏ sẫm như vệt máu loang. Không gian biên ải tĩnh mịch đến rợn người, ngay cả tiếng chim rừng gọi bầy cũng thưa thớt hẳn, chỉ có tiếng gió hun hút thổi qua các khe đá phát ra những âm thanh u u tựa như tiếng người than khóc.

VÚT... PHẬP... PHẬP! Bất thình lình, một tiếng xé gió sắc nhọn từ tầng mây xám xịt trên cao giáng thẳng xuống! Bản năng săn mồi vạn chài lập tức khiến sống lưng Lý Quân lạnh toát. Bàn tay phải của hắn đã đặt lên chuôi kiếm Long Văn giấu dưới tấm chiếu cói, cơ bắp toàn thân căng cứng như dây cung kéo căng, sẵn sàng phát động một đòn chém sấm sét! Thế nhưng, luồng khí tức lao xuống không hề mang theo sát ý tà ác của Hắc Băng Môn, mà lại mang theo một tia linh lực thanh khiết, ấm áp của chính đạo cõi Nam. Một bóng xám xé toạc màn sương chiều mù mịt, lượn một vòng tròn hoàn hảo trên đỉnh ngọn sào thuyền nan, rồi khẽ khàng đáp xuống mạn thuyền gỗ nghiến.

Đó là một con Huyết Giáp Thiết Cắt – loài chim cắt săn mồi dũng mãnh của vùng biên cương, được Khâm Thiên Giám Đại Việt thuần dưỡng bằng linh dược để làm thần điểu truyền tin cơ mật! Toàn thân con chim cắt phủ lớp lông màu xám tro pha vằn đen, đôi cánh dài sắc như hai lưỡi dao găm, mỏ quặp màu vàng sẫm sắc bén, móng vuốt quắp chặt lấy mạn thuyền làm nẹp tre phát ra tiếng răng rắc khẽ. Đôi mắt chim ưng tròn xoe vàng óng ánh nhìn chằm chằm vào Lý Quân, không hề có chút sợ hãi.

Nơi chân trái của con chim cắt, một chiếc ống trúc nhỏ màu nâu sẫm bằng ngón tay út được buộc chặt bằng dây gân hươu rừng. Đầu ống trúc được niêm phong cẩn mật bằng một lớp sáp ong rừng màu vàng sậm, phía trên dập nổi hình ngọn lửa và ngôi sao chín cánh – ấn ký tuyệt mật của Khâm Thiên Giám!

"Chim truyền tin của Khâm Thiên Giám..." Lý Quân lẩm bẩm trong miệng, ánh mắt lóe lên tia kinh ngạc.

Hắn và Chánh Tiên Sư Trần Đạo Hiền từng có giao ước ngầm từ hồi ở Thăng Long thành. Sau đại chiến Bạch Đằng phá tan bãi cọc ngầm của thủy tặc, Lý Quân từng thông qua đồn biên phòng Vân Đồn gửi lại lệnh bài và tín hiệu liên lạc. Nhưng không ngờ, mạng lưới thám báo của Khâm Thiên Giám lại nhạy bén đến mức có thể đón lõng được hành tung của con thuyền nan rách rưới này ngay trên dòng sông Thương!

Lý Quân không chần chừ. Hắn đưa tay ra, con chim cắt ngoan ngoãn chìa chân trái để hắn gỡ chiếc ống trúc xuống. Xong việc, con chim vỗ cánh bay vút lên ngọn cây sau sau ven bờ, đứng canh gác bốn phía như một người lính tiền tiêu trung thành. Lý Quân vận một luồng chân dịch ấm áp nơi đầu ngón tay cái, khẽ miết nhẹ qua lớp sáp ong. Lớp sáp ong rừng tan chảy ra thành từng giọt thơm lừng mùi mật. Hắn dốc nhẹ miệng ống trúc, một cuộn giấy dó mỏng manh trượt ra lòng bàn tay. Mảnh giấy dó này không phải loại giấy thông thường bày bán ở chợ phố, mà là loại giấy dó cổ truyền ngâm nhựa tràm và bột vỏ sò huyết, có khả năng chống nước, chống mục và tự hủy nếu bị linh lực tà đạo xâm nhập.

Trên mặt giấy, những dòng chữ viết bằng mực chu sa đỏ tươi như máu hiện ra rõ mồn một. Nét chữ gân guốc, sắc sảo và mang đậm vẻ khẩn thiết, ký tên ở cuối chính là nét bút quen thuộc của Chánh Tiên Sư Trần Đạo Hiền:

"Gửi Lý tiểu hữu áo nâu, Khâm Thiên Giám kính báo: Phong vân biên cương Lạng Sơn đại biến, nguy nan ngàn cân treo sợi tóc! Cách đây nửa tháng, la bàn phong thủy của Khâm Thiên Đài tại Thăng Long liên tục chấn động, long mạch bảo hộ phương Bắc xuất hiện dấu hiệu rạn nứt nghiêm trọng. Mạng lưới thám báo bí mật xác nhận: Tà tu Hắc Băng Môn (thuộc hạ tiền trạm của Bắc Cực Hàn Thiên Tông) đã cấu kết cùng lũ thổ phỉ Ma Nhai, âm thầm thâm nhập hẻm núi hiểm trở Quỷ Môn Quan tại Ải Chi Lăng. Bọn chúng mượn tà thuật thượng cổ phương Bắc, dùng máu tươi của hàng trăm trinh sát và dân phu cõi Nam để tôi luyện, đúc thành BẢY CHIẾC CỌC SẮT MA NHAI ĐOẠT MẠCH ĐINH!

Mỗi chiếc cọc sắt dài trượng rưỡi, đúc từ quặng Thiết Tủy nguội ngắt, trên thân bọc kín bằng bùa chú xương người và hàn độc Cực Hàn Băng Diễm. Bọn chúng đã đóng sâu bảy chiếc cọc sắt này xuống mười trượng trong lòng đá vôi tại bảy huyệt đạo xung yếu của hẻm núi Chi Lăng, tạo thành Ma Nhai Thất Sát Đoạt Mạch Đại Trận!

Mục đích tàn độc của lũ giặc: Cắt đứt hoàn toàn long mạch núi rừng biên ải, rút cạn địa khí non sông Đại Việt đưa về phương Bắc, đồng thời tạo ra một dải sương mù độc băng giá dài ba mươi dặm, mở đường máu cho đại quân thiết kỵ thi khôi và chiến hạm hàn băng của Bắc Cực Hàn Thiên Tông tràn xuống dày xéo cõi Nam! Hiện tại, cây rừng Chi Lăng đang héo úa từng ngày, chim muông chết chóc rải rác, sinh khí cạn kiệt. Nếu trong vòng nửa tháng tới không nhổ sạch bảy chiếc cọc sắt phong thủy này, long mạch biên cương sẽ vĩnh viễn đứt đoạn, đại họa diệt vong cận kề!

Một tin tức sinh tử khác: Hàn Bân Cơ cô nương của Tứ Phủ Đạo Tông sau khi nhận được mật báo từ Nhạc Phủ đã dẫn theo một toán đệ tử tinh nhuệ cấp tốc bắc thượng ải Chi Lăng để ngăn chặn tà trận. Thế nhưng, bọn tà tu Hắc Băng Môn mưu mô xảo quyệt, bố trí trùng trùng cạm bẫy hắc băng mai phục tại vách đá Quỷ Môn Quan. Hiện toán quân Tứ Phủ đang bị vây khốn giữa hẻm núi hiểm, sống chết chưa rõ!

Khâm Thiên Giám ta và các bậc trưởng lão Nguyên Anh đang phải tập trung toàn lực gia cố Đại Trận Hộ Quốc phong tỏa không gian tầng cao, kiềm tỏa các lão quái phương Bắc trên tầng mây, không thể phân thân hạ giới can thiệp sâu vào chiến trường thực địa. Trận chiến cọc sắt Chi Lăng chỉ có thể trông cậy vào kỳ binh dưới mặt đất!

Biết tin tiểu hữu đã phá vỡ rãnh nứt Bạch Long Vĩ, thoát hiểm trở về bờ, lão phu khẩn thiết mong tiểu hữu vì không gian sinh tồn của non sông mà vung kiếm tương trợ, phối hợp cùng Hàn cô nương nhổ sạch cọc gai tà trận, cứu vãn long mạch đất mẹ! Trần Đạo Hiền bái thư." XÈO...! Ngay khi Lý Quân đọc đến chữ cuối cùng, dòng mực chu sa bỗng bốc lên một làn khói trắng mỏng. Mảnh giấy dó tự phát tác hóa thành một nhúm tro mịn màu xám nhạt, theo gió chiều bay lả tả xuống dòng nước sông Thương, không để lại mảy may một dấu vết nào trên trần thế. Con thuyền nan trôi dạt bồng bềnh giữa dòng nước u tối.

Lý Quân ngồi bất động như một pho tượng hắc huyền thạch. Gió biên ải lùa qua manh áo nâu rách rưới, thổi tung những lọn tóc đen ướt đẫm mồ hôi trên vầng trán rộng.

"Ma Nhai Đoạt Mạch Đinh... Bảy cọc sắt bọc bùa xương người..." — Giọng hắn thì thầm, từng âm sắc lạnh lẽo như băng phiến va vào đá.

Ký ức về những ngày nhổ cọc sắt phong thủy của Cao Biền tại sông Tô Lịch, đầm Ba Đình ở Thăng Long thành thuở trước lập tức ùa về trong tâm trí hắn. Lũ tà tu phương Bắc xưa nay chưa từng từ bỏ dã tâm đục khoét long mạch cõi Nam! Ngàn năm trước chúng dùng thuật phong thủy trấn yểm đồng bằng, nay chúng lại dùng cọc sắt bọc hàn độc cắm sâu vào yết hầu biên ải Chi Lăng!

Hắn đưa mắt nhìn về phía rặng núi đá vôi Quỷ Môn Quan mờ ảo trong sương chiều phương Bắc. Ở nơi đó, không khí hẳn đang nồng nặc mùi máu tanh của dân phu vô tội bị sát hại làm vật tế phù; ở nơi đó, cây rừng ngàn năm đang oằn mình rên xiết vì bị rút cạn sinh khí; và ở nơi đó, Hàn Bân Cơ – người bạn đồng hành tri kỷ, người con gái đã cùng hắn kề vai sát cánh qua bao phen sinh tử, sòng phẳng chia sẻ từng giọt linh dược, từng mảnh cơ duyên – đang lâm vào tuyệt cảnh giữa bầy tà tu khát máu!

Lý Quân không phải là đấng cứu thế rảnh rỗi lo chuyện bao đồng. Đạo tâm của hắn đi lên từ sự cẩn trọng và tính toán thực tế của người bần nông. Nhưng hắn hiểu thấu một chân lý giản đơn:

Nếu Ải Chi Lăng thất thủ, long mạch biên cương sụp đổ, đại quân Bắc Cực Hàn Thiên Tông sẽ như lũ vỡ bờ tràn xuống đồng bằng sông Hồng, quét qua sông Mã, san phẳng làng chài Bến Vạn nghèo khổ của cha mẹ hắn! Khi ấy, dẫu hắn có trốn chui trốn nhủi trong hang sâu đáy biển, không gian sinh tồn của bản thân cũng sẽ bị bóp nghẹt, gia đình phàm trần sẽ thành tro bụi dưới gót sắt giặc ngoại bang! Càng không nói đến món nợ ân tình sòng phẳng với Hàn Bân Cơ. Người bần nông cõi Nam trọng chữ tín hơn cả tính mạng. Nàng chưa từng bỏ rơi hắn trong hoạn nạn, thì cớ gì hắn lại khoanh tay đứng nhìn nàng bị lũ giặc dồn vào chân tường?

"Một trận chiến này... không thể không đánh!" — Ánh mắt Lý Quân đanh lại, sáng rực lên một tia kiên định sắt đá.

Bàn tay hắn siết chặt lấy thanh kiếm Long Văn bọc Lãnh Hải Huyền Thiết giấu bên hông. Nhịp đập từ hai Mảnh Trống Đồng thau trước ngực áo bỗng vang lên u... u... trầm hùng, tựa như tiếng trống trận thúc giục xuất quân vọng về từ ngàn năm dựng nước. Hắn khẽ uốn mình, mái chèo gỗ nghiến lại rẽ nước lao đi. Con thuyền nan xé toạc màn sương chiều, hướng thẳng về phía bến đò hoang vắng chân chợ bản Hữu Lũng. Tại nơi ấy, kẻ bần nông áo nâu sẽ trút bỏ thân phận dân chài sông biển, hóa thân thành một gã đan sư nghèo mặc áo tơi bện rơm, cầm gùi thuốc nam luồn sâu vào đại ngàn Chi Lăng, mở màn cho trận huyết chiến long trời lở đất nơi Quỷ Môn Quan biên ải!

THƠ KẾT CHƯƠNG:

Rời biển nan chèo rẽ sóng xa,
Sông Thương ngược nước nhuộm sương nhòa.
Hầm sâu chuột chúa cào vòm đá,
Trời thẳm chim thần rẽ dải hoa.
Cọc nhọn Chi Lăng găm mạch đất,
Hàn phong biên ải tỏa sương tà.
Áo tơi đan sĩ luồn rừng thẳm,
Giữ vững giang sơn quyết vượt qua.

0