Nàng Mua Ta 500 Lượng, Ta Trả Nàng Giang Sơn

Chương 103: Khi Nàng Gọi Ta Là Chồng

Đăng: 04/09/2026 03:37 3,704 từ 21 lượt đọc

Tối hôm đó trời không mưa.

Cô để ý vì cô nhớ mưa, nhớ đêm cô đứng trước cửa phòng anh ở dãy đông, mưa xiên qua mái hiên hẹp, vai áo ướt, tóc dán vào thái dương. Hôm đó, cô giơ tay lên định gõ rồi hạ xuống, đứng đó một lúc rồi quay đi. Cô nhớ đêm anh mở cửa nói năm chữ "vào đi, ngoài đó lạnh" và cô bước vào, ướt sũng, bước chân trên sàn gỗ để lại dấu nước. Cô nhớ mỗi cánh cửa cô đã đứng trước, đã gõ hoặc không gõ, đã mở hoặc không mở, bốn cánh cửa trong bốn cơn mưa, và mỗi cánh cửa đều có anh ở phía bên kia.

Tối nay trời trong, trăng lên muộn, gió nhẹ mang mùi mai trắng từ hoa viên phía tây bay vào. Hành lang khô, sàn gỗ không có dấu nước, và cô đứng trước cửa phòng anh lần này không ướt, không lạnh, không phải vì mưa mà phải đứng đây.

Cô đứng đây vì cô muốn. Tiểu Hà buộc tóc cho cô trước đó nửa canh giờ trong phòng cô. Cô ngồi trước gương đồng, lưng thẳng, tay đặt trên đùi. Tiểu Hà đứng phía sau gỡ tóc cô ra khỏi kiểu buộc cao quen thuộc, gỡ chậm vì tóc cô dày và cứng, tóc của người mang giáp nhiều hơn mang trâm. Cô bé vừa gỡ vừa chải, tay nhẹ nhưng run.

"Tiểu Hà."

"Dạ."

"Ngươi run."

Tiểu Hà nuốt nước bọt.

"Em không run ạ."

"Tay ngươi run."

Cô bé dừng tay, nhìn xuống ngón tay mình đang cầm lược. Đúng là ngón tay đang run, run nhẹ, run theo kiểu người đang cố giữ bình tĩnh mà bình tĩnh không hợp tác.

"Em... hơi run ạ."

"Sao run?"

Tiểu Hà nhìn tiểu thư trong gương đồng. Tiểu thư ngồi thẳng lưng trước gương, mặt bình thản, mắt nhìn thẳng, đúng tư thế cô ngồi khi duyệt quân hoặc khi họp với các tướng lĩnh hoặc khi đọc tấu chương. Cô bé nhận ra rằng tiểu thư đang sắp bước vào đêm tân hôn mà ngồi bằng tư thế duyệt binh, và cô bé không biết nên cười hay nên khóc nên cô bé run.

"Em vui ạ."

Tiểu Hà nói giọng nhỏ.

"Em vui nên run."

Cô nhìn Tiểu Hà trong gương và không nói gì. Rồi mắt cô hơi dịu đi, dịu theo kiểu mà nếu Vương Hắc thấy ông ta sẽ gãi đầu nhìn trời vì ông ta chưa bao giờ thấy tiểu thư nhìn ai bằng ánh mắt đó ngoài quân sư.

"Buộc đi."

Tiểu Hà chải tóc cô xong, buộc thấp và mềm, kiểu buộc mà cô bé đã buộc cho cô vào buổi sáng ở hoa viên hôm trước và cô để yên không sửa. Xong rồi cô bé lùi lại một bước, nhìn tổng thể, và mắt cô bé ướt.

"Tiểu thư đẹp lắm ạ."

Cô đứng dậy và nhìn xuống áo mình, áo thường phục trắng, không phải áo cưới vì đêm tân hôn đầu tiên đã có áo cưới rồi, và đêm đó cô mặc nó ngồi trong phòng cưới với thanh kiếm trên đùi rồi bỏ ra ngoài hành lang. Lần này không có áo cưới, không có kiệu, không có đội nhạc, không có rượu hợp cẩn. Chỉ có cô, tóc buộc mềm, áo trắng, đi qua hành lang từ phòng mình sang phòng anh, mười lăm bước chân trên sàn gỗ.

"Em đi ngủ đi."

Cô nói với Tiểu Hà.

Cô bé gật đầu, rồi bước tới ôm cô nhanh và chặt, kiểu ôm mà cô bé chưa bao giờ dám ôm vì tiểu thư không quen được ôm. Nhưng tối nay cô bé không kìm được và cô cũng không gạt ra. Ôm xong cô bé lùi lại, mặt đỏ, mắt đỏ, cười mà nước mắt chảy.

"Dạ. Em đi ạ."

Cô bé bước ra, tạp dề phần phật theo bước chân trên hành lang, và cô nghe tiếng bước chân đó xa dần rồi tắt hẳn.

Cô đứng một mình trong phòng, nhìn gương đồng, nhìn mình trong gương, tóc buộc mềm, áo trắng, không kiếm.

Rồi cô bước ra, mười lăm bước. Cô đếm vì cô quen đếm, đếm bước chân trên hành lang như đếm bước tiến trước trận, không phải vì cô sợ mà vì đếm cho cô thứ gì đó để bám vào khi ngực cô đang đập nhanh hơn bất kỳ trận đánh nào trong đời. Trên chiến trường cô dẫn ba nghìn quân xông vào hai vạn kỵ binh Hung Nô mà tim cô không đập nhanh bằng mười lăm bước chân từ phòng cô sang phòng anh tối nay.

Bước thứ năm ngang qua chỗ ngoặt hành lang, nơi có cây đèn lồng treo ở góc mà Phúc Bá thắp mỗi tối. Đèn tối nay sáng hơn mọi lần, lão thay bấc mới. Cô biết lão biết vì Phúc Bá biết tất cả mọi thứ trong phủ này mà không ai cần nói.

Bước thứ mười ngang qua phòng Hầu gia, cửa khép, đèn đã tắt, ông đã ngủ. Cô dừng một nhịp, nhìn cánh cửa khép đó, nhìn bóng tối yên tĩnh phía trong. Cô nghĩ đến tay ông nắm tay cô chiều hôm cô quỳ cạnh giường ông khi mới về nhà, tay ông gầy và xương nhưng nắm chặt, và ông không nói gì vì ông không cần nói gì.

Bước thứ mười lăm, cô dừng trước cửa phòng anh. Cửa khép hờ, không đóng. Ánh đèn dầu hắt ra từ khe cửa, vàng nhạt và ấm.

Cô nhớ cánh cửa đêm tân hôn. Cửa đó cô đẩy ra rồi bước đi, bỏ lại sau lưng một chén rượu vừa rót đầy và một chén vỡ tan trên sàn gỗ, bỏ đi vì cô không biết làm gì khác với người đàn ông xa lạ mà cha gả cô cho. Cửa ấy cô cũng không đóng lại, cô để nó khép hờ sau lưng mình rồi đi thẳng ra hành lang, ngồi tựa cột ngoài hiên đến sáng. Hôm đó người mang chăn xuống đắp cho cô lúc canh ba là anh, lặng lẽ, không nói một tiếng nào, không để cô biết.

Cánh cửa tối nay cũng khép hờ và lần này người để hờ là anh. Để cho cô, vì anh biết cô sẽ đến, hoặc vì anh muốn cô được tự chọn, hoặc vì sau ngần ấy năm với ngần ấy cánh cửa giữa hai người thì anh hiểu rằng cánh cửa cuối cùng không nên do ai đóng và cũng không nên do ai mở, cứ để hờ như vậy, để người bước qua tự bước.

Đêm đó cánh cửa khép hờ là cánh cửa cô đi ra. Tối nay cánh cửa khép hờ là cánh cửa cô đi vào.

Cô đưa tay lên, chạm vào mặt gỗ và đẩy nhẹ. Anh ngồi ở bàn, đèn dầu cháy thấp, trước mặt không có sách, không có tấu chương, không có bản đồ, chỉ có ngọn đèn và anh và bóng anh trên vách.

Nghe tiếng cửa, anh ngẩng lên. Cô đứng ở ngưỡng cửa, áo trắng, tóc buộc mềm, không kiếm, mười lăm bước chân phía sau và cả đời phía trước. Ánh đèn dầu rơi lên mặt cô, lên vai cô, lên bàn tay cô đặt trên khung cửa. Anh nhìn cô đứng đó mà nhớ đêm tân hôn đầu tiên, nhớ cô ngồi trong phòng cưới với thanh kiếm đặt trên đùi như ngồi trong lều quân trước ngày xuất chinh, nhớ tiếng chén vỡ ngắn và sắc trong căn phòng im lặng, nhớ tiếng bước chân cô xa dần ngoài hành lang rồi tắt hẳn. Anh nhớ cả cái đêm dài sau đó, khi anh ngồi lại một mình trong căn phòng cưới và cứ chốc chốc lại ngẩng lên nhìn về phía cửa xem có ai quay lại không.

Người bước qua cánh cửa ấy vẫn là cô. Chỉ khác là đêm ấy cô bước ra, còn tối nay cô bước vào.

Anh đứng dậy. Im lặng kéo dài giữa hai người, thứ im lặng của những kẻ đã đi đủ xa để hiểu rằng có những khoảnh khắc lời nói chẳng thêm được gì và chỉ riêng việc có mặt đã là đủ.

Rồi cô nói bốn chữ.

"Phu quân bảo trọng."

Cô nói nhẹ, nhẹ hơn bất cứ quân lệnh nào cô từng phát trong đời, nhẹ hơn "theo ta" trước trận, nhẹ hơn "đừng chết" viết trong thư, nhẹ hơn một chữ "nhớ" gửi qua chín tháng xa cách. Nhẹ đến mức nếu có gió thì bốn chữ đó đã bay mất, nhưng phòng này không có gió, chỉ có đèn dầu và hai người.

Phu quân.

Cô chưa bao giờ gọi anh bằng hai chữ đó. Gọi "ngươi" thì có, gọi "Tiết lang" thì có, gọi thẳng "Lan Chu" thì có. Nhưng "phu quân" là hai chữ cô chưa gọi bao giờ, vì "phu quân" nghĩa là chồng, và chồng là thứ mà mười lăm bước chân trên hành lang không đủ để gọi ra nếu người ta chưa đi hết quãng đường từ cái đêm mảnh chén rơi xuống sàn phòng cưới đến tối nay.

Anh nhìn cô rồi anh cười. Không phải cười nhẹ, không phải cười tự giễu, không phải kiểu cười mà vai rung như lúc đọc tối hậu thư. Cả khuôn mặt anh mềm đi, khoé mắt nheo lại, những đường nét vốn lúc nào cũng giữ ở mức vừa phải bỗng dãn ra hết. Cô nhìn mà nhận ra rằng bao nhiêu năm sống chung một tòa phủ, đây là nụ cười cô chưa từng được thấy. Nụ cười của người vừa nghe được thứ mà anh chưa một lần đòi hỏi, bởi anh biết thứ đó phải tự đến hoặc là không bao giờ đến.

"Nàng gọi lại đi."

Anh nói, giọng nhẹ, vẫn cười.

Cô nhìn anh, tai đỏ, cổ đỏ, nhưng mắt không tránh đi đâu cả.

"Phu quân."

Anh bước tới hai bước, đứng trước mặt cô, gần hơn khoảng cách hai người ngồi trên ghế đá ở hoa viên, gần hơn khoảng cách hai bàn tay đặt trên nắp hộp gỗ, gần đến mức cô ngửi thấy mùi mực trên tay anh lẫn với mùi gỗ trầm trong phòng.

Anh đưa tay lên chạm vào tóc cô, vào đúng chỗ Tiểu Hà buộc, chạm nhẹ theo kiểu ngón tay của người cầm bút nhiều hơn cầm kiếm. Cô đứng yên, đứng yên theo cách mà cô chưa từng đứng yên trước mặt bất kỳ ai, vì đứng yên là buông kiểm soát và Chinh Vũ thì không buông kiểm soát bao giờ.

"Bốn chữ đó."

Anh nói.

"Người ta thường nói với kẻ sắp đi xa."

Cô im lặng một nhịp. Tai đỏ thêm một bậc nữa.

"Ta biết."

"Vậy sao nàng lại nói với kẻ đang đứng ngay trước mặt?"

"Vì ta không thuộc câu nào khác."

Cô đáp, giọng bằng phẳng như đang báo cáo quân tình.

"Sáng hôm ngươi tiễn ta ở bậc thềm, ngươi siết lại dây giáp vai cho ta rồi bảo nàng thắng rồi về. Ta đã định nói bốn chữ đó ngay lúc ấy nhưng ta nói không được. Ta để nó lại ở bậc thềm đó cho đến bây giờ."

Anh nhìn cô rất lâu và tiếng cười trong cổ họng anh lặn xuống thành một thứ khác, yên hơn.

"Phu quân bảo trọng."

Anh nói lại bốn chữ cô vừa nói, giọng vẫn còn vương chút cười ở cuối.

"Nàng viết 'nhớ thêm áo' rồi gạch đi. Nàng viết 'đừng chết' rồi không gạch. Nàng viết 'ta về' rồi tay không run. Bốn mươi chín bức thư nàng không gọi ta là chồng lần nào."

Anh dừng một nhịp.

"Bức thứ năm mươi nàng không cần viết nữa. Nàng nói thẳng."

Cô nhìn anh.

"Ngươi đếm."

"Ta đếm hết."

Anh nói và giọng anh nhẹ đi thêm một bậc, nhẹ đến mức chỉ còn đủ cho một người nghe.

"Từ cái đêm ta ngồi nhặt mảnh chén trong phòng cưới và nhìn thấy vệt máu trên mặt sứ mà nàng chẳng nói cho ai biết. Từ đêm đó đến đêm nay."

Anh dừng lại.

"Lâu lắm. Nhưng đáng."

Cô nhìn anh và mắt cô ướt. Lần đầu tiên kể từ ngày cô biết cầm kiếm, mắt cô ướt mà cô không quay mặt đi, không nhìn ra cửa sổ, không nhìn xuống tay mình, không giấu vào đâu cả. Cô đứng đó để anh nhìn thấy, vì cô đã giấu đủ rồi.

"Vào đi."

Cô nói, giọng khàn nhẹ, rồi cô bước qua ngưỡng cửa vào phòng anh, bước qua cánh cửa để hờ, bước vào trong.

Anh nhìn theo cô, rồi nhìn cánh cửa. Cô không đóng.

Phúc Bá đứng ở cuối hành lang, lưng tựa tường, cây đèn lồng trong tay đã tắt tự lúc nào, tắt bằng cách lấy ngón tay bấm bấc chứ không thổi, vì thổi thì có tiếng.

Lão nhìn về phía cửa phòng cô gia, cánh cửa khép hờ, ánh đèn dầu bên trong hắt ra một khe sáng mỏng trên sàn hành lang.

Rồi khe sáng đó tắt, có ai đó vừa tắt đèn trong phòng.

Lão đứng thêm một lúc rồi quay đi, bước chân nhẹ và đều trên sàn gỗ về phía phòng mình. Ngang qua phòng Hầu gia, lão dừng lại, ghé tai vào cửa nghe. Tiếng thở đều, ông đang ngủ.

Lão bước tiếp, đi ngang gian sảnh chính nơi sáu bộ bát đũa xếp trên kệ, đi ngang bếp phụ nơi nồi mì treo trên giá, đi ngang khoảng sân nơi cây du đứng im trong trăng muộn.

Về đến phòng, lão ngồi xuống giường, đặt cây đèn đã tắt lên bàn và nhìn nó một lúc. Rồi lão cười, cười nhẹ, cười một mình, cười mà vai không rung, chỉ có khoé miệng nâng lên, kiểu cười của người đã đợi rất lâu một thứ mà lão biết chắc sẽ đến nhưng không biết bao giờ mới đến. Bây giờ nó đến rồi thì lão chẳng còn biết làm gì ngoài cười.

Lão nằm xuống và nhắm mắt.

Hầu phủ yên.

Sáng hôm sau, cô tỉnh dậy trước anh. Cô nằm yên một lúc nhìn lên trần phòng anh, trần này khác trần phòng cô vì gỗ ở đây sẫm hơn và có một vết nứt nhỏ chạy dọc theo xà ngang mà cô chưa từng thấy, bởi cô chưa từng nằm ở đây để nhìn lên. Bên cạnh, anh vẫn ngủ, hơi thở đều, khuôn mặt buông lỏng hơn và trẻ hơn lúc thức. Cô nhìn mặt anh mà nhận ra lần gần nhất cô ngồi nhìn anh nhắm mắt như thế này là ba ngày ba đêm bên giường bệnh, khi cô phải đặt tay lên ngực anh mấy lần trong đêm để chắc rằng lồng ngực ấy còn nhấc lên. Sáng nay cô không phải đếm gì cả, cô chỉ nhìn.

Cô ngồi dậy thật nhẹ để không đánh thức anh, mặc áo, bước ra hành lang.

Trời chưa sáng hẳn, ánh hồng nhạt rải trên mái ngói và trên hành lang gỗ, gió sớm mang mùi đất ẩm từ vườn sau vào. Hầu phủ còn im, Tiểu Hà chưa dậy, Vương Hắc chưa ngáy, và cô đi ra sân trước, đứng ở bậc thềm, hít một hơi dài.

Rồi cô thấy. Ngoài cổng Hầu phủ, trên đường lát đá trước cửa, có người.

Không phải một người mà là rất nhiều, đứng thành từng nhóm nhỏ im lặng, mặt hướng về phía cổng. Cô nhận ra mấy khuôn mặt quen, Lâu Bảo, Đại Mục, mấy đứa học trò cũ giờ đã lớn, đứa nào cũng mặc áo sạch và chải tóc gọn. Bên cạnh chúng là mấy người nông dân cô thấy quen mặt ở vùng anh làm cải cách, da rám nắng, tay chai sạn, cũng mặc bộ áo sạch nhất mà họ có. Phía sau là mấy người lính cũ của đồn Thanh Phong và đồn Bạch Lộ mà cô nhớ mặt từ chiến trường, lưng thẳng, tay không, những người đã theo đoàn quân về kinh sau lễ phong chức rồi nán lại thêm mấy ngày chỉ để có mặt ở đây một buổi sáng.

Không ai gọi, không ai mời, họ tự đến.

Cô đứng ở bậc thềm nhìn ra và cô hiểu. Họ không đến vì cô, họ đến vì anh. Vì người thầy dạy chúng đọc sách, vì người mang giống lúa mới ra tận bờ ruộng rồi đứng cả buổi ở đó với lão Đinh, vì người nấu mì cho vợ mỗi tối và dạy học trò mỗi sáng và vẽ bản đồ cứu biên cương trong đêm. Họ đến vì con người mà cô đã mất mấy năm đầu không nhìn thấy và họ thì nhìn thấy trước cô.

Phúc Bá đã mở cổng từ lúc nào, lão đứng ở đó gật đầu chào từng người bước vào. Lão không tỏ vẻ ngạc nhiên, hoặc lão có ngạc nhiên mà giấu đi, vì mặt lão vẫn bình thản như mọi sáng, chỉ có lưng thẳng hơn một chút.

Cô quay vào. Anh đang ngồi ở bàn, mới thức, tóc chưa chải, áo ngủ, tay cầm chén trà nguội mà ai đó đã để sẵn.

"Có người đến."

Cô nói.

"Ai?"

"Ra mà xem."

Anh nhìn cô, nhưng cô không giải thích thêm câu nào, chỉ quay đi. Anh đặt chén trà xuống, đứng dậy, mặc áo rồi bước ra hành lang.

Ra tới sân trước, anh nhìn về phía cổng và dừng lại. Mấy chục người đứng im lặng trong sân, mặt hướng về phía anh. Có học trò cũ, có nông dân, có binh sĩ. Lâu Bảo đứng phía trước, cao hơn lần cuối anh gặp cả một cái đầu, mặc áo thư sinh sạch sẽ, tay cầm một cuộn giấy. Đại Mục đứng cạnh, trời còn sớm mà vẫn chỉ mặc một lớp áo, đúng cái kiểu cứng đầu anh đã quen từ hồi còn ở lớp. Lão Đinh đứng phía sau, lão nông dân đầu tiên chịu thử giống lúa của anh năm nào, người đã đứng khóc giữa ruộng vụ mùa đầu tiên và ký tên đầu lá đơn xin triều đình giữ anh ở lại. Tay lão ôm một bọc vải buộc túm, ống quần còn bụi của mười ngày đường từ biên cương lên kinh.

Không ai nói gì, họ chỉ đứng đó nhìn anh. Trong ánh mắt họ có thứ mà anh chưa từng có trong cả hai kiếp người, là thứ anh đã cho đi mà không hề đòi lại, bây giờ tự quay về, đứng ở sân nhà anh vào một buổi sáng sớm mà không ai mời.

Lâu Bảo bước tới, cúi đầu.

"Tiên sinh."

Rồi cậu mở cuộn giấy ra, bên trong là bài luận anh giao từ trước chiến tranh mà cậu chưa kịp nộp.

"Con viết xong rồi ạ. Chờ tiên sinh chấm."

Anh nhìn cuộn giấy, nhìn Lâu Bảo, nhìn Đại Mục, nhìn lão Đinh, nhìn mấy người nông dân rồi nhìn mấy người lính cũ.

Rồi anh cười. Cười mà mắt ướt, cười mà không quay mặt đi, không giấu, cười và ướt mắt cùng một lúc. Cô đứng phía sau anh trên bậc thềm, nhìn lưng anh, nhìn vai anh rung nhẹ. Anh đã sống hai kiếp người, kiếp đầu một mình, kiếp này mấy năm đầu cũng một mình. Vậy mà bây giờ, lần đầu tiên trong cả hai kiếp, anh đứng giữa những người tự tìm đến vì anh, không phải vì chức tước hay quyền lực, mà vì anh đã dạy họ đọc chữ, đã dạy họ trồng lúa, đã ngồi uống rượu với kẻ thù để họ không phải chết thêm.

Phúc Bá đã dìu Hầu gia ra sảnh chính từ lúc nào và ông ngồi trên trường kỷ cạnh ô cửa sổ mở, nhìn ra.

Ông nhìn con rể đứng giữa đám người trong sân, nhìn vai anh rung, nhìn con gái mình đứng phía sau anh, rồi ông gật đầu. Gật một cái chậm và nặng, kiểu gật của người cha đã nhìn ra đúng người từ lâu nhưng đợi đến hôm nay mới gật, vì hôm nay mới đủ.

Tiểu Hà đứng ở hiên bếp, tay bưng khay trà, mắt ướt, khóc mà không biết vì sao mình khóc, hoặc biết mà không nói ra được, vì cô bé đã ở trong phủ này từ cái ngày tiểu thư chưa biết cầm kiếm và cô gia chưa đặt chân qua cổng. Cô bé đã nhìn hai người đó đi từ hai đầu xa nhất của thế giới về đến chỗ này sáng nay, giữa sân phủ, nên cô bé khóc vì cô bé biết con đường đó dài đến chừng nào.

Vương Hắc đứng ở góc sân, khoanh tay, mặt đỏ, hít mũi rất mạnh. Ông ta chẳng nói câu nào, chỉ đứng đó, lưng thẳng, vai ưỡn, nhìn quân sư đứng giữa sân rồi đưa tay lên gãi đầu, rồi thôi gãi, rồi lại hít mũi thêm lần nữa.

Phúc Bá đứng ở cổng, lưng thẳng, hai tay đặt sau lưng, mắt nhìn thẳng về phía trước. Mặt lão vẫn là cái mặt bình thản của mọi buổi sáng trong mấy mươi năm, chẳng ai đọc ra được gì trên đó. Lão chỉ đứng ở đúng chỗ lão đã đứng suốt mấy mươi năm để giữ cái cổng này, và hôm nay cổng mở, và người đi vào là những người tự đến.

Anh quay lại nhìn cô.Cô đứng trên bậc thềm, áo trắng, tóc buộc mềm, nắng sớm rơi lên vai.

Anh không nói gì và cô cũng không nói gì. Họ chỉ nhìn nhau, giữa sân phủ buổi sáng sớm, giữa tiếng người đứng im và gió mang mùi mai trắng. Mắt anh vẫn ướt, và cô vẫn không quay mặt đi.

0