Nàng Mua Ta 500 Lượng, Ta Trả Nàng Giang Sơn

Chương 104: Tết Đoàn Viên

Đăng: 04/09/2026 20:32 7,781 từ 11 lượt đọc

Mười năm sau, lại một cái Tết nữa. Hầu phủ rộn ràng hơn bất kỳ ngày Tết nào trong lịch sử của nó và lịch sử của nó dài hơn lịch sử của hầu hết các phủ đệ trong kinh thành. Bởi vì Hầu phủ đã đứng ở đây từ đời ông nội của Chinh Vũ, đã trải qua ba đời chủ, hai cuộc chiến lớn, một cuộc chính biến. Và vô số cái Tết mà bàn ăn chỉ có hai ba người ngồi im lặng húp canh trong sảnh rộng quá mức cần thiết cho số người có mặt.

Năm nay thì khác, bàn ăn kê dài ra tận sân vì trong sảnh không đủ chỗ. Phúc Bá đã sai người kê thêm hai cái bàn nối đuôi nhau từ cửa sảnh ra hiên, phủ khăn đỏ đồng bộ, bát đũa xếp đều tăm tắp theo đúng kiểu của lão. Mỗi bộ cách nhau ba gang tay, đũa đặt ngang trên gối đũa, chén trà úp sẵn bên phải. Lão đếm đi đếm lại ba lần vì năm nay người đông hơn mọi năm, và lão sợ thiếu chỗ hơn sợ bất kỳ thứ gì khác trên đời, vì thiếu bát đũa trên bàn ăn là thứ mà lão đã thấy một lần rồi ở cái Hầu phủ này và lão thề với chính mình sẽ không để nó xảy ra lần thứ hai.

Tiểu Hà chạy qua chạy lại giữa bếp và sân, tạp dề bay phành phạch theo bước chân gấp gáp mà hai mươi mấy tuổi rồi vẫn chưa bỏ được thói mang dép rộng. Miệng cô la bếp phụ "canh đó nhạt, thêm muối", rồi quay sang la lính phụ bê bàn "nghiêng rồi, nghiêng rồi, thẳng lên", rồi quay sang la chính mình vì quên chưa bày hoa ở bàn ngoài sân. Cô không còn là cô bé mười mấy tuổi ngày xưa, tóc đã búi cao gọn gàng kiểu phụ nữ trưởng thành, mặt đã bớt tròn, nhưng khi cô chạy thì vẫn y như ngày xưa, vẫn tạp dề bay, vẫn dép lệt bệt, vẫn vai hơi nghiêng về phía trước như thể lúc nào cũng đang vội đến một chỗ quan trọng hơn chỗ mình đang đứng.

Lan Chu đứng ở cửa bếp nhìn ra sân, tay cầm muôi vì anh đang nấu. Mười năm rồi anh vẫn nấu mì vào ngày Tết, không phải vì không có ai nấu thay mà vì đây là thứ anh giữ lại cho mình. Thứ duy nhất trong cả cái Hầu phủ rộng lớn này mà anh không giao cho ai, không nhờ ai, không chia cho ai. Bếp phụ phía đông vẫn là bếp cũ, vẫn cái bếp mà anh đã nấu bát mì đầu tiên một mình vào đêm sinh nhật năm đó, chỉ khác là bây giờ hũ mì lớn hơn gấp ba lần cũ và số trứng anh đập mỗi lần nấu thì anh đã không buồn đếm từ lâu.

Ngoài cổng phủ, tiếng xe ngựa dừng lại, tiếng người nói chuyện, tiếng trẻ con cười.

Khách bắt đầu đến. Chu Đình Nghiêu đến sớm nhất, vì lão thần bảy mươi ba tuổi đã cáo lão thật sự từ năm năm trước, về quê trồng hoa và uống rượu, nhưng Tết nào cũng lên kinh thành. Dĩ nhiên, Tết nào lão cũng đến Hầu phủ trước tiên, không phải vì lão thích phủ này hơn nhà mình mà vì lão thích chê Lan Chu trước mặt mọi người và đến sớm thì chê được nhiều hơn.

Lão bước qua cổng, lưng vẫn thẳng dù chậm hơn mười năm trước, tay phải xách bình rượu tự nấu, tay trái cầm gậy mà lão gọi là "quyền trượng" vì lão từ chối gọi nó là gậy chống. Phúc Bá ra đón, cúi đầu, lão thần nhìn lão quản gia gật đầu, kiểu gật giữa hai người già đã quen nhau đến mức không cần hỏi thăm sức khỏe vì nhìn mặt là biết rồi.

"Tiết Lan Chu đâu?"

"Cô gia đang nấu ăn ạ."

"Nấu gì?"

"Mì ạ."

Chu Đình Nghiêu đứng lại một nhịp, nhìn vào phía bếp, rồi thở ra nhẹ bằng mũi, kiểu thở của người vừa nghe điều mình đã biết trước mà vẫn muốn hỏi cho chắc.

"Trung thư thị lang, thành viên hội đồng phụ chính, người vẽ lại toàn bộ chính sách thuế biên cương trong mười năm qua. Tết đến vẫn đứng bếp nấu mì."

Chu Đình Nghiêu nhìn Phúc Bá.

"Lão nói rồi, thằng này không giống quan."

Phúc Bá không trả lời mà chỉ mỉm cười rất nhẹ, vì lão biết Chu Đình Nghiêu chê kiểu đó nghĩa là khen, khen kiểu đó nghĩa là thương. Lão thần bảy mươi ba tuổi cả đời không phục ai mà Tết nào cũng tự tay xách rượu đến nhà một người mà ông từng gọi là "con rể Tầm gia" thì đó là kiểu thương mà không cần nói thêm gì.

Chu Đình Nghiêu vào sảnh, ngồi xuống ghế quen thuộc, đặt bình rượu lên bàn và bắt đầu chê. Lão chê bình hoa trên bàn cắm xấu, chê khăn đỏ phủ bàn nhăn ở góc, chê trà pha nhạt. Lan Chu từ bếp bưng ra chén trà mới, ông uống một ngụm, chê tiếp:

"Đậm quá."

Anh cười không đáp và rót thêm chén nữa, đặt trước mặt ông, rồi quay về bếp. Ông nhìn theo lưng anh đi khuất vào cửa bếp, tay cầm chén trà. Nếu có ai đứng đủ gần sẽ thấy ngón tay ông siết nhẹ quanh thành chén rồi thả ra, kiểu siết của người đang giữ thứ gì đó ấm trong lòng bàn tay mà không muốn ai thấy.

Hoàng thượng và Thái Hậu đến vào giữa buổi sáng, không nghi lễ, không hộ tống đông đảo, chỉ một cỗ xe và bốn lính cấm vệ.

Thất Hoàng Tử giờ hai mươi tuổi, đã tự mình cầm quyền từ ba năm trước khi hội đồng phụ chính giải tán vì vua đã đủ tuổi. Cậu bé ngày xưa chân không chạm đất khi ngồi trên ngai giờ đã cao hơn Lan Chu nửa cái đầu, mặt giống mẹ nhưng mắt giống cha. Mắt sáng và sâu, kiểu mắt của người đã học cách nhìn thấu từ nhỏ vì ngồi cạnh những người lớn đáng sợ nhất triều đình suốt mười năm. Cậu gọi Lan Chu là "Tiết sư phó" vì anh dạy cậu đọc sách và vẽ bản đồ từ hồi cậu mười tuổi. Dù bây giờ cậu là thiên tử thì trước mặt anh cậu vẫn là đứa trẻ ngồi cạnh bàn học hỏi tại sao Trương Lương giỏi mà không làm vua.

"Sư phó vẫn nấu mì?"

"Vẫn."

"Năm nào cũng mì."

"Bệ hạ muốn ăn gì khác thì bệ hạ tự nấu."

Cậu cười, kiểu cười mà trên triều đường không ai được thấy vì trên triều đường cậu là vua, còn ở đây cậu là học trò cũ đang bị thầy nói ngang mà không dám cãi.

Thái Hậu bước xuống xe sau con trai, tóc đã bạc nhiều hơn mười năm trước nhưng lưng vẫn thẳng, mắt vẫn tĩnh, kiểu tĩnh của người đã đi qua chính biến và bóng tối mà ra khỏi đó bằng lưng thẳng y như lúc bước vào. Bà nhìn cổng Hầu phủ, nhìn đèn lồng đỏ, nhìn Phúc Bá đứng đón. Bà gật đầu với lão quản gia theo kiểu hai người đã từng ở hai bên một cuộc chiến mà bây giờ nhắc lại thì chỉ cần gật đầu là đủ.

Đi sau xe của Thái Hậu là Lục Kính Đường, vẫn giáp cấm vệ, vẫn lưng thẳng như cây thương dù tóc hai bên thái dương đã bạc và chức đội trưởng ông đã giao lại cho lớp sau từ hai năm trước để lui về coi việc huấn luyện tân binh. Ông không vào sảnh ngồi cùng khách quyền quý, chỉ đứng ở sân, tay chắp sau lưng, mắt đảo một vòng qua các lối ra vào theo thói quen ba mươi năm không bỏ được. Ông đếm cổng chính, cổng phụ, lối bếp, lối vườn sau, rồi mới cho phép mình đứng yên một chỗ.

Phúc Bá bưng ra một chén trà nóng, đưa cho ông. Ông nhận, hai người đứng cạnh nhau ở sân, nhìn vào sảnh sáng đèn.

"Năm nay đông hơn năm ngoái."

Lục Kính Đường nói.

"Năm nào cũng đông hơn năm trước."

Phúc Bá đáp.

Hầu gia từ góc sảnh nhìn ra, thấy ông đứng ngoài sân, gật đầu một cái. Ông gật lại. Hai người không nói gì thêm, vì cái đêm mười năm trước hai người cùng đám thân vệ già đánh thẳng vào cổng cung đã nói hết những gì cần nói, và những người từng đứng chung một trận sinh tử thì gặp lại nhau chỉ cần một cái gật đầu là đủ. Trong đám lính hộ tống hôm nay có ba người tóc đã bạc, ba người trong số thân vệ cũ mà Phúc Bá triệu về đêm đó. Giờ họ đã giải ngũ hẳn nhưng Tết nào cũng xin theo xe một chuyến, vì họ bảo đứng gác ở Hầu phủ ngày Tết thì vui hơn ngồi nhà.

Tiếng vó ngựa ngoài cổng, không phải ngựa Đại Tần. Ngựa thảo nguyên bước khác, nặng hơn, nhịp khác, móng đập đất theo kiểu ngựa quen phi trên đồng cỏ rộng chứ không quen bước trên đường đá kinh thành. Lan Chu nghe thấy từ trong bếp liền đặt muôi xuống, đi ra.

Ca Lặc bước qua cổng Hầu phủ, mười năm sau vẫn cao lớn, vẫn mặc đồ bán Hán bán thảo nguyên, vẫn bước đi theo kiểu người quen cưỡi ngựa hơn quen đi bộ, nhưng mắt dịu hơn ngày xưa, dịu theo kiểu của người đã tìm được chỗ để không cần gồng nữa. Hắn giữ đúng lời từ mười năm trước: ngựa thảo nguyên qua biên cương để đổi, không phải để cướp. Chợ biên giới nhộn nhịp mỗi mùa thu giờ đã thành chuyện bình thường đến mức cả hai bên quên mất từng có lúc hai dân tộc này chém giết nhau. Bên cạnh hắn là vợ, phụ nữ thảo nguyên tóc bện dài, mặt rám nắng, cười rộng, tay dắt đứa con trai khoảng bảy tám tuổi mặt tròn mắt sáng đang ngó nghiêng mọi thứ trong phủ với vẻ tò mò của đứa trẻ lần đầu thấy mái ngói cong.

"Lão Tiết."

Ca Lặc gọi, giọng vang, kiểu giọng của người quen nói chuyện giữa thảo nguyên gió lớn nên vào phòng kín vẫn nói to.

"Rượu năm nay ngon hơn năm ngoái."

Anh nhìn hắn, nhìn bình rượu hắn xách theo, rồi nhìn vợ hắn đang nhìn quanh phủ bằng mắt thân thiện nhưng thẩm định, kiểu nhìn của phụ nữ thảo nguyên khi bước vào nhà người khác là nhìn bếp trước nhìn sảnh sau.

"Vì năm nay nàng nấu, không phải ta."

Anh nói.

Ca Lặc cười phá lên, tiếng cười vang cả sân, kiểu cười của người đã tìm được người bạn đáng cười cùng mà không phải giả vờ lịch sự. Vợ hắn nghe chồng nói "nàng nấu" thì liếc hắn một cái, hắn im ngay, nhưng mắt vẫn cười. Anh nhận ra rằng trên thảo nguyên hắn có thể là hãn nhưng ở nhà hắn cũng chỉ là chồng y như anh.

Theo sau hắn là Trần Hựu, viên phó tướng năm xưa đứng cạnh hắn trong trướng mà báo tin có quân từ kinh thành kéo tới. Giờ ông ta trông coi toàn bộ chợ ngựa ở biên giới phía bắc, người mà mỗi mùa thu Vương Hắc phải ngồi cãi nhau nửa ngày về giá da cừu rồi cuối cùng vẫn uống rượu chung. Ông ta cúi đầu chào Lan Chu theo lối Đại Tần, cúi hơi vụng vì tập mãi vẫn chưa quen. Anh chào lại theo lối thảo nguyên, tay đặt lên ngực, cũng vụng y như vậy, rồi cả hai cùng cười vì cả hai đều biết mình vừa làm sai.

Đứa con trai Ca Lặc đứng ở sân nhìn quanh thì thấy hai đứa trẻ chạy từ hành lang phía đông ra, thằng lớn khoảng tám tuổi cầm thanh kiếm gỗ, con bé khoảng năm tuổi cầm cuốn sách đã sờn góc. Con anh và cô. Thằng lớn giống mẹ, mặt nghiêm, lưng thẳng, cầm kiếm gỗ bằng tay phải đúng thế, nhưng mắt thì giống anh, sáng và tĩnh, kiểu mắt quan sát trước khi hành động. Con bé giống anh nhiều hơn, gầy, tóc hơi rối, ôm sách chạy theo anh trai mà dép rộng lệt bệt y như Tiểu Hà ngày xưa.

Ba đứa trẻ nhìn nhau. Đứa con Ca Lặc nhìn thanh kiếm gỗ, mắt sáng lên. Thằng lớn nhìn lại, dơ kiếm gỗ ra. Không ai nói gì, không cần nói, vì trẻ con không cần cha mẹ giới thiệu để bắt đầu chơi cùng nhau, chúng chỉ cần một thanh kiếm gỗ và một khoảng sân đủ rộng. Ba đứa chạy đi, tiếng cười vang trên nền gạch, tiếng kiếm gỗ gõ vào nhau lách cách, con bé chạy theo hai anh mà sách vẫn ôm khư khư không chịu buông.

Chinh Vũ từ hành lang phía tây đi ra, thấy Ca Lặc, tay nàng đặt lên chuôi kiếm theo phản xạ rồi dừng lại, vì cô biết mình không cần nữa, nhưng cơ thể vẫn nhớ, mười năm chưa quên.

Ca Lặc nhìn tay cô trên chuôi kiếm thì cười.

"Phu nhân vẫn chưa tha thứ cho ta."

Cô nhìn hắn và im lặng một nhịp, rồi bỏ tay chậm ra khỏi chuôi kiếm, kiểu chậm có chủ đích chứ không phải chậm vì lưỡng lự.

"Ta tha thứ rồi."

Cô nói.

"Tay ta chưa tha."

Ca Lặc cười lớn hơn, quay sang Lan Chu, chỉ cô, kiểu chỉ của người đang giới thiệu một tuyệt tác cho cả thế giới xem.

"Lão Tiết, phu nhân của ngươi mười năm rồi vẫn đáng sợ nhất thiên hạ."

Anh nhìn cô, nhìn tay cô vừa rời chuôi kiếm, nhìn mắt cô vẫn sắc và tỉnh hơn mọi người trong sân nhưng khoé miệng đang giấu một nụ cười rất nhỏ mà chỉ anh nhìn thấy vì anh đã học cách đọc nụ cười đó suốt mười năm.

"Ta biết."

Anh nói.

Vương Hắc đến bằng xe ngựa từ đồn Thanh Phong, vì ông ta vẫn đóng ở biên cương, vẫn ở gần đồn, vẫn ăn cơm quán Đào Nương mỗi ngày và cãi nhau với bà mỗi bữa. Lính canh đồn Thanh Phong đã quen đến mức nghe hai người cãi nhau thì biết là đến giờ ăn, không cãi thì lo vì chắc có chuyện.

Ông ta bước xuống xe, chân trái hơi nặng hơn chân phải, không đến mức tập tễnh nhưng đủ để người quen nhận ra ông ta bước chậm hơn ngày xưa một nhịp, di chứng của nhát chém đùi trái mười năm trước mà thầy thuốc nói là may lắm mới giữ được chân. Vương Hắc không bao giờ nhắc chuyện đó, không bao giờ than, chỉ thỉnh thoảng khi trời lạnh thì ngồi xoa đầu gối một lúc rồi đứng dậy đi tiếp. Đào Nương khi thấy ông ta xoa đầu gối thì bưng ra bát canh gừng nóng mà không nói gì. Bà đặt xuống, ông uống, hai người không nhìn nhau, vì nhìn thì phải nói, nói thì phải thừa nhận đau, mà cả hai đều không phải kiểu người thừa nhận đau trước mặt người kia.

Đào Nương đi sau Vương Hắc, dắt tay đứa bé chừng ba tuổi, mặt giống o6g ta đến mức ai nhìn cũng cười vì cái mặt nhỏ đó y hệt cái mặt to của ông ta thu nhỏ lại. Nhưng tính đứa bé thì giống bà, im lặng, đi bên mẹ mà mắt cứ ngó nghiêng quan sát mọi thứ bằng vẻ bình thản của người đã quyết định sẽ tự đánh giá mọi thứ trước khi phản ứng. Nó không khóc, không quấy, chỉ thi thoảng níu vạt áo mẹ mỗi khi thấy Ca Lặc cười to.

Trên xe Vương Hắc còn chở theo mấy giỏ đồ mà người biên cương gửi lên, thịt khô, mật ong rừng, một vò rượu ngô, và một bọc hạt giống buộc kỹ bằng vải nâu do Tào Phúc gửi. Người đàn ông dẫn đường qua lối mòn năm xưa giờ đã ngoài năm mươi, làm trưởng thôn ở bìa rừng phía tây Thanh Phong, năm nào cũng gói một bọc hạt giống tốt nhất của vụ vừa rồi nhờ Vương Hắc mang lên kinh, không kèm thư vì ông ta không viết được chữ, chỉ nhắn miệng đúng một câu là bảo thầy giáo trồng thử xem đất kinh thành có hợp không. Lan Chu năm nào cũng trồng và năm nào cũng nhờ người nhắn lại rằng hợp lắm.

Vương Hắc nhìn thấy Lan Chu ở sân thì cười toe toét, bước nhanh đến mức chân trái kêu gì đó trong đầu gối mà ông ta mặc kệ.

"Quân sư!"

Mười năm rồi lão vẫn gọi vậy không đổi, không sửa, không thêm bớt. Hai chữ đó ông ta bắt đầu gọi từ ngày anh bị thương nằm liệt và ông ta đứng ngoài hành lang nói với cả phủ bằng giọng bình thường nhất có thể. Từ đó đến giờ ông ta chưa gọi anh bằng bất kỳ danh xưng nào khác, dù anh đã là Trung thư thị lang, là thành viên hội đồng phụ chính, là người mà triều đình và dân chúng gọi bằng mấy chục cái tên khác nhau.

Anh nhìn Vương Hắc , nhìn Đào Nương, nhìn đứa bé.

"Đẹp trai."

Anh nói khi nhìn đứa bé.

Vương Hắc cười to hơn.

"Giống lão phu chứ!"

Rồi quay sang Đào Nương nói.

"Phải không?"

Đào Nương nhìn Vương Hắc một cái dài, không trả lời, dắt con đi thẳng vào sảnh. Anh nhìn thấy khoé miệng bà cong lên rất nhẹ khi bà quay lưng, nhẹ đến mức nếu không phải là người quen nhìn những thứ nhỏ thì sẽ không thấy.

Tiểu Hà dẫn bạn trai ra mắt vào lúc gần trưa, khi mọi người đã gần đủ mặt. Cô dẫn cậu ta đi từ cổng sân qua hành lang vào sảnh mà mặt đỏ từ cổng đến sảnh không nghỉ, tay nắm tay cậu ta mà nắm chặt quá mức cần thiết, kiểu nắm của người đang sợ nếu buông ra thì cậu ta sẽ chạy mất vì cậu ta đang sợ hơn cô. Bạn trai cô là thư sinh ở trường Lan Chu mở, học trò cũ, hiền, gầy, mắt sáng nhưng hơi cúi khi nhìn ai vì cậu ta quen cúi đầu đọc sách hơn quen ngẩng đầu nhìn người. Bây giờ cậu ta đang đi vào một căn phủ có nữ Hầu gia đeo kiếm, có lão tướng to như gấu, có thủ lĩnh Hung Nô cười ha hả ở sân, có cả hoàng thượng và Thái Hậu ngồi uống trà trong sảnh, nên cậu ta cúi đầu nhiều hơn bình thường là phải.

Vương Hắc nhìn cậu ta từ đầu đến chân, gõ tay lên bàn, mặt nghiêm.

"Thằng này được không?"

Tiểu Hà quay sang lão, mắt trợn, mặt đỏ hơn, giọng cao lên hai bậc.

"Tướng quân không có quyền duyệt!"

Lão nhìn cô, nhìn cậu ta, rồi gãi đầu.

"Lão phu hỏi thôi mà."

Chinh Vũ ngồi ở bàn, nhìn Tiểu Hà đỏ mặt cãi Vương Hắc, nhìn cậu ta sợ đến mức gần như trong suốt. Cô không nói gì, nhưng mắt cô dịu đi một chút, kiểu dịu mà chỉ xuất hiện khi cô nhìn những người cô thương nhất mà không muốn ai biết cô đang dịu. Cô nhớ ngày xưa Tiểu Hà ngồi trên thềm cạnh cái rổ khăn và nói "Vì tiểu thư không biết cách yêu ai, còn cô gia thì biết cách yêu nhưng không dám yêu nữa". Cô bé nói thật hơn bất kỳ ai trong phủ từng dám nói, và bây giờ cô bé đó đang đỏ mặt dẫn bạn trai ra mắt cả nhà mà lúng túng lần đầu trong đời, thì cô ngồi đây nhìn và không nói gì, vì nói thì sẽ phải thừa nhận mắt cô đang cay, mà tướng quân không được mắt cay giữa bữa cơm.

Ở góc sảnh, cạnh cửa sổ hướng ra vườn, Hầu gia ngồi trên ghế bành mà Phúc Bá kê riêng cho ông vì ông thích ngồi chỗ có nắng.

Ông già đi nhiều so với mười năm trước, tóc trắng hết, tay có vết đồi mồi, nhưng lưng vẫn thẳng khi ngồi vì ông là tướng quân ba mươi năm và tướng quân ngồi thẳng lưng cho đến khi không ngồi được nữa. Bệnh ông đã ổn từ lâu, nhờ cháo xương hầm và nước muối loãng và tờ giấy mà Phúc Bá đốt đêm đó, nhờ kiến thức mà con rể ông mang từ đâu đó đến mà ông không hỏi và cũng không cần biết. Vì ông là kiểu người không hỏi tại sao mình sống, chỉ cần biết ai giữ mình sống.

Đứa cháu ngoại lớn chạy ngang qua ông, kiếm gỗ trong tay, theo sau là đứa con Ca Lặc và con bé ôm sách. Thằng lớn dừng lại trước mặt ông, giơ kiếm gỗ lên, nghiêm mặt.

"Ông ngoại, con đánh thắng rồi."

Ông nhìn cháu, nhìn thanh kiếm gỗ, nhìn cái mặt nghiêm y hệt mẹ nó. Rồi ông cười, kiểu cười mà trước kia ông không bao giờ cười, kiểu cười không cần giữ, không cần giấu, không cần xem ai đang nhìn, vì ông đã qua cái tuổi cần giữ giấu bất cứ thứ gì trước mặt cháu mình.

"Giỏi."

Ông nói một chữ, nặng và nhẹ cùng lúc.

Con bé chạy đến sau, ôm sách, thở hổn hển vì chạy theo hai anh mà chân ngắn hơn. Nó nhìn ông, không nói gì, chỉ leo lên đùi ông ngồi, mở sách ra đọc, kiểu đọc của đứa trẻ năm tuổi đã biết chữ sớm hơn bạn đồng lứa vì cha nó là người dạy học và trong nhà sách nhiều hơn kiếm. Ông để cháu ngồi trên đùi, tay đặt lên lưng nó nhẹ, không nói gì, chỉ nhìn xuống trang sách nó đang đọc.

Phúc Bá đi ngang, thấy ông ngồi với hai đứa cháu, dừng lại ở cửa. Lão rót trà, đưa ông, ông nhận, hai người nhìn nhau, không nói gì, kiểu im lặng của hai người đã đi cùng nhau cả đời và biết rằng im lặng kiểu này đáng giá hơn bất kỳ câu nào có thể nói.

Bữa ăn bắt đầu vào giữa trưa. Bàn dài từ sảnh ra sân, ba mươi mấy người ngồi, ồn ào nhất là Ca Lặc ở đầu bàn phía sân đang kể chuyện đánh nhau với sói trên thảo nguyên cho lũ trẻ nghe, thằng con hắn nghe với vẻ chán vì đã nghe mấy trăm lần rồi nhưng hai đứa con Lan Chu và Chinh Vũ thì mê mẩn. Thằng lớn hỏi "rồi sao nữa" liên tục, con bé ôm sách mà quên đọc vì nghe chuyện hay hơn. Chu Đình Nghiêu ngồi cạnh Lan Chu, chê cách anh xử lý chính sách thuế vụ biên cương năm ngoái suốt nửa bữa ăn. Anh nghe và cười không đáp, kiểu hai thầy trò cãi nhau mà thực ra đang thương nhau, vì lão thần đã cáo lão mà vẫn đọc từng tấu chương anh trình triều từ quê gửi lên. Lão đọc xong thì chê, chê xong gửi lại kèm ghi chú bên lề bằng chữ li ti, và anh giữ những ghi chú đó cẩn thận hơn giữ sắc phong. Vương Hắc ăn nhanh theo kiểu quân ngũ, Đào Nương ngồi cạnh gắp thức ăn bỏ vào bát con. Ông ta nhìn đứa bé tự cầm thìa xúc ăn vụng về làm rơi vãi cả ra bàn rồi nhìn sang Đào Nương rồi quay lại nhìn con rồi cười hề hề, kiểu cười ngốc của người đàn ông lớn tuổi lần đầu có con mà vẫn không tin đó là con mình. Tiểu Hà ngồi cạnh bạn trai, cô không lúng túng nữa vì cô đã bận la bếp phụ mang thêm canh ra, bận rót rượu cho Chu Đình Nghiêu vì ông uống nhanh hơn cô rót, bận nhắc thằng lớn nhà tiểu thư đừng cầm kiếm gỗ lên bàn ăn. Cậu bạn trai ngồi cạnh im lặng ăn bằng kiểu người đã chấp nhận rằng yêu Tiểu Hà thì phải yêu luôn cả cái phủ này cùng tất cả những người ở trong đó.

Thái Hậu ngồi cạnh Hầu gia ở góc sảnh, hai người nói chuyện nhỏ, giọng thấp, kiểu nói của hai người già đã qua quá nhiều bão tố mà giờ chỉ muốn ngồi yên nghe tiếng trẻ con cười ngoài sân. Lục Kính Đường được xếp một chỗ ở đầu bàn phía sân, ngồi thẳng lưng ăn nhanh và ít nói. Thỉnh thoảng ông ngẩng lên nhìn ra cổng theo phản xạ, cho đến khi Vương Hắc rót đầy chén rượu đặt trước mặt ông và bảo hôm nay không ai đánh vào cổng đâu, ăn đi. Lúc này ông mới cười, cái cười hiếm hoi của người cả đời chỉ biết đứng gác mà hôm nay được ngồi.

Phúc Bá đứng cạnh cửa sảnh, nhìn cả bàn, nhìn từng người và đếm. Đếm không phải vì sợ thiếu chỗ, lão đã đếm ba lần rồi, mà đếm vì lão muốn nhớ. Lão bảy mươi mấy tuổi rồi, ở cái phủ này lâu hơn bất kỳ ai ngoài Hầu gia. Lão nhớ ngày xưa bàn ăn có lúc chỉ hai người, lão và ông, im lặng, canh nguội. Lão nhớ ngày anh đến, bàn vẫn năm bộ, không có bộ thứ sáu. Lão nhớ lão đặt đôi đũa của mình xuống và đi theo anh vào bếp. Lão nhớ tất cả những bữa ăn đó, nhớ từng cái bàn trống, từng cái ghế thừa. Bây giờ lão đứng đây nhìn cái bàn dài ra tận sân mà chỗ ngồi vẫn không đủ vì người quá đông, thì lão cho phép mình hít vào bằng mũi một cái dài, chớp mắt, rồi thẳng lưng lại, vì lão là Phúc Bá và Phúc Bá không khóc giữa bữa cơm.

Lan Chu ngồi ở ghế mình nhìn Chinh Vũ. Cô ngồi cạnh anh, tay đặt trên bàn, chỗ bình thường đặt chuôi kiếm nhưng hôm nay không đeo kiếm. Cô đang nhìn thằng lớn đuổi nhau với con Ca Lặc ngoài sân, mắt sáng, và khoé miệng cô có nụ cười mà mười năm trước anh chưa bao giờ được thấy, nụ cười không cần giữ, không cần giấu, không cần xem ai đang nhìn.

Anh gõ nhẹ ngón tay lên mặt bàn, một hai ba bốn. Nhịp cũ, thói quen cũ, mười năm không đổi. Nhưng mười năm trước anh gõ vì không biết nói gì, còn bây giờ anh gõ vì không cần nói gì.

Cuối bữa, Tiểu Hà bưng ra một hộp bánh hạnh nhân đặt xuống đầu bàn, nói là quà Tết nhà họ Bạch gửi sang từ hôm qua.

Chinh Vũ nhìn cái hộp, nhìn dòng chữ nhỏ đề tên người gửi ở góc nắp, chữ con gái, nét mềm và đều.

Bạch Liên Nhi đã lấy chồng từ tám năm trước, một viên quan nhỏ ở bộ Công, hiền lành và không có gì nổi bật ngoài việc thương vợ. Bây giờ cô có hai đứa con cùng một cửa hàng vải mở ở phố đông mà cô tự trông, cái cửa hàng mà người trong phố khen là chọn vải khéo nhất kinh thành vì cô nhìn một tấm vải là biết ai mặc vào sẽ ấm. Tết nào nhà cô cũng gửi sang một hộp bánh, không kèm thư, không kèm lời nhắn, và Tết nào Hầu phủ cũng gửi lại một vò rượu.

Cô cầm một cái bánh, cắn một miếng, nhai chậm. Không ai ở bàn biết rằng người đàn bà gửi hộp bánh này từng ngồi với cô trong sân chùa một buổi sáng mười mấy năm trước và nói đúng một câu mà cô nhớ đến tận bây giờ. Câu mà nếu ngày đó không có ai đủ can đảm nói ra thì có lẽ cô đã ngồi ăn Tết một mình trong sảnh trống cho đến hết đời. Cô chưa kể chuyện đó với ai, kể cả với anh. Nhưng mỗi năm khi hộp bánh được bưng vào, cô luôn là người mở nắp đầu tiên.

Buổi chiều, khi khách đã ngồi uống trà và lũ trẻ đã chạy ra vườn sau chơi, Lan Chu gọi Phúc Bá.

"Lão cho người mang mâm cỗ và bình rượu đến nhà ngục hoàng gia. Hai mâm, một cho Tam Hoàng Tử, một cho Ngũ Hoàng Tử."

Phúc Bá nhìn anh, không hỏi kèm thư hay không, vì lão đã biết câu trả lời.

"Không kèm gì cả."

Anh nói.

"Chỉ đồ ăn."

Lão gật đầu và đi sắp xếp. Được mấy bước thì anh gọi lại.

"Còn một phần nữa."

Anh nói.

"Gửi về quê."

Phúc Bá dừng lại. Lão không hỏi gửi cho ai, vì mười năm qua tháng nào lão cũng là người sai người mang tiền về cái làng đó, đều đặn, không thiếu tháng nào, không nhiều hơn cũng không ít hơn, và cũng chưa lần nào kèm theo một chữ.

"Có kèm thư không ạ?"

"Không."

Anh nói.

"Chỉ đồ ăn."

Lão gật đầu, quay đi.

Chinh Vũ đứng ở cửa sảnh và nghe hết. Mười năm trước cô đã đứng ở đầu hành lang mà nói với người đàn bà đó rằng từ nay bà không được bước vào đây. Câu đó đến giờ vẫn còn nguyên hiệu lực, cô không rút lại, anh cũng chưa từng xin cô rút lại. Nhưng cô không nói gì khi nghe anh dặn thêm một phần cỗ, không cản, không hỏi, chỉ đứng đó nhìn lưng anh một lúc rồi quay đi lo việc khác, vì có những thứ trong nhà này không cần bàn, chỉ cần một người làm và một người không ngăn.

Mâm cỗ đến ngục hoàng gia vào cuối giờ Mùi, do hai lính phủ mang đi, đặt trước cửa hai phòng giam khác nhau.

Tam Hoàng Tử nhận, ngồi ăn trong im lặng, mỉm cười nhẹ. Hắn không hỏi ai gửi vì hắn biết. Hắn không nói gì vì không cần nói, vì đây là sự tôn trọng cuối cùng giữa hai đối thủ cũ, kiểu tôn trọng không kèm thư không kèm lời chỉ kèm đồ ăn, và kiểu đó đáng giá hơn bất kỳ lá thư nào.

Ngũ Hoàng Tử nhìn mâm cỗ một hồi lâu. Hắn đẩy ra, rồi kéo lại, rồi đẩy ra, rồi kéo lại lần nữa. Cuối cùng hắn ăn, ăn chậm, ăn hết, không để thừa. Hắn không nói gì vì nhận đồ ăn từ kẻ thắng mình trong ngày Tết là thứ hắn vừa ghét vừa không thể từ chối, vì từ chối thì đói mà nhận thì phải thừa nhận rằng kẻ thắng vẫn nhớ đến mình, và bị nhớ đến kiểu này đau hơn bị quên.

Anh không biết ba người ăn thế nào, không hỏi, không cần biết. Anh chỉ biết rằng trong ngày Tết thì không ai nên ăn một mình trong phòng trống, kể cả kẻ thù cũ, kể cả người đã bán mình đi lấy năm trăm lượng bạc, vì kiểu người như anh thì không giữ nổi lòng hận ai đủ lâu để bỏ đói họ trong ngày mọi người sum vầy.

Chiều muộn, nắng xế, khách bắt đầu về.

Ca Lặc dẫn vợ con ra cổng, quay lại nhìn anh, giơ tay vẫy kiểu thảo nguyên.

"Sang năm lão Tiết đem vợ con qua thảo nguyên ăn Tết, ta dạy thằng nhỏ nhà ngươi cưỡi ngựa." Anh gật đầu và cô đứng cạnh anh nhìn theo đoàn ngựa thảo nguyên khuất dần trên đường phố chiều. Tay cô buông xuống bên hông, gần tay anh, gần mà không nắm, vì trước mặt người ngoài cô vẫn là tướng quân và tướng quân không nắm tay chồng giữa đường, nhưng ngón út cô chạm vào ngón út anh nhẹ và nhanh.

Chu Đình Nghiêu đi sau cùng, dừng ở cổng, quay lại nhìn anh.

"Năm nay chính sách di dân biên cương viết tệ hơn năm ngoái."

Lão nói.

"Chu lão về quê nghỉ Tết đi."

Anh cười nói.

Lão nhìn anh thêm một nhịp, rồi gật đầu, quay đi, gậy gõ trên đường đá đều đặn, lưng thẳng, bóng dài trên nền đường trong nắng chiều. Lão thần bảy mươi ba tuổi, cả đời không phục ai, mỗi năm tự tay xách rượu đi mấy trăm dặm đến nhà một người mà lão từng gọi là con rể Tầm gia để chê anh ta suốt một ngày rồi về. Sang năm lão sẽ lại đến, và năm sau nữa, cho đến khi nào chân lão không đi được nữa thì thôi.

Hầu phủ vắng dần. Trời tối dần. Đèn lồng đỏ ở cổng bắt đầu sáng lên trong hoàng hôn.

Phúc Bá dọn bàn ở sảnh, Tiểu Hà dọn bàn ở sân, Vương Hắc cõng con đi dạo ngoài hành lang vì đứa bé chơi cả ngày mệt nhoài mà vẫn không chịu ngủ. Đào Nương ngồi ở hiên nhìn theo ông ta cõng con mà mắt bà dịu đi theo kiểu bà chỉ dịu khi nhìn ông mà ông không biết bà đang nhìn. Hầu gia đã về phòng, cháu đã ngủ, ông ngồi cạnh cửa sổ uống trà, và khi Phúc Bá vào thay nến thì ông hỏi một câu rất nhẹ, nhẹ đến mức lão phải nghiêng tai.

"Phúc Bá. Bàn ăn hôm nay có thiếu chỗ nào không?"

Lão đứng lại, nến trong tay, nhìn ông.

"Không ạ."

Lão nói.

"Năm nay thừa."

Ông im lắng một lúc rồi gật đầu, vai hơi xuôi xuống, kiểu xuôi của người vừa đặt xuống thứ gì đó nặng mà ông đã giữ từ rất lâu. Có lẽ từ cái ngày ông nhìn bàn ăn năm bộ bát đũa mà không có bộ thứ sáu.

Chinh Vũ phi ngựa ngang qua trường dạy học vào lúc nắng chiều rọi nghiêng trên mái.

Trường lớn hơn lớp cũ rồi, lớn hơn nhiều, đã mở thêm hai dãy nhà phía sau và một sân tập ở giữa, học trò không còn là mấy đứa trẻ biên cương ngồi chen chúc trong lớp nhỏ mà đã có hàng chục lớp, có thầy phụ, có thư viện riêng, có bản đồ treo tường mà anh vẽ tay từ ngày đầu giờ đã được in lại trên lụa cho đẹp nhưng anh vẫn giữ bản vẽ tay cũ ở góc lớp vì anh thích bản đó hơn.

Một trong hai dãy nhà phía sau là lớp của A Sơn, cậu học trò mười ba tuổi năm nào ngồi ở góc lớp nhỏ, năm mười sáu tuổi giơ tay giữa đám dân làng mà hỏi thầy rằng nếu lửa giả mà quân Hung Nô kéo tới xem thì sao. Giờ cậu đã hai mươi sáu, vai rộng, giọng vang, dạy lũ trẻ đúng cái cách anh từng dạy cậu, tức là hỏi trước rồi mới giảng. Mỗi lần Lan Chu ghé trường thì cậu vẫn đứng dậy cúi đầu gọi thầy. Mỗi lần như vậy anh đều bảo cậu ngồi xuống, và cậu vẫn cứ đứng. Coi thư viện là Triệu Vân, đứa viết chữ xấu nhất lớp ngày xưa mà nhớ dai nhất lớp, giờ ngồi chép sách cả ngày bằng thứ chữ vẫn xấu y như cũ. Mỗi khi có người chê thì cậu ta lại nói đúng câu thầy từng nói, rằng chữ chỉ là công cụ.

Cô dừng ngựa ở cổng và nhìn vào.

Anh đang đứng trước lớp, giảng bài, tay cầm sách, giọng không to không nhỏ, giọng đều và ấm, kiểu giọng của người đã dạy học cả hai kiếp và vẫn thích dạy hơn bất kỳ thứ gì khác trên đời, dù bây giờ anh có thể ngồi ở bàn cao nhất triều đường mà phê duyệt tấu chương ảnh hưởng cả thiên hạ. Học trò ngồi dưới, có đứa chăm chú, có đứa ngáp, có đứa lén viết gì đó lên tay bạn ngồi cạnh, y như mọi lớp học ở mọi nơi, ở mọi thời đại, kiếp này hay kiếp trước.

Anh cười với học trò. Cười thật, cười thoải mái, cười không giữ, kiểu cười mà ngày xưa cô đứng bên ngoài nhìn vào mà nghĩ nụ cười đó không thuộc về nàng, kiểu cười mà anh chỉ cười khi anh quên mình là ai và nhớ mình từng là ai. Khi anh không phải mưu sĩ, không phải Trung thư thị lang, không phải con rể Tầm gia, mà chỉ là một giáo viên đứng trước lớp nói về những thứ đã xảy ra rất lâu trước cho những đứa trẻ đang ngồi nghe mà không biết rằng người đứng trước mặt chúng đã sống qua hai kiếp để đến đây.

Cô xuống ngựa và bước qua cổng trường, bước nhẹ, nhẹ hơn bước thường vì cô không muốn ai nghe, mặc dù bước của cô lúc nào cũng có tiếng vì cô là tướng quân và tướng quân đi đâu cũng có tiếng. Nhưng hôm nay cô cố nhẹ. Cô đi vào lớp, không nhìn ai, ngồi xuống ở hàng ghế cuối cùng.

Tay cô đặt trên bàn, chỗ bình thường đặt chuôi kiếm, nhưng hôm nay không có kiếm, chỉ có mặt bàn gỗ đã sờn vì bao nhiêu lượt học trò ngồi qua. Cô đặt tay lên đó, lòng bàn tay úp xuống, kiểu đặt của người đang giữ một chỗ cho mình ở nơi mà cô muốn thuộc về.

Anh nhìn thấy cô. Anh không dừng giảng, không gọi tên, không nói gì. Anh chỉ mỉm cười, mỉm cười mà mắt sáng hơn một chút, sáng kiểu chỉ cô nhìn thấy vì cô đã học cách đọc ánh sáng đó suốt mười năm. Rồi anh tiếp tục giảng, giọng vẫn đều, tay vẫn cầm sách, nhưng bước chân anh đi ngang qua các hàng ghế thì chậm hơn một nhịp khi qua chỗ cô ngồi, chậm vừa đủ để cô biết anh biết cô ở đây, rồi nhanh lại, rồi tiếp tục.

Cô ngồi nghe, nghe anh giảng về một trận đánh nào đó trong lịch sử mà cô không nhớ tên nhưng anh kể hay đến mức cô muốn nghe tiếp. Cô nhận ra rằng cô chưa bao giờ ngồi nghe anh giảng bài, chưa bao giờ, suốt bao nhiêu năm quen biết. Trước đó cô chỉ biết anh nấu mì, viết sách, vẽ bản đồ, đánh cờ, cứu mạng, lật triều, và yêu cô, nhưng cô chưa bao giờ ngồi ở hàng cuối lớp học nghe anh nói chuyện với học trò bằng giọng đó. Giọng nhẹ và ấm và kiên nhẫn, giọng của người sinh ra là để đứng trước lớp nói cho ai đó nghe. Bây giờ cô đang nghe dù muộn nhưng không sao, vì cô còn rất nhiều buổi chiều để ngồi ở hàng ghế này.

Nắng chiều rọi qua cửa sổ lớp học, rơi lên mặt bàn, lên trang sách, lên tay hai người cách nhau mấy hàng ghế mà gần hơn bất cứ lúc nào.

Hết.

Lời tác giả

Cảm ơn bạn đã đọc đến đây.

Nói thật thì đây không phải truyện dài đầu tay của tôi. Trước nó tôi đã viết nhiều, có những bộ dựng khung rất kỹ, có sơ đồ nhân vật, có bảng thời gian, có cả những đoạn tính trước mấy chương nữa sẽ gãy ở đâu để vá lại ngay từ bây giờ. Nhưng phần lớn những bộ đó đều dừng lại giữa đường, không phải vì tôi hết chuyện để kể mà vì tôi hay quay đầu nhìn lại, thấy chỗ này chưa ổn thì dừng để tái cấu trúc, thấy chỗ kia lệch thì xóa đi viết lại từ chương một.

Truyện này thì khác. Ý tưởng đến bất chợt, gần như chỉ là một cảnh duy nhất hiện lên trong đầu, một người bị chính mẹ mình bán đi rồi ngồi nấu mì một mình trong căn bếp không ai bước vào. Tôi viết theo cái cảnh đó, viết theo cảm xúc chứ không theo bản dựng. Tôi tự hứa với mình một điều là dù dọc đường có thấy gì đi nữa cũng không quay đầu lại, không dừng để sửa khung, không xóa để làm lại từ đầu, cứ đi thẳng một mạch từ chương một đến chương cuối.

Vì vậy truyện này không hoàn hảo, và tôi biết điều đó rõ hơn bất kỳ ai. Nếu bạn đọc kỹ thì sẽ bắt được những chỗ chưa khớp, những chi tiết tôi cài rồi quên, những đoạn mà nếu được dựng lại từ đầu chắc chắn sẽ gọn gàng hơn nhiều. Tôi vẫn chọn để nguyên như vậy. Bởi với một bộ truyện đăng nhiều kỳ, thứ đáng giữ nhất với tôi không phải là sự tròn trịa của bản thảo mà là mạch cảm xúc chạy liên tục từ ngày bạn quyết định nhảy hố cho tới chương cuối cùng. Mỗi lần tác giả dừng lại để đập đi xây lại là một lần mạch đó bị cắt, người đọc quay lại thì gặp một câu chuyện hơi khác, một giọng hơi khác, còn cái rung động ban đầu thì đã rơi mất ở đâu đó trên đường. Tôi không muốn làm điều đó với những người đã đi cùng tôi từ chương một.

Đây cũng là truyện đầu tiên tôi thật sự dám đăng công khai, vì viết cho mình thì dễ mà viết cho người khác đọc thì khác. Viết cho người khác đọc thì phải chịu được chuyện có người thích và có người không thích và tôi từng không chắc mình chịu được. Đăng chương đầu tiên xong tôi ngồi làm mới trang liên tục như người bệnh, sợ không ai đọc, sợ có người đọc mà chê, sợ có người khen mà mình không xứng với lời khen đó. Hóa ra đem tác phẩm của mình chia sẻ cho người lạ vừa là vinh dự vừa là áp lực, vì mỗi chương đăng lên là một lần mình đứng giữa sân mà mở lòng ra, y như Lan Chu đứng trước lớp giảng bài lần đầu tiên, không biết có ai nghe không, chỉ biết mình muốn nói.

104 chương và tôi nhớ rõ từng chương. Nhớ cái bàn ăn năm bộ bát đũa không có bộ thứ sáu và lão quản gia đặt đũa xuống đi theo anh vào bếp. Tôi ngồi khóc trước màn hình mà không hiểu tại sao mình khóc vì đó là nhân vật của mình, tôi tạo ra họ, tôi biết chuyện gì sẽ xảy ra, vậy mà tôi vẫn khóc. Sau đó tôi hiểu rằng tôi khóc vì tôi viết về sự vô hình và sự vô hình là thứ tôi biết rõ hơn tôi nghĩ.

Nhớ anh ngã bốn lần trên lưng ngựa và bốn lần leo lên lại. Tôi nhớ rằng khi viết xong cảnh đó tôi phải đi uống nước vì tay run, không phải vì cảnh đó khó viết mà vì tôi nhận ra mình đang viết về chính mình, về tất cả những lần tôi ngã và tự hỏi có nên đứng dậy không. Lan Chu đã trả lời giúp tôi rằng hãy đứng dậy, không phải vì không đau, mà vì có người cần mình đến.

Nhớ "Mì nguội rồi, nhưng nàng có ăn không?". Câu đó tôi viết đi viết lại mười mấy lần vì tôi muốn nó nhẹ nhất có thể, nhẹ như thể anh chỉ đang hỏi một câu bình thường, trong khi cả truyện gói gọn trong câu đó. Khi viết xong tôi ngồi nhìn mấy chữ đó rất lâu mà nghĩ rằng nếu cả đời viết văn mà chỉ viết được một câu tốt thì câu này là đủ.

Cảm ơn Lan Chu vì anh dạy tôi rằng sức mạnh thật sự không nằm ở chỗ đánh thắng mà ở chỗ kiên nhẫn đứng lại khi cả thế giới bảo bạn đi. Cảm ơn Chinh Vũ vì cô dạy tôi rằng mạnh không có nghĩa là không cần ai, và yêu thương không phải điểm yếu mà là thứ đáng sợ nhất trên đời vì nó buộc bạn phải mở lòng ra cho người khác bước vào. Cảm ơn Phúc Bá vì lão dạy tôi rằng tình thương không cần nói ra, chỉ cần đứng đó, đứng đủ lâu và đứng đúng lúc. Cảm ơn mọi nhân vật, kể cả Tam Hoàng Tử và Ngũ Hoàng Tử, vì không có họ thì không có câu chuyện này. Tôi tin rằng ngay cả nhân vật phản diện cũng xứng đáng được ăn Tết, dù là ăn trong ngục.

Và cảm ơn bạn, người đọc, vì bạn đã ngồi ở hàng ghế cuối lớp học cùng tôi suốt 104 chương, đã khóc khi tôi khóc, đã cười khi tôi cười, đã giận khi tôi giận và đã ở lại cho đến khi nắng chiều rọi qua cửa sổ rơi lên trang cuối cùng. Mỗi lượt đọc, mỗi bình luận, mỗi viên đạn các bạn gửi trên Tác Giả Việt đều là động lực để tôi gõ từng chữ mỗi đêm cho bộ truyện này và là lý do lần này tôi không cất bản thảo vào máy nữa.

Chúng ta sẽ gặp lại.

Bạch Tú Tài, viết xong vào một đêm cuối hè.

0