Quyển 2: Huyết Chiến Nam Thiên
Chương 60: Âm Mưu Luồn Qua Cao Nguyên Đá
Nam Thiên Tu Tiên Truyện
Mục lục
150 chươngCuộn, vuốt hoặc dùng hai nút để xem thêm Đã tải 150/150 chương
Gió bấc mùa đông rít qua những khe đá tai mèo xám ngắt, tạo nên những thanh âm vi vu rợn người như tiếng sáo thổi giữa cõi u minh hoang vắng. Trước mắt Lý Quân, cao nguyên đá Đồng Văn mở ra ngút ngàn tới tận chân trời. Đó là một đại dương đá vôi kỳ vĩ và khốc liệt, nơi hàng vạn ngọn núi đá nhọn hoắt tựa như những chiếc răng cưa của rồng đá khổng lồ cắm ngược lên nền trời chì xám buốt giá. Sương mù đặc quánh như sữa bò bảng lảng quấn chặt lấy các sườn đèo dốc đứng, chỉ chốc chốc lại bị những cơn gió lốc vùng cao xé toạc ra, để lộ những vực thẳm sâu hun hút đen ngòm không thấy đáy. Hơi lạnh biên thùy buốt rát như hàng ngàn mũi kim châm tạt thẳng vào da mặt, làm tê dại cả sống mũi và vành tai.
Thế nhưng, giữa vùng đất đá cằn cỗi khắc nghiệt dường như không một loài sinh vật nào tồn tại nổi ấy, sự sống của con người cõi Nam vẫn bền bỉ vươn lên một cách phi thường. Dọc theo những hốc đá tai mèo nhỏ hẹp chỉ bằng chiếc nón lá, nơi chỉ có một vốc đất mùn ít ỏi chắt chiu qua bao mùa mưa nắng, những vạt hoa tam giác mạch li ti trổ bông trắng phớt hồng tím, kiên cường rung rinh trong gió lạnh. Xa xa dưới chân thung lũng, những nếp nhà trình tường bằng đất sét vàng óng lợp ngói âm dương xám rêu nép mình bên vách đá. Khói bếp lam chiều mang theo mùi ngai ngái nồng ấm của củi sa mộc, mùi bắp ngô nương phơi khô và mùi cám bùi bùi bay là đà qua những hàng rào đá xếp tay khéo léo, kỳ công qua ba thế hệ.
Lý Quân bước đi trên con đường mòn lởm chởm đá dăm cheo leo men theo triền núi. Đôi dép lốp cao su dẻo dai bám chắc vào từng gờ đá trơn trượt bởi lớp sương muối trắng nhờn. Trên vai hắn, chiếc gùi mây mộc mạc chứa hai khúc Cung Gỗ Lim ngàm đồng tháo khớp của người thợ săn Chi Lăng đung đưa nhịp nhàng theo từng bước chân vững chãi. Tà áo chàm đã sờn rách đôi chỗ bay phần phật trong gió núi buốt giá, để lộ làn da rám nắng đồng thau vững chắc.
Dưới vạt áo chàm trước ngực hắn, chuột Hắc Tí thò chiếc mũi nhỏ màu hồng hào ra hít hà không khí mát lạnh. Được nuôi dưỡng bằng linh khí Thổ hệ của đất đá vôi ngàn năm, nó có vẻ vô cùng phấn khích, hai mắt đen nhánh đảo lia lịa, hai chiếc tai nhỏ hình chiếc lá vểnh lên nghe ngóng từng tiếng động nhỏ nhất trong lòng đất sâu, thỉnh thoảng lại gặm lách cách mẩu rễ cây khô mà chủ nhân bỏ vào túi áo. Trước khi tiến lên đèo Cổng Trời, Lý Quân ghé qua một góc chợ phiên vùng cao họp sớm bên sườn núi sương mờ.
Khung cảnh chợ phiên rực rỡ sắc màu bừng lên giữa nền đá xám lạnh lẽo: những tà váy thổ cẩm xoay tròn sặc sỡ hoa văn cánh bướm của các cô gái Mông, khăn quấn đầu màu chàm sẫm của người Dao Đỏ, tiếng bạc xủng xoảng đeo trên cổ và cổ tay của các em bé vùng cao líu ríu theo mẹ xuống chợ. Từ những chiếc lều bạt căng tạm bợ, mùi chảo thắng cố khổng lồ bốc khói nghi ngút, tỏa ra mùi thơm ngào ngạt của hoa hồi, thảo quả, quế chi và lòng bò ninh nhừ béo ngậy. Bên góc quán lá, tiếng khèn Mông dặt dìu, da diết cất lên, khi trầm bổng như tiếng gió luồn qua khe đá, khi vút cao như cánh chim ưng chao lượn trên đỉnh Mã Pí Lèng.
Lý Quân bước vào một quán nhỏ ven chợ, mua một nắm mèn mén ngô nương vàng ruộm và một bát canh đậu chát ấm nóng. Mèn mén được bà mế người Mông xay mịn từ hạt ngô nương phơi khô qua ba lần sương, đồ chín hai lần trên chõ gỗ thông, khi nhai kỹ trong miệng bùi bùi, ngòn ngọt vị đất mẹ, nuốt đến đâu ấm sực lồng ngực đến đó. Thêm một chút ớt gió mắt quỷ cay xé lưỡi ngâm măng chua, cái lạnh buốt giá của biên ải dường như tan biến hoàn toàn.
Nhìn nụ cười hiền hậu, chất phác của bà mế người Mông đưa bát nước canh cho mình, nhìn những đứa trẻ má đỏ hây hây vì nẻ sương đang hồn nhiên chia nhau bắp ngô nướng thơm lừng, trong lòng Lý Quân dâng lên một niềm xót xa và yêu thương vô bờ bến:
Đồng bào ta chắt chiu từng hạt đất trên hốc đá tai mèo để gieo hạt ngô, kiên cường bám trụ nơi biên cương hiểm trở này qua ngàn đời. Vậy mà bầy giặc dữ phương Bắc lại rắp tâm đem gươm đao và xe cơ quan tàn bạo tới đục nát lòng đất mẹ, toan cướp đi sự bình yên mộc mạc này! Mảnh đất này dẫu một hòn đá, một nhành hoa tam giác mạch cũng là máu thịt của non sông cõi Nam, tuyệt đối không thể để rơi vào tay lũ sài lang!
Rời khỏi chợ phiên, Lý Quân rảo bước theo con đèo dốc ngược cheo leo dẫn lên Cổng Trời Quản Bạ. Đến lưng chừng đèo, nơi sương mù giăng kín như một bức rèm bạc khổng lồ, hắn dừng chân trước một quán trà nhỏ dựng bằng vách nứa đơn sơ nép mình dưới bóng một cây sa mộc cổ thụ hàng trăm năm tuổi. Một làn khói thơm ngát bốc lên từ chiếc ấm đất nung đặt trên kiềng sắt ba chân bên bếp than củi rực hồng. Người chủ quán là một lão nhân mặc chiếc áo chàm đen dài tới gối của người Tày, đầu quấn khăn vuông, chòm râu bạc dài chấm ngực, đang cặm cụi cời đống than hồng đỏ rực. Tiếng củi thông nổ tí tách lách cách hòa cùng tiếng nước sôi ùng ục êm đềm.
Thấy bóng người khách bộ hành áo nâu mang gùi mây bước vào, lão ngẩng đầu lên. Ánh mắt sắc sảo như chim ưng của bậc tu sĩ ẩn mình khẽ lướt qua tà áo chàm và thanh kiếm bọc vải gai bên hông Lý Quân, rồi nhanh chóng trở lại vẻ bình thản của một người phàm buôn bán nơi sơn cùng thủy tận:
— Khách qua đèo, trời lạnh sương dày, mời vào uống chén trà nóng cho ấm bụng!
Lão cất tiếng, giọng nói tuy khàn đục nhưng hơi thở trầm ổn, sâu thẳm khác thường:
— Đa tạ lão trượng.
Lý Quân bước vào quán, tháo chiếc gùi mây đặt xuống chiếc chõng tre bên cạnh. Hắn ngồi xuống chiếc ghế đẩu làm bằng gỗ nghiến xám đen, ngón tay khẽ gõ nhẹ ba nhịp ngắn, hai nhịp dài lên mặt bàn tre theo đúng ám hiệu bí mật của Khâm Thiên Giám cõi Nam. Đôi lông mày bạc của lão nhân khẽ nhúc nhích. Lão không nói một lời, lặng lẽ rót một bát nước chè san tuyết cổ thụ sóng sánh sắc vàng hổ phách, thơm ngát mùi búp chè ngậm sương tuyết trên đỉnh Chiêu Lầu Thi, đẩy sang trước mặt Lý Quân. Dưới đáy bát gốm tráng men da lươn thô mộc, một dòng ký hiệu hình chim hạc ngậm bông lúa nước mờ mờ hiện lên dưới làn nước trong rồi tan biến vào làn khói ấm.
Lão nhân quay lưng lại bếp lửa, vờ như đang gạt tàn tro trấu, nhưng luồng truyền âm bí mật đã rót thẳng vào tâm thức Lý Quân:
— Vị Tiên Kiếm Áo Nâu... Đạo huynh rốt cuộc đã tới đất Hà Giang!
Lý Quân nâng bát chè nóng, nhấp một ngụm nhỏ. Vị đắng chát đậm đà lan tỏa nơi đầu lưỡi rồi nhanh chóng biến thành vị ngọt hậu thanh tao thấm sâu vào cuống họng, làm ấm sực cả lồng ngực đang hứng chịu những đợt gió lạnh biên cương. Hắn khẽ truyền âm đáp lại:
— Đạo hữu chính là mật sứ của Khâm Thiên Giám tại phân đà cao nguyên Đồng Văn?
Lão nhân khẽ gật đầu, vẻ mặt trở nên vô cùng nghiêm trọng:
— Chính là lão hủ. Lão hủ phụng mệnh Chánh Tiên Sư Trần Đạo Hiền đóng chốt tại con đèo hiểm yếu này hơn ba mươi năm qua. Chiến báo từ tiền tuyến truyền về liên tục. Trận đại thắng bãi cọc sông Gâm của đạo huynh đã giáng một đòn chí mạng vào thủy quân Bắc Cực Hàn Thiên Tông, chém chết Chấn Lôi Tướng Quân, chôn vùi hai mươi cỗ thuyền băng, bảo vệ toàn vẹn phòng tuyến phía Đông Bắc!
Lão nhân dừng lại một nhịp, thò bàn tay gầy guộc vào trong đống tro trấu dưới đáy bếp than, rút ra một chiếc ống đồng nhỏ dài bằng ngón tay, bên ngoài niêm phong bằng lớp sáp ong đỏ thẫm có in dấu triện Khâm Thiên Giám hình hoa sen tám cánh, kín đáo đẩy sang mép bàn Lý Quân:
— Thế nhưng... bầy sói tuyết phương Bắc không hề từ bỏ dã tâm xâm lược! Thất bại nhục nhã ở sông Gâm khiến tổng hành dinh ma đạo của chúng tại Nhạn Môn Quan nổi trận lôi đình. Chúng biết quân dân cõi Nam đã chuẩn bị kỹ lưỡng tuyến phòng thủ đường sông, nên lập tức thay đổi toàn bộ kế hoạch tác chiến chiến lược!
Lý Quân vươn tay miết nhẹ ngón tay trỏ lên lớp sáp ong đỏ. Một giọt linh lực Kim Đan thượng phẩm của hắn truyền vào, lớp sáp ong tan chảy êm ru, để lộ mảnh lụa điều ghi chép những dòng chữ mực son chu sa khẩn cấp.
Càng đọc, ánh mắt Lý Quân càng ngưng trọng lại:
Sau khi hạm đội sông Gâm bị tiêu diệt, Bắc Cực Hàn Thiên Tông đã quyết định tung ra con bài tẩy hung hãn nhất của đại quân xâm lược. Thống lĩnh cánh quân mới này không còn là những kẻ đơn độc như Hàn Phong Lãnh hay Chấn Lôi Tướng Quân, mà là Băng Diễm Song Sát!
Đó là hai đại ma đầu khét tiếng phương Bắc, tu vi đều đã đạt tới cảnh giới Kim Đan hậu kỳ viên mãn! Kẻ thứ nhất tên gọi Băng Sát Ma Quân, tu luyện công pháp Băng Phách Tuyết Ma Đao, hàn khí có thể đóng băng kinh mạch cả một tòa thành trong chớp mắt; kẻ thứ hai tên gọi Diễm Hồn Lão Quái, tu luyện Cửu U Hắc Diễm, ngọn lửa ma quái màu đen tím chuyên thiêu rụi thần hồn phàm nhân và tu sĩ, tàn độc khôn cùng. Hai kẻ này một âm một dương, một băng một hỏa, phối hợp tác chiến tương sinh tương khắc vô cùng quỷ dị và tàn bạo, từng chém giết vô số cường giả Kim Đan khắp các châu phủ phương Bắc!
Dưới trướng của Băng Diễm Song Sát là năm vạn thiết kỵ tinh nhuệ cùng hơn ba ngàn tà tu ma đạo hung hãn. Thế nhưng, điều nguy hiểm nhất nằm ở chỗ: Chúng không hành quân dàn trận chính diện qua các cửa ải kiên cố như Nam Quan hay Chi Lăng, mà chọn con đường thọc sâu hiểm hóc nhất: Đánh luồn qua cao nguyên đá Đồng Văn! Để vượt qua địa hình hiểm trở muôn trùng núi đá vôi tai mèo dựng đứng của Hà Giang, giặc đã mang theo ba cỗ chiến xa cơ quan ma quái thượng cổ mang tên "Địa Băng Xuyên Sơn Hạm"!
— Địa Băng Xuyên Sơn Hạm?!
Lý Quân khẽ nhíu mày hỏi.
Lão nhân Khâm Thiên Giám cất giọng lo âu, từng lời như cứa vào lòng đá:
— Đúng vậy! Đó là cự thú chiến trận tà ác dài hơn hai mươi trượng, toàn thân đúc bằng huyền thiết ngàn năm bọc trận pháp lôi băng đào ngầm. Mũi khoan phía trước của nó khảm kim cương thạch và bùa chú phá thạch, vận hành bằng ma tinh tuyết sơn, khi xoay tròn phát ra tiếng gầm rú rung chuyển núi rừng, có thể nghiền nát đá vôi thành bột cám, đào những đường hầm khổng lồ xuyên thẳng qua lòng núi mà không gây sạt lở bề mặt. Âm mưu của Băng Diễm Song Sát là dùng ba cỗ xuyên sơn hạm này đục xuyên qua lòng dãy núi đá Lũng Cú, luồn sâu xuống Hẻm vực Tu Sản bên dòng sông Nho Quế!
Lão nhân chỉ tay về phía bản đồ địa hình vẽ chi tiết các dãy núi hiểm trở phía Tây:
— Hẻm Tu Sản là hẻm vực sâu và hiểm trở nhất cõi Nam, hai bên vách đá dựng đứng sâu tới ngàn trượng, dòng sông Nho Quế bên dưới nước chảy xiết như mũi tên. Phía sau hẻm Tu Sản chính là con đường huyết mạch thông thẳng xuống Tuyên Quang, Phú Thọ. Nếu để bầy xuyên sơn hạm của giặc đục thông hẻm vực này, toàn bộ long mạch phía Tây Bắc sẽ bị chém đứt! Năm vạn quân giặc sẽ như đàn thiểm lôi thọc sâu vào sườn yếu nhất của đất nước, đánh úp kinh thành Thăng Long trong khi đại quân ta đang dồn lực huyết chiến ở Ải Chi Lăng!
Cục diện nguy ngập đến nghìn cân treo sợi tóc! Lý Quân trầm ngâm nhìn mảnh mật thư trong tay. Hắn thò tay vào túi áo chàm, rút ra tấm da dê cổ kính mà Hàn Bân Cơ vừa trao tặng trước khi chia tay ở bến Cốc Đán. Tấm da dê mở ra trên mặt bàn tre. Đó là bản đồ sông ngầm và các hang động đá vôi do các thế hệ tiền bối Thủy Phủ Tứ Phủ Đạo Tông dày công khảo sát suốt trăm năm qua. Trên tấm bản đồ ấy, dòng sông Nho Quế màu xanh ngọc bích uốn lượn như một dải lụa mềm mại dưới chân đỉnh đèo Mã Pí Lèng cao chọc trời, cắt xẻ dãy núi đá vôi thành một khe nứt hẹp đến rợn người — đó chính là Hẻm vực Tu Sản!
Nhìn vào cấu trúc thớ đá lòng đất kỳ vĩ của hẻm vực Tu Sản, đôi mắt Lý Quân bỗng sáng rực lên một tia sáng kỳ lạ. Hắn nhìn thấy gì? Hắn nhìn thấy hai vách đá vôi sừng sững cao hơn ba trăm trượng, dựng đứng như hai bức tường thành trời sinh kẹp chặt lấy dòng sông Nho Quế. Lòng sông ở khúc hẹp nhất chỉ rộng chừng mười trượng, hai bên bờ hắc huyền thạch ngầm lởm chởm, dòng nước chảy xiết như thác đổ luồn qua các hang động ngầm dưới đáy vực. Một nơi hiểm trở đến cùng cực như thế, đối với kẻ tấn công bằng thuyền bè và xe cơ quan cồng kềnh, chính là một chiếc bẫy tự nhiên khổng lồ do trời đất cõi Nam tạo tác!
— Cơ quan tinh xảo ư? Băng Diễm Song Sát Kim Đan hậu kỳ ư?
Lý Quân bỗng bật cười. Tiếng cười của hắn nhỏ thôi, nhưng hào sảng và đanh thép như tiếng đá va vào sắt thép giữa non ngàn:
— Lũ giặc phương Bắc cậy đông quân, cậy xe cơ quan đào núi đục đá, tưởng rằng có thể coi trời bằng vung! Nhưng chúng có biết đâu rằng, non sông đất Việt này sinh ra đá tai mèo sắc nhọn, sinh ra hẻm vực sâu ngàn trượng, không phải để làm cảnh cho người ta ngắm, mà chính là để làm mồ chôn bầy thú dữ ngoại xâm!
Lý Quân ngẩng đầu nhìn lão nhân Khâm Thiên Giám, giọng nói đượm vẻ kiên định tựa Thái Sơn:
— Đạo hữu hãy lập tức dùng linh ưng gửi mật thư về Thăng Long cho Chánh Tiên Sư Trần Đạo Hiền: Xin Người cứ an tâm giữ vững chiến trường chính diện Chi Lăng! Hướng Tây Bắc cao nguyên đá Đồng Văn và Hẻm vực Tu Sản này, đã có Lý Giang Điền ta trấn giữ!
— Đạo huynh định một mình ngăn chặn năm vạn đại quân và Băng Diễm Song Sát sao?!
Lão nhân run giọng kinh ngạc, ánh mắt tràn đầy sự khâm phục lẫn âu lo.
Lý Quân đứng dậy, vác chiếc gùi mây lên vai, xỏ chân vào đôi dép lốp cao su, đội chiếc nón lá rách lên đầu. Hắn vỗ nhẹ vào thanh Long Văn Cổ Kiếm bên hông, ánh mắt hướng thẳng về phía đỉnh đèo Mã Pí Lèng mờ sương phía trước:
— Một mình ta thì không thể, nhưng ta có đá tai mèo của cao nguyên Đồng Văn, có dòng nước cuộn của sông Nho Quế, và có lòng son của muôn dân cõi Nam! Ta sẽ đến hẻm Tu Sản trước bầy giặc dữ, đào sẵn huyệt sâu dưới đáy sông ngọc bích để đón chúng!
Nói rồi, Lý Quân rút ra vài đồng tiền đồng đặt lên mặt bàn tre trả tiền trà, chắp tay chào người mật sứ già, rồi sải những bước chân thoăn thoắt bước ra khỏi quán nước. Gió lạnh trên đèo Cổng Trời thổi thốc vào tà áo chàm sờn rách, mang theo hương vị ngai ngái nồng ấm của hoa tam giác mạch và mùi đá vôi ẩm ướt. Bóng lưng chàng trai vạn chài áo nâu vẫn sừng sững tiến bước giữa ngút ngàn rừng đá tai mèo, hướng thẳng về đỉnh đèo Mã Pí Lèng hùng vĩ. Trận đại quyết chiến mới của non sông đất Việt tại Hẻm vực Tu Sản sông Nho Quế đã bắt đầu gióng lên những hồi trống trận đầu tiên!
THƠ KẾT CHƯƠNG:
Đồng Văn đá dựng ngút trời mây,
Giặc dữ mưu sâu thọc lối này.
Hạm sắt toan xuyên hòng phá lũy,
Bần nông quyết giữ trọn then cày.
Vực sâu Tu Sản giăng mồi hiểm,
Dòng cuộn Nho Giang đón kiếm bay.
Một bóng áo chàm ngăn vạn giặc,
Vùi thây lũ bạo rạng nghìn nay!
Thảo luận
Bình luận chương
0 bình luận
Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên bình luận chương này.