Nam Thiên Tu Tiên Truyện

Quyển 2: Huyết Chiến Nam Thiên

Chương 34: Cái Gật Đầu Giữa Mưa Rừng

Đăng: 17/10/2026 22:29 3,393 từ 4 lượt đọc

Màn mưa rừng Chi Lăng dăng kín một màu trắng xóa, từng hạt mưa lạnh ngắt như kim châm xối xả đập vào vách đá Ma Nhai dựng đứng. Khói đen khét lẹt từ đám lưới sắt cháy dở đã bị gió bấc quấn đi gần hết, nhường chỗ cho mùi hắc huyền thạch vỡ vụn nồng nặc và mùi thơm the mát, ấm nồng của Dầu Tràm U Minh đọng lại trên từng khe nứt đá vôi. Trên mỏm đá hiểm trở ngổn ngang xác tà tu Hắc Băng Môn, người thợ săn áo nâu Lý Quân chầm chậm tra thanh Long Văn Cổ Kiếm vào bao vải thô sau lưng. Hắn hạ chiếc gùi mây xuống, hai đoạn Cung Gỗ Lim tháo khớp bọc ngàm đồng thau gài dọc nan sườn cùng sợi dây bện gân trâu nước ngâm sáp ong phát ra tiếng then cài kêu cách nhẹ nhàng khi được xếp gọn.

Chiếc nón lá lưu ly rủ bóng râm khẽ nhấc lên một chút, để lộ ra đôi mắt một mí sắc lạnh nhưng tĩnh lặng tựa như mặt hồ mùa đông. Hắn không nói một lời, cẩn thận bước qua vũng máu đen của Độc Ngô Công, tiến thẳng về phía miệng hốc đá hẹp nơi ba thầy trò Tứ Phủ Đạo Tông đang nương náu.

Trong hốc đá tối tăm và ẩm thấp, Hàn Bân Cơ vẫn đứng sừng sững tựa lưng vào vách đá hoa cương. Chiếc áo dài lam y rách bươm tả tơi loang lổ những vệt máu khô thẫm màu, đôi bờ vai gầy khẽ run lên từng nhịp vì kiệt sức và cái lạnh thấu xương của gió núi. Bàn tay nàng vẫn nắm chặt chiếc Bích Ba Huyễn Thủy Kính, làn sóng nước xanh biếc trên mặt gương đã mờ nhạt đi nhiều, nhưng ánh mắt phượng trong veo của nàng nhìn ra ngoài màn mưa lại sáng rực lên một vẻ kiên định phi thường.

Bốn mắt nhìn nhau giữa màn mưa mù biên ải. Không có tiếng reo mừng hoa mỹ, không có những giọt nước mắt sụt sùi yếu mềm, và tuyệt đối không có những lời thề thốt ủy mị sáo mòn của phường thế tục. Giữa hai con người từng trải qua bể máu chốn tu tiên cõi Nam, từng cùng nhau chia sẻ sinh tử từ bến đò sông Mã, rạn san hô Cô Tô cho đến ải hiểm Chi Lăng, chỉ có một sự thấu hiểu sâu sắc đến tận tâm can.

— Huynh... rốt cuộc đã tới.

Hàn Bân Cơ khẽ cất tiếng, thanh âm trong trẻo như tiếng suối reo nhưng lúc này đã khản đặc vì mất máu và giá buốt.

Lý Quân khẽ gật đầu, giọng nói trầm ấm, mộc mạc như hạt lúa củ khoai quê nhà:

— Đến rồi. Nghe phong thanh Khâm Thiên Giám có mật báo về ải Chi Lăng, ta ngược dòng sông Thương lên đây. Hàn cô nương dãi gió dầm mưa mấy ngày qua, vẫn bình an chứ?

— Còn một hơi thở, giữ được chiếc gương hộ môn, chưa làm nhục mệnh Tứ Phủ cõi Nam.

Nàng khẽ đáp, khóe môi thoáng hiện một nét bình thản kiêu hãnh của bậc chân truyền. — Lý Quân đưa mắt nhìn vào góc sâu của hốc đá.

Hai đệ tử trẻ tuổi của Thủy Phủ đang ngồi co ro bên đống rêu ẩm ướt. Thiếu niên tên Trần Lâm cánh tay phải bị gãy gập, xương chồi cả qua lớp da rách, trán vã mồ hôi hột vì đau đớn dữ dội; thiếu nữ tên Vũ Hà sắc mặt tím tái, đùi trái bị kiếm độc của tà tu đâm thủng một lỗ sâu hoắm, máu đen tanh nồng rỉ ra làm đông cứng cả lớp vải quần lụa mỏng.

— Hàn cô nương ngồi xuống đả tọa đi. Để hai người họ cho ta.

Lý Quân đặt chiếc gùi mây xuống nền đá. Hắn không nhiều lời, lập tức bắt tay vào việc như một danh y lão luyện của vùng vạn chài sông Mã:

Hắn lấy ra hai thanh nẹp bằng tre già ngâm bùn mang theo từ đáy gùi. Đôi bàn tay thô ráp chai sần của hắn sờ nắn chuẩn xác vào khớp xương bị gãy của Trần Lâm. Hắn vận một luồng khí ấm từ huyệt Khí Hải, day nhẹ vào huyệt Khúc Trì và huyệt Hợp Cốc trên cánh tay thiếu niên để làm tê liệt tạm thời cảm giác đau đớn.

Một tiếng nắn xương dứt khoát, chuẩn xác vang lên! Đốt xương gãy của Trần Lâm lập tức khớp lại bằng phẳng không lệch một mảy may! Lý Quân dùng dây gai bện chặt hai thanh nẹp tre, sau đó lấy ra một nhúm bột Huyết Đằng nghiền mịn hòa với vài giọt mật ong rừng, đắp dày lên vết rách da thịt. Chất thuốc Nam the mát vừa ngấm vào da, cảm giác nhức nhối buốt tủy của thiếu niên lập tức dịu đi trông thấy, sắc mặt hồng hào trở lại!

— Đa... Đa tạ tiền bối cứu mạng!

Trần Lâm run rẩy cúi đầu cảm kích:

— Đừng cử động mạnh. Xương đã vào khớp, sau ba ngày là có thể nhấc tay được.

Lý Quân dặn dò ngắn gọn.

Tiếp đó, hắn bước sang phía thiếu nữ Vũ Hà. Nhìn vết kiếm độc đóng băng đen ngòm nơi bắp đùi nàng, Lý Quân khẽ cau mày:

— Đây là độc tính của Băng Hồn Xà tẩm trên kiếm khí phương Bắc, ăn mòn huyết mạch, nếu không trục xuất kịp thời thì sau nửa ngày toàn bộ chân trái sẽ hoại tử thành than đá.

Hắn rút từ túi vải một con dao con bằng đồng thau nhỏ xíu, hơ qua ngọn lửa bấc đèn dầu trẩu, rồi khẽ rạch một đường chữ thập nhỏ ngay miệng vết thương. Máu đen tanh tưởi trào ra ngoài đặc quánh như hắc ín. Lý Quân mở chiếc bình gốm nhỏ, nhỏ vào ba giọt Dầu Tràm U Minh, hòa cùng một nhúm bột rễ Củ Bình Vôi trăm năm đắp thẳng vào miệng vết rách!

Chất dầu tràm ấm nóng gặp hàn độc lập tức sôi bọt sùng sục, đẩy từng mảng máu đông bầm đen trào ra ngoài miệng vết thương. Vị đắng chát và ấm nóng của thảo dược nhiệt đới nhanh chóng phong tỏa đường kinh lạc, ngăn không cho độc khí chạy ngược về tim. Vũ Hà cắn chặt răng nén tiếng rên khẽ, một khắc sau hơi thở nàng đã đều đặn trở lại, làn môi nhợt nhạt bắt đầu có lại sắc hồng tươi tắn.

Chứng kiến từng thủ pháp chữa thương điêu luyện, thực dụng mà không hề tiêu hao một tia linh lực quý báu nào của Lý Quân, Hàn Bân Cơ đứng bên cạnh không khỏi thầm kinh ngạc. Nàng là con nhà danh gia vọng tộc Tứ Phủ, từng thấy các bậc đan sư thượng giới dùng linh đan cao cấp tỏa hào quang rực rỡ cứu người, nhưng chưa từng thấy ai dùng những thứ cây cỏ mộc mạc của đồng bằng và rừng thiêng cõi Nam để hóa giải hàn độc hiểm hóc một cách tài tình, êm ả đến mức này! Xong việc, Lý Quân quay sang nhìn Hàn Bân Cơ.

Hắn nhận thấy sắc mặt nàng dẫu cố tỏ ra kiên cường nhưng hai bờ môi đã tím tái, một làn sương mỏng manh lạnh buốt đang bao phủ quanh vầng trán thanh tú — đó là dấu hiệu của việc kinh mạch bị hàn khí đại trận xâm lấn sau ba ngày dốc cạn chân dịch ngự kính!

Lý Quân thò tay vào đáy gùi mây, lấy ra một chiếc hộp gỗ tràm nhỏ. Mở nắp hộp ra, ba viên đan dược tròn xoe màu đỏ thẫm như quả sim chín bốc lên một làn hơi nước ấm áp, mang theo mùi thơm cay nồng nàn của gừng đá, vị ngai ngái ấm áp của củ địa hoàng và vỏ cây quế chi ngàn năm:

Đó chính là Xích Dương Hoàn — tuyệt phẩm đan đạo bản địa mà Lý Quân đã dày công chưng cất theo phép Văn Hỏa bài trừ thủy trọc của Tuệ Tĩnh đan thư!

Lý Quân đưa chiếc hộp tới trước mặt nàng, giọng điệu bình dị:

— Hàn cô nương, ngậm lấy một viên đi. Đan này nấu từ cây cỏ non sông đất Việt, không có đan độc, tính ôn nhiệt thuần dương, chuyên trị hàn thương đan điền. Nuốt vào rồi ngồi xếp bằng vận khí, hàn độc sẽ tự theo lỗ chân lông thoát ra ngoài.

Hàn Bân Cơ nhìn ba viên đan dược ấm nóng trong tay Lý Quân, ánh mắt nàng thoáng rung động. Nàng biết rõ, giữa chốn tu chân lạnh lẽo đầy lọc lừa và toan tính, một viên đan dược trị thương thuần dương ở phẩm giai này tại chợ đen biên ải có giá trị không dưới hàng chục khối linh thạch trung phẩm, có tiền cũng chưa chắc mua nổi! Vậy mà người thiếu niên áo vải này không hề do dự, tùy tiện lấy ra trao trọn cho nàng như tặng một củ khoai, chén nước chè xanh nơi thôn dã. Nàng không khách khí chối từ. Đạo nghĩa của hai người là đạo nghĩa sòng phẳng, trao trọn lưng cho nhau nơi chiến trường sinh tử, không cần những lời đãi bôi giả tạo.

Hàn Bân Cơ đưa tay nhón lấy một viên Xích Dương Hoàn, bỏ vào miệng. Viên đan vừa chạm vào cuống họng liền tan chảy thành một dòng nước ấm nồng tựa như chén rượu nếp cái hoa vàng hâm nóng đêm đông, chảy tràn xuống lồng ngực rồi rót thẳng vào huyệt Khí Hải nơi đan điền! Một luồng hơi nóng mãnh liệt bừng nở! Từng thớ cơ, từng đường kinh lạc đang đông cứng vì hàn khí của Hàn Bân Cơ bỗng chốc giãn nở ra một cách khoan khoái lạ thường. Nàng lập tức ngồi xếp bằng trên một phiến đá khô ráo, vận hành tâm pháp Thủy Phủ.

Chỉ sau ba tuần hương, toàn bộ làn da trắng nõn của nàng bốc lên từng làn khói xám tro mờ ảo mang theo mùi tanh của băng độc. Những giọt mồ hôi đen nhờ rịn ra khắp trán và bờ vai rồi bốc hơi tan biến trong không khí. Sắc mặt nàng từ tái nhợt chuyển sang hồng hào rạng rỡ, chân dịch trong bảy tầng Đạo Đài khô cạn bắt đầu hồi sinh dạt dào, đôi mắt phượng mở ra ngời ngời thần thái của một bậc kiệt xuất Trúc Cơ hậu kỳ!

Hàn Bân Cơ thở ra một luồng trọc khí ấm áp, chân thành cất tiếng:

— Đan dược tuyệt diệu lắm! Huynh học được thuật luyện đan Nam Dược này từ đâu thế? So với Ôn Dương Đan của các đại tông môn phương Bắc, thứ Xích Dương Hoàn này ấm nóng mà không táo bạo, thấm sâu vào kinh mạch tự nhiên vô cùng!

Lý Quân khẽ cười, vuốt nhẹ manh áo tơi dính nước mưa:

— Học từ một ông thầy thuốc già cào hến bốc thuốc ở quê nhà thôi. Cây cỏ cõi Nam sinh ra dưới nắng gió nhiệt đới, vốn dĩ chứa đựng dương khí của đất trời sông núi, chỉ cần biết chưng cất bài trừ nước cặn thì chính là thần dược khắc chế hoàn toàn hàn băng phương Bắc.

Hắn dừng lại một nhịp, đưa mắt nhìn ra ngoài cửa hẻm Quỷ Môn Quan u tối:

— Độc Ngô Công đã đền tội, nhưng gã trước khi chết có khai ra kẻ cầm đầu trận pháp này là Hắc Băng Thượng Nhân, đang trấn thủ cọc sắt thứ bảy trên đỉnh Ma Nhai. Hàn cô nương, rốt cuộc đại trận xương người này có lai lịch thế nào? Tứ Phủ Đạo Tông các người sao lại bị vây hãm ở hiểm địa này?

Nhắc đến chuyện đại sự, nét mặt Hàn Bân Cơ lập tức trở nên nghiêm cẩn.

Nàng thò tay vào bọc áo, rút ra một tấm da cá đuối khô cuộn tròn bằng sợi dây đồng nhỏ. Nàng trải phẳng tấm da cá lên mặt tảng hắc huyền thạch giữa hốc núi:

— Lý huynh, huynh nhìn xem.

Lý Quân cúi đầu nhìn xuống. Trên mặt da cá đuối màu xám nhạt, một bức địa đồ vẽ bằng chu sa đỏ tươi hiện ra rõ mồn một từng đường nét non sông của dải Quỷ Môn Quan Ải Chi Lăng. Chính giữa bức địa đồ là hình ảnh một con rồng đất uốn lượn hùng vĩ chạy dọc theo rặng núi đá vôi xen lẫn hắc nham — đó chính là long mạch bảo hộ biên cương cõi Nam! Thế nhưng, cắm ngập dọc theo sống lưng con rồng đất ấy lại là bảy chiếc đinh sắt màu đen kịt vẽ bằng máu động vật, tỏa ra từng luồng sát khí rợn người!

— Đây là Thất Tinh Đoạt Mạch Trận do Bắc Cực Hàn Thiên Tông ngầm sai khiến Hắc Băng Môn bố trí suốt nửa năm qua.

Giọng Hàn Bân Cơ đanh lại, ngón tay ngọc chỉ vào từng phương vị:

— Bọn chúng dùng sắt nguội đáy mỏ ngàn năm đúc thành bảy chiếc cọc Đoạt Mạch Đinh, mỗi chiếc cọc nặng tới ba ngàn cân, dài hai trượng, bên ngoài bọc kín da người và phù chú thi cốt tà ma. Bảy chiếc cọc này cắm sâu vào bảy huyệt đạo trọng yếu nhất của long mạch Chi Lăng, không ngừng hút cạn địa khí sông núi cõi Nam để ngưng tụ thành một chiếc Hàn Băng Huyết Trượng dâng lên cho Chấn Nam Sứ!

Nàng chỉ vào hai dấu chấm đỏ nằm sâu dưới đáy thung lũng:

— Hai chiếc cọc đầu tiên nằm ngay dưới chân mỏm đá Ma Nhai này, bị giặc cắm ngập dưới lòng một khe suối ngầm sâu mười trượng. Ba ngày trước, ta dẫn hai đệ tử thọc sâu vào đây định dùng lôi phù phá hủy hai chiếc cọc này, nhưng không ngờ lũ giặc đã giăng sẵn cạm bẫy phục kích, phong tỏa đường rút lui, nếu không có huynh dùng cung gỗ lim kịp thời tiếp ứng thì hôm nay ba người chúng ta đã bỏ mạng dưới lưới sắt của Độc Ngô Công rồi!

Lý Quân nhìn chăm chú vào dòng suối ngầm trên bản đồ, trong đầu hắn lập tức tính toán từng mắt xích địa hình và luồng nước chảy. Đúng lúc đó, từ trong chiếc túi da cá sấu đen dày dặn đeo bên hông hắn, bỗng nhiên có một vật nhỏ xíu cựa quậy! Một cái đầu chuột nhọn hoắt, phủ lớp lông xám đen bóng nhẫy như lụa khẽ thò ra ngoài miệng túi! Hai con mắt tròn xoe như hai hạt cườm đen láy đảo qua đảo lại, cái mũi hồng hồng nhỏ xíu không ngừng hếch lên hít hà mùi đất bùn ẩm ướt của vách đá Ma Nhai — đó chính là Hắc Tí, con chuột chúa linh dị từng theo Lý Quân từ vùng đồng bằng sông Mã!

Thấy người lạ, Hắc Tí rụt cổ lại vẻ nhát gan, nhưng ngửi thấy mùi khoáng thạch đồng thau phát ra từ chiếc Bích Ba Huyễn Thủy Kính của Hàn Bân Cơ, nó lại tò mò thò hai móng vuốt trước bám chặt lấy mép túi.

Lý Quân khẽ mỉm cười, thò tay vỗ nhẹ lên đầu con chuột nhỏ, lấy ra một mẩu rễ địa hoàng khô thưởng cho nó:

— Mày tỉnh rồi à? Ra đây ngửi thử xem luồng nước ngầm dưới chân vách đá này chảy về phương nào.

Được ăn món khoái khẩu, Hắc Tí sướng rơn nhai ngấu nghiến. Nó lập tức phóng vụt xuống nền đá ẩm ướt, cái đuôi dài ngoe nguẩy trườn nhanh qua các kẽ nứt của hắc huyền thạch. Chỉ trong chớp mắt, nó đã chui tọt vào một khe hở nhỏ chỉ vừa một bàn tay dưới chân hốc đá, nơi có tiếng nước chảy róc rách vọng lên từ lòng đất sâu!

Khoảng nửa tuần hương sau, Hắc Tí ngoi đầu trở lại, hai móng vuốt bám đầy bùn đất đen quánh. Nó nhảy tót lên vai Lý Quân, liên tục dùng đầu cọ vào tai hắn, phát ra những tiếng chít chít đứt quãng đầy phấn khích!

Đôi mắt Lý Quân sáng rực lên:

— Nó tìm thấy cửa hang suối ngầm rồi. Khe nứt này dẫn thẳng xuống một rãnh đá vôi ngập bùn sâu tám trượng dưới lòng đất, ngay phía trên dòng chảy của chiếc cọc sắt thứ nhất!

Hàn Bân Cơ nghe vậy, trong lòng không khỏi chấn động. Nàng nhìn con chuột nhỏ rồi nhìn sang Lý Quân, kinh ngạc hỏi:

— Linh thú của huynh... có thể ngửi thấy mùi kim loại ngầm dưới lòng đất sao? Suối ngầm Chi Lăng này chằng chịt hang ngầm đá vôi, ngay cả thần thức của tu sĩ Trúc Cơ cũng bị cấm chế của đại trận làm nhiễu loạn, không ngờ một con chuột nhỏ lại có thể tìm ra mạch nước chuẩn xác đến thế!

Lý Quân vuốt ve lưng Hắc Tí, giọng nói điềm đạm:

— Chuột cống đồng bằng quen đào hang lủi bùn, chủ cũ của nó là một gã tán tu nghèo tha hương chết bờ chết bụi ven sông, nó đi theo ta chỉ vì miếng ăn qua ngày. Nhưng ở chốn hiểm địa này, sự nhạy bén bản năng của loài gặm nhấm đôi khi lại chuẩn xác hơn mọi loại thần thức cao siêu.

Hắn đứng thẳng người dậy, ánh mắt nhìn thẳng vào Hàn Bân Cơ:

— Hàn cô nương, đêm nay trời mưa lớn, lũ giặc trên đỉnh núi sau cái chết của Độc Ngô Công chắc chắn sẽ tăng cường phòng thủ các trạm gác trên mặt đất. Bọn chúng tuyệt đối không ngờ ta lại chọn con đường suối ngầm để ra tay.

— Ý huynh là...

Đôi mắt Hàn Bân Cơ bừng sáng:

— Canh ba đêm nay, nhân lúc sương mù dày đặc nhất, ta sẽ cùng Hắc Tí lặn xuống đáy suối ngầm nhổ bật hai chiếc cọc sắt Đoạt Mạch Đinh đầu tiên! Cô nương và hai đệ tử ở lại hốc đá này dưỡng sức, thúc giục Bích Ba Huyễn Thủy Kính dâng sương mù nghi binh trên mỏm đá Ma Nhai để đánh lạc hướng trinh sát giặc.

Hàn Bân Cơ đứng dậy, tà lam y khẽ bay theo làn gió bấc lùa qua cửa hang. Nàng nhìn thẳng vào mắt Lý Quân, ánh mắt không hề có lấy một tia nghi ngại, chỉ có sự tin tưởng tuyệt đối của một người bạn đồng hành sinh tử:

— Được! Việc trên mặt đất cứ giao cho ta! Huynh lặn xuống nước sâu nguy hiểm khôn lường, chiếc gương Thủy Phủ này chứa một đạo Huyền Thủy Hộ Thể Chân Khí, ta truyền vào lưng huynh một đạo phù ấn, có thể giúp huynh thở dưới nước sâu thêm nửa canh giờ.

Nàng bước lại gần, ngón tay ngọc thon dài khẽ chạm vào lưng áo tơi của Lý Quân, vận chuyển một đạo chân dịch xanh biếc rót thẳng vào đan điền hắn. Hơi ấm dịu dàng và thanh khiết của dòng nước Tứ Phủ hòa quyện hoàn hảo vào chân dịch phù sa của Lý Quân, tạo nên một sự đồng điệu kỳ diệu giữa hai nguồn linh lực cõi Nam. Hai người gật đầu với nhau một cái giữa màn đêm biên viễn. Mưa rừng Chi Lăng vẫn rơi không dứt, nhưng trong hốc đá Ma Nhai tối tăm, một ngọn lửa hy vọng quật cường đã được thắp lên, chuẩn bị xé toạc tấm màn đen tối đang đè nặng lên bờ cõi non sông!

THƠ KẾT CHƯƠNG:

Biên ải mưa dầm buốt giá buông,
Quỷ Môn vách đứng chắn muôn luồng.
Hơi đan quét sạch tà ma chướng,
Kiếm thép gìn yên góc ruộng vuông.
Áo rách người lam ngời dũng khí,
Nón mê kẻ lạ dẹp giông cuồng.
Ngàn thu sử sách ghi ân nghĩa,
Non nước bền lâu vẹn tiếng chuông.

0