Quyển 2: Huyết Chiến Nam Thiên
Chương 50: Đánh Du Kích Giữa Đại Ngàn
Nam Thiên Tu Tiên Truyện
Mục lục
150 chươngCuộn, vuốt hoặc dùng hai nút để xem thêm Đã tải 150/150 chương
Gió đông bắc rít từng cơn lạnh buốt qua những khe nứt dựng đứng của dãy núi đá vôi Trùng Khánh. Dọc theo con đường mòn cheo leo nối từ mỏm núi Phia Oắc xuống thung lũng sông Quây Sơn, sương muối phủ một lớp bụi trắng nhờ nhờ trên những ngọn cỏ voi cằn cỗi. Hơi lạnh mang theo mùi tanh nồng của bùn ướt, mùi khói nhà cháy khét lẹt và vị mặn chát của máu tươi từ phía thượng nguồn Bản Giốc tạt ngược vào mặt rát bỏng.
Trên con đường đất đỏ quạch loang lổ vết chân giẫm đạp hỗn loạn, từng đoàn người phàm bồng bế nhau gồng gánh di tản xuôi về phía nam. Tiếng trẻ con khóc khản đặc vì đói rét, tiếng chân người đạp trên sỏi đá lạo xạo, tiếng rên rỉ của những người trúng phải hàn độc phương Bắc da dẻ tím tái, co quắp trên những chiếc cáng tre chắp vá... Tất cả tạo thành một bức tranh ly loạn thê lương đến nghẹn lòng.
Giữa dòng người trôi dạt như đàn kiến vỡ tổ ấy, một con ngựa trạm lông khoang xám tro, bốn móng bọc sắt nện cồm cộp trên nền đá lởm chởm, ngược chiều gió lao thẳng về hướng biên ải. Ngồi trên lưng ngựa là một bóng dáng gầy gò khoác áo vải thô màu nâu đất đã sờn rách hai bên bờ vai. Chiếc Nón Lá Lưu Ly đan bằng tre già khảm xà cừ rủ bóng râm che khuất nửa khuôn mặt vuông vức dạn dày sương gió, chỉ để lộ chòm râu quai nón lấm tấm và đôi môi mỏng mím chặt kiên nghị. Sau lưng hắn, chiếc gùi mây mộc mạc áp sát vào cột sống; hai khúc Cung Gỗ Lim tháo rời bằng gỗ lim đá ngâm dầu trẩu gài dọc theo nan sườn gùi, hai đầu khớp bọc ngàm đồng thau im lìm như những thanh nẹp tre tầm thường của người đi rừng.
Đó chính là Lý Quân. Dưới lớp áo nâu bần nông, ba mảnh Trống Đồng thau trước ngực vẫn âm thầm tỏa ra những luồng hơi ấm dịu dàng xua tan giá lạnh. Viên Cửu Vân Ngũ Hành Kim Đan tròn trịa nơi đan điền đã được hắn vận dụng bí thuật bế khí tối cao của Khâm Thiên Giám phong tỏa triệt để. Toàn bộ uy áp kinh thiên của cảnh giới Kim Đan thọ tám trăm năm thu liễm trọn vẹn vào cốt tủy, bên ngoài chỉ phát ra dao động linh lực mỏng manh, chập chờn của một tán tu Trúc Cơ sơ kỳ nhỏ nhoi.
— Chít... chít...
Trong túi áo vạt trước của Lý Quân, chuột Hắc Tí khẽ thò cái đầu nhọn hoắt ra ngoài. Chiếc mũi đen ươn ướt của nó chun lại, hai hàng ria mép rung lên bần bật khi ngửi thấy mùi thi khí xộc lên từ phía khúc ngoặt hẻm núi. Lý Quân khẽ siết dây cương, ghìm con ngựa trạm dừng lại bên một gốc sa mộc cổ thụ gãy ngọn. Trước mắt hắn, thung lũng Canh Nương hiện ra giữa vòng vây của ba bề vách đá dựng đứng. Đây là cửa ngõ hiểm yếu duy nhất kiểm soát con đường huyết mạch rút lui từ đồn ải Bản Giốc về nội địa Cao Bằng. Thế nhưng, cảnh tượng bên trong thung lũng lúc này lại khiến chân mày Lý Quân nhíu chặt lại.
Hơn bốn trăm tráng đinh người bản địa mang nỏ tre và giáo vót nhọn cùng khoảng bảy mươi tu sĩ cõi Nam — gồm tán tu các nơi và đệ tử phân đà Yên Tử, Quỳnh Lâm sống sót sau trận Bản Giốc — đang hò hét dồn đá hộc đắp thành một dãy chiến lũy chạy ngang qua bãi bồi ven suối. Họ giăng ra hàng chục lá cờ trận sắc vàng, cắm cọc gỗ, dựng trại gỗ liên hoàn theo kiểu doanh trại quân đội chính quy. Ở vị trí trung tâm, mấy vị tu sĩ Trúc Cơ đang hì hục chôn những phiến đá hoa cương khắc đầy phù văn phòng ngự, toan dựng lên một tòa đại trận kiên cố để cố thủ nghênh chiến.
— Điên rồ...
Lý Quân trầm giọng thốt lên hai tiếng khô khốc. Hắn nhảy xuống lưng ngựa trạm, vỗ nhẹ vào mông con vật để nó tự đi tìm cỏ khô gặm ven suối, rồi một mình rảo bước tiến về phía quân doanh tàn quân.
— Đứng lại! Kẻ nào dám bén mảng tới quân doanh tiền phương?
Hai tên tráng đinh mặc giáp da rách nát, tay cầm trường thương bằng đồng thau bước ra chắn đường, ánh mắt đỏ ngầu đầy cảnh giác và căng thẳng tột độ.
Lý Quân không hề tỏ vẻ bực bội. Hắn nâng nhẹ vành nón lá, để lộ đôi mắt đen sâu thẳm tĩnh lặng như nước đầm thu, rồi từ tốn móc ra một tấm lệnh bài bằng gỗ táo đen có khắc triện chim hạc của Khâm Thiên Giám cõi Nam:
— Tại hạ họ Lý, là tán tu nhận ủy thác của Khâm Thiên Giám đến tiếp ứng tàn quân Bản Giốc. Cho ta gặp người chỉ huy nơi này.
Hai tên lính nhìn thấy dấu triện triều đình, thần sắc thoáng dịu lại, vội vàng dẫn hắn bước qua lớp rào chông tre tiến thẳng vào căn lều bạt lớn nhất dựng bằng da thú giữa bãi đất trống. Bên trong trướng, không khí ngột ngạt đến nghẹt thở. Mùi máu tanh từ những tấm băng gạc quấn vội trên mình thương binh hòa lẫn với mùi rượu trắng xông lên nồng nặc.
Một người đàn ông trung niên râu hùm hàm én, mặc chiến bào màu xanh chàm nhuộm đầy vết máu khô sẫm đang chống hai tay lên chiếc bàn gỗ thô, lớn tiếng quát tháo với mấy vị lão giả tu sĩ vây quanh:
— Nhất định phải lập trận địa kiên cố tại thung lũng Canh Nương này! Ba vị Kim Đan tiền bối đã hy sinh thân mình tự bạo đan điền nơi thác Bản Giốc, chúng ta há có thể tháo chạy như lũ chuột rút hang? Ta là Hùng Thiệu, chấp sự biên phòng Cao Bằng, tu vi Trúc Cơ tầng 7! Hôm nay dẫu có phải đem nắm xương tàn này chôn vùi tại đây, cũng phải dàn hàng ngang quyết tử một trận sống mái với lũ thiết kỵ giặc, bảo vệ danh tiết tu sĩ nước Nam!
Mấy vị chưởng môn phân đà địa phương cũng vung tay đồng tình, vẻ mặt sục sôi căm phẫn:
— Đúng vậy! Chúng ta có bảy mươi tu sĩ, lại thêm bốn trăm dũng sĩ bản xứ thạo đường rừng núi. Cứ dựa vào trận pháp Kim Cương Hộ Thể này mà giữ chặt thung lũng, giặc có mười vạn quân cũng phải bước qua xác chúng ta!
— Bộp... bộp... bộp.
Một tràng vỗ tay chậm rãi, lạnh tanh vang lên từ cửa trướng, cắt đứt hoàn toàn những lời hô hào hùng hồn. Mọi ánh mắt trong quân trướng lập tức đổ dồn về phía cửa. Hùng Thiệu sa sầm nét mặt, quắc mắt nhìn kẻ vừa bước vào: một gã áo nâu rách rưới, chân đi dép rơm bám đầy bùn đỏ, gùi mây sau lưng, linh áp chập chờn chỉ vỏn vẹn ở Trúc Cơ sơ kỳ.
— Ngươi là ai? Dám vào đây làm càn, cười cợt đại sự quân cơ?
Hùng Thiệu gằn giọng, luồng uy áp Trúc Cơ tầng 7 lập tức tràn ra, đè nặng lên gian lều.
Lý Quân vẫn đứng thẳng lưng như một cây tùng đá cắm sâu vào vách núi, ánh mắt không hề chớp lấy một cái trước luồng uy áp của đối phương. Hắn thong thả bước tới trước bàn gỗ, nhìn lướt qua tấm bản đồ da dê vẽ ngoằn ngoèo địa hình thung lũng, rồi cất giọng trầm đục, từng lời rành rọt như búa gõ vào đá:
— Các vị muốn tìm cái chết thanh thản để lưu danh sử sách, hay thực lòng muốn cứu lấy hàng vạn sinh mạng phàm dân ngoài kia và đuổi sạch lũ giặc Bắc ra khỏi bờ cõi?
Một vị lão giả tu sĩ râu bạc giận đỏ mặt, đập bàn quát lớn:
— Tên tiểu bối Trúc Cơ sơ kỳ nhà ngươi ăn nói xấc xược! Bọn ta ở đây bàn kế sách quyết tử vì nước, ngươi có tư cách gì mà mở miệng chê bai?
— Vì các vị đang dẫn toàn bộ những con người này vào chỗ chết uổng mạng!
Ánh mắt Lý Quân bỗng chốc đanh lại, sắc lẹm như lưỡi câu cá ngạnh xé toạc màn nước lũ. Hắn chỉ thẳng ngón tay chai sần vào tấm bản đồ:
— Các vị bảo muốn dàn hàng ngang lập trận lũy cố định đánh trực diện? Các vị có biết giặc đến biên ải lần này là thứ gì không? Đó là năm mươi cỗ chiến thuyền băng khổng lồ trang bị ma lôi hàn băng pháo, là mười vạn thiết kỵ thi khôi đúc bằng sắt lạnh, không biết đau đớn, không sợ chết chóc, mỗi cỗ thi khôi đều mang sức mạnh của tu sĩ Luyện Khí trung kỳ!
Hắn đảo mắt nhìn quanh một vòng những khuôn mặt đang ngơ ngác, giọng nói càng thêm gay gắt:
— Chiến lũy bằng đá hộc của các vị chịu nổi mấy phát đại pháo ma lôi? Trận bàn phòng ngự cứng nhắc kia trụ được bao lâu trước sức ép của hàng vạn cỗ thi khôi bọc sắt tràn qua như thác lũ? Gom bốn trăm tráng đinh và bảy mươi tu sĩ lại một chỗ trong cái thung lũng hẹp này, chẳng khác nào tự chui đầu vào rọ, biến mình thành một tấm bia thịt bất động cho chúng nghiền nát chỉ sau nửa canh giờ!
Cả gian lều bạt bỗng chốc im bặt như tờ. Lời nói của Lý Quân tuy chát chúa, cay nghiệt, nhưng từng câu từng chữ lại như gáo nước lạnh tạt thẳng vào đầu những kẻ đang bốc hỏa vì uất hận. Hùng Thiệu há miệng định phản bác, nhưng lồng ngực phập phồng mà không thốt nên lời. Chính mắt ông ta đã chứng kiến ba vị Kim Đan tiền bối bị hạm đội thuyền băng và biển thi khôi vây hãm đến mức phải tự bạo đan điền, những bức tường thành kiên cố của đồn ải Bản Giốc sụp đổ tan tành như đồ chơi trẻ con trước sức công phá của ma lôi phương Bắc.
— Vậy... theo ý ngươi, chúng ta phải bỏ chạy, khoanh tay đứng nhìn giặc tàn sát đồng bào hay sao?
Hùng Thiệu nén một hơi dài, giọng chùng xuống, lộ rõ vẻ bất lực cay đắng:
— Không chạy!
Lý Quân lắc đầu, giọng nói đanh thép vang vọng khắp quân trướng:
— Không chạy, nhưng tuyệt đối không được đánh theo cách giặc muốn! Giặc cậy thuyền to, quân đông, giáp dày, thích dàn trận lớn để đè bẹp đối thủ. Đó là sở trường của chúng. Nhưng sở đoản của chúng là gì? Thi khôi bọc sắt thì nặng nề, di chuyển trong bùn lầy rừng rậm vô cùng vụng về; chiến thuyền băng to lớn thì phụ thuộc vào lòng sông sâu và nguồn linh thạch tiếp tế khổng lồ; tu sĩ phương Bắc quen khí hậu khô lạnh, vào rừng rậm nhiệt đới ẩm ướt cõi Nam ắt sinh chướng khí, rỉ sét khớp nối pháp bảo!
Hắn rút từ hông ra một thanh dao găm bằng thép đen, cắm phập xuống vị trí ngã ba rừng rậm trên bản đồ:
— Tiền nhân nước Nam ta ngàn đời nay đánh giặc giữ nước, chưa bao giờ lấy thịt đè người, chưa bao giờ dại dột dàn quân đấu sức với cự thú chiến trận khổng lồ của phương Bắc! Tổ tiên dạy: Dĩ đoản chế trường, dĩ nhu khắc cương, lấy ít địch nhiều, lấy yếu thắng mạnh! Non xanh nước biếc, rừng thiêng nước độc cõi Nam sinh ra không phải để làm rào giậu phòng ngự bị động, mà chính là những cạm bẫy khổng lồ nuốt chửng quân thù!
Hùng Thiệu cùng đám tu sĩ trố mắt nhìn gã áo nâu trước mặt. Ánh mắt kiên định, khẩu khí sắc bén và tư duy quân sự lão luyện toát ra từ người thanh niên này khiến họ hoàn toàn quên mất cảnh giới bề ngoài của hắn.
— Vậy... đánh thế nào?
Hùng Thiệu bước lại gần, chắp hai tay lại, giọng điệu đã hoàn toàn thay đổi sang vẻ kính cẩn thỉnh giáo.
Lý Quân nhìn thẳng vào mắt Hùng Thiệu:
— Đánh du kích! Phân tán toàn bộ lực lượng ra!
Hắn vung tay chém mạnh vào không trung:
— Tháo dỡ ngay toàn bộ chiến lũy và trận bàn vô dụng kia! Chia bảy mươi tu sĩ và bốn trăm tráng đinh thành từng toán nhỏ, mỗi toán ba đến năm người, một tu sĩ dẫn đường kết hợp cùng hai ba tráng đinh bản địa am hiểu từng hốc đá, khe suối. Rút hết vào rừng già hai bên sườn núi đá vôi Trùng Khánh!
— Phân tán ra như thế... làm sao ngăn nổi mười vạn quân giặc?
Một vị chưởng môn phân đà e dè hỏi.
Lý Quân nhếch mép, để lộ nụ cười gằn đầy kiên định của kẻ từng lớn lên từ bến sông bão táp:
— Mục tiêu của chúng ta lúc này không phải là chặn đứng cả đạo quân, mà là bẻ gãy từng ngón tay, róc từng miếng thịt của chúng! Ban ngày rút sâu vào hốc đá bế khí ẩn nấp, thả cho các mũi tiên phong của giặc đi qua; ban đêm bám sát sau lưng, phục kích các toán hậu cần, chém giết trinh sát, đốt phá kho lương và linh thạch của thuyền băng!
Hắn tiếp tục giảng giải rành rẽ từng chi tiết:
— Đoàn dân tị nạn đi trước, các toán du kích bám hai bên sườn núi bảo vệ sườn và đoạn hậu. Đoạn đường nào có suối sâu, đốn cây sa mộc chặn dòng tạo lũ quét nhân tạo; khúc rừng nào có khe hẹp, rải bẫy chông tre tẩm độc lá ngón rừng và bùa nổ vỏ điệp; chỗ nào đất trũng ngập nước, dùng nước vôi sống và rễ gừng đá tạt vào chân ngựa thi khôi để phá vỡ lớp băng hộ thể, làm rỉ sét khớp chuyển động của chúng!
— Khi giặc tiến, ta lùi; khi giặc dừng, ta quấy; khi giặc mệt, ta đánh; khi giặc thoái, ta truy! Biến mỗi gốc cây, mỗi mỏm đá, mỗi bụi rậm trên mảnh đất này thành tai mắt, thành cạm bẫy đoạt mạng! Khiến cho lũ tà tu phương Bắc bước vào cõi Nam không một khắc nào được ngủ yên, ăn không ngon miệng, đi không dám rời hàng ngũ, hoang mang sợ hãi đến phát điên!
Từng lời nói của Lý Quân như những ngọn đuốc thắp sáng tâm can những kẻ đang bế tắc trong tuyệt vọng.
Hùng Thiệu đấm mạnh nắm tay vào lòng bàn tay kia, khuôn mặt bừng lên vẻ kích động:
— Hay! Tuyệt diệu! Đúng là phép dụng binh thần tình của tiền nhân! Lâu nay chúng ta quen thói tu tiên môn phái, cứ ngỡ giao chiến là phải bày trận pháp đài so tài cao thấp, suýt chút nữa tự chôn sống toàn bộ tráng đinh nơi biên ải này!
Ông ta quay phắt người lại, rút thanh lệnh tiễn trên bàn giơ cao:
— Toàn quân nghe lệnh! Ngay lập tức tháo dỡ trại lũy, san phẳng công sự đá! Chia quân theo ngũ nhân đội, lập tức phân tán rút vào rừng già Phia Oắc và sườn núi Canh Nương! Vị Lý đạo hữu đây... xin hỏi đạo hữu giữ chức vụ gì, nhận sự điều động của ai trong quân ngũ?
Lý Quân khẽ lắc đầu, kéo thấp vành nón lá xuống che khuất ánh mắt:
— Ta chỉ là một gã nông phu áo nâu cầm kiếm, không chức không tước, không màng danh phận. Các vị cứ theo kế ấy mà hành sự, bảo vệ dân lành rút lui an toàn về hướng nam. Còn ta... ta sẽ nhận một mũi tác chiến độc lập, đi săn những kẻ đi đầu!
Dứt lời, hắn không nán lại thêm một nhịp thở nào, xoay người sải bước ra khỏi quân trướng.
Hùng Thiệu vội vã chạy theo ra ngoài cửa lều, lớn tiếng gọi:
— Lý đạo hữu! Giặc phương Bắc có đội ngũ tiệt sát Kim Đan đi kèm, đạo hữu chỉ có một mình một kiếm, làm sao đương cự nổi? Hãy nhận lấy hai mươi tu sĩ tinh anh cùng đi trợ chiến!
Bóng dáng áo nâu dừng lại bên bìa rừng vầu, không hề ngoái đầu lại, chỉ vung tay lên phát ra một thanh âm trầm ấm mà vang rền giữa gió ngàn:
— Đông người chỉ vướng chân vướng tay. Đánh du kích trong rừng sâu, một người... là đủ để giặc phải run sợ!
Nói đoạn, thân hình Lý Quân khẽ lay động, lướt đi thoăn thoắt trên những mỏm đá tai mèo sắc lẹm, chớp mắt đã tan biến vào màn sương mù đặc quánh đang tràn xuống thung lũng.
Cách thung lũng Canh Nương năm dặm về phía bắc, bên bờ một con suối cạn nước chảy róc rách qua các tảng đá cuội xám xịt. Lý Quân ngồi xổm dưới tán một bụi trúc gai rậm rạp, hoàn toàn hòa mình vào bóng tối ẩm ướt của rừng già. Hơi thở của hắn thu liễm đến mức lá khô rơi trên vai cũng không hề lay động, nhịp tim đập chậm rãi tựa như loài gấu ngủ đông trong hang đá. Hắn tháo chiếc gùi mây sau lưng xuống, đặt nhẹ nhàng trên phiến rêu khô.
Bàn tay thô ráp của hắn rút hai khúc gỗ màu nâu đen bóng nhẫy dầu trẩu gắn dọc theo nan sườn gùi ra. Đó là hai khúc Cung Gỗ Lim tháo khớp do người thợ săn Chi Lăng tặng tại lều bí thị rừng thiêng dạo trước. Lý Quân dùng hai tay khớp hai đầu ngàm bọc đồng thau vào nhau, xoay nhẹ một góc chuẩn xác.
— CẠCH!
Một tiếng then cài bằng đồng thau kêu lên đanh gọn, dứt khoát. Thân cung lim đá dài bốn thước uốn cong mềm mại, cứng cáp phi thường, toát ra mùi thơm nồng của dầu trẩu ngâm lâu năm và nhựa gỗ rừng sâu. Dây cung bện bằng gân trâu nước ngâm sáp ong dẻo quạnh được hắn móc vào hai đầu khuyết, kéo thử một nhịp. Dây cung rung lên phát ra tiếng "vút... vút..." xé gió, trầm đục và đầy uy lực.
Tiếp đó, hắn rút từ trong gùi ra một ống tên gồm hai mươi mũi tên vót bằng gỗ bồ đề già, đầu bịt mũi tên đồng thau nhọn hoắt có rãnh xẻ rãnh máu sâu hoắm. Từ túi trữ vật bên hông, Lý Quân lấy ra một lọ gốm nhỏ bịt nút sáp — Dầu Tràm U Minh mua từ thuyền buôn Nam Bộ ngoài hải thị năm xưa. Hắn cạy nút sáp, mùi tràm ấm nồng, thơm ngát mà hăng cay lập tức xộc vào mũi. Hắn dùng những dải giẻ rách tẩm đẫm dầu tràm quấn chặt quanh phần chuôi ngọn đồng của từng mũi tên, rồi cẩn thận cắm lại vào ống tên sau lưng.
— Chít... chít...
Chuột Hắc Tí từ trong vạt áo Lý Quân nhảy tót lên đầu gối hắn, hai chân trước chắp lại, đầu mõm hướng thẳng về phía hẻm núi phía trước, phát ra những tiếng kêu khe khẽ dồn dập.
— Tới rồi sao?
Lý Quân khẽ thì thầm. Đôi mắt đen láy của hắn ánh lên một tia sáng lạnh lẽo như thép tôi đáy nước.
Hắn vươn tay xoa nhẹ đầu con chuột nhỏ, nhét vào miệng nó một mẩu sáp ong rừng:
— Ngoan ngoãn ngồi im trong túi áo, chớ có chạy bậy.
Chuột Hắc Tí gật gật cái đầu nhát gan, ngoan ngoãn chui tọt vào túi áo trong, chỉ chừa hai con mắt hạt huyền ti hí lấp ló nhìn ra. Lý Quân đứng dậy, vác cung lim lên vai, thanh Long Văn Cổ Kiếm cài chéo bên hông dưới lớp áo nâu. Thân hình hắn khẽ nhún một cái, lướt êm như một bóng ma lội qua dòng suối cạn, nhảy vọt lên một chạc cây sa mộc cổ thụ rậm rạp chĩa ngang ra giữa hẻm vực. Phía dưới hẻm núi, tiếng vó ngựa bọc sắt nện dồn dập trên nền sỏi đá bắt đầu vang lên rầm rập, phá tan sự tĩnh lặng của núi rừng biên cương.
Màn sương trắng bị xé toạc ra. Một toán thiết kỵ thi khôi gồm mười lăm tên kỵ binh giặc đang thúc ngựa phi nước đại đuổi theo dấu vết của đoàn dân tị nạn. Lũ kỵ binh mặc giáp sắt xám xịt phủ đầy sương băng, khuôn mặt tái nhợt vô hồn, hốc mắt bốc lên những đốm lôi hỏa màu lam nhạt của ma thuật phương Bắc. Chúng cầm trường thương dài trượng hai bằng băng thiết, vừa chạy vừa vung đao chém gục những gánh củi, những chiếc gùi rách nát người dân bỏ lại bên đường, phát ra những tiếng gầm rú the thé như tiếng quỷ khóc.
Dẫn đầu toán kỵ binh là một tên đao phủ giặc mặc trọng giáp, tu vi Trúc Cơ tầng 4, tay cầm đại đao răng cưa dài ngoằng rỏ máu tong tòng. Hắn vừa chạy vừa gầm rống bằng tiếng phương Bắc:
— Đuổi theo! Bắt sống lũ dân man di cõi Nam về cho Quốc sư rút hồn tế luyện Vạn Hồn Băng Kỳ! Đứa nào chống cự... chém chết không tha!
Lý Quân đứng trên cành sa mộc cao mười trượng, nấp sau tán lá kim rậm rạp, lặng lẽ nhìn xuống bầy lang sói đang lao tới. Ánh mắt hắn không có lấy nửa phần sợ hãi hay do dự. Ngược lại, một luồng sát ý thuần khiết, lạnh thấu xương tủy từ đáy sâu tâm can hắn âm thầm dâng trào. Hắn nhớ lại lời cha già Lý Lão Tam từng dạy bên mạn thuyền năm xưa: "Làm người nước Nam mình, cái lưng phải giữ cho thẳng, cái lòng phải sạch như nước đầu nguồn... Kẻ nào cậy mạnh đến cướp cơm chim, phá tổ ấm, thì dẫu có là hổ báo hay quỷ thần, cũng phải vót nhọn cọc tre mà đâm thủng họng nó!" Lý Quân rút một mũi tên gỗ bồ đề bịt đồng thau, đặt lên thân cung gỗ lim.
Đầu ngón tay trỏ của hắn khẽ vận chuyển một tia chân hỏa mỏng manh từ Cửu Vân Kim Đan, khẽ chạm vào dải giẻ quấn Dầu Tràm U Minh nơi ngọn tên.
— XÈO!
Một đốm lửa màu xanh biếc bốc lên nghi ngút, cháy mãnh liệt giữa màn sương mù ẩm ướt, tỏa ra mùi tinh dầu tràm ngạt ngào. Lý Quân giương cánh cung lim lên. Hai bắp tay Bách Đúc Thể Phách cuồn cuộn gân cốt như dây chằng cổ thụ, kéo căng dây cung gân trâu thành một hình trăng tròn vành vạnh. Mũi tên lửa xanh nhắm thẳng vào khe hở cuống họng của tên chỉ huy giặc đang dẫn đầu đàn thú dữ. Gió bấc vẫn gầm thét qua rặng Hoàng Liên Sơn. Người con làng chài Bến Vạn, mang theo mối thù non sông và ý chí kiên cường của ngàn đời tổ phụ, đã chính thức nhập cuộc vào cuộc trường chinh giữ nước!
THƠ KẾT CHƯƠNG:
Áo vải sờn vai nhập trận tiền,
Rừng thiêng nước độc giữ bình yên.
Thuyền ma giặc lộng mười muôn bóng,
Cung gỗ ta răn một mũi tên.
Mai phục non cao nghênh vó ngựa,
Chông cày suối thẳm bẻ đao tiên.
Ngàn năm sông núi tôi gan sắt,
Chẳng để biên cương nhuốm bụi phiền!
Thảo luận
Bình luận chương
0 bình luận
Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên bình luận chương này.