Chương 74: Không Còn Ai Đâu
Độ Trễ
Mục lục
89 chươngCuộn, vuốt hoặc dùng hai nút để xem thêm Đã tải 89/89 chương
Thấy con trai được một người đàn ông lạ mặt dìu về, cả hai bê bết bùn đất lẫn máu, ướt sũng từ đầu tới chân, mẹ Cang sững sờ nơi bậc cửa. Nhưng chẳng hề hốt hoảng hay gặng hỏi, bà quay vào nhóm bếp, bắc nồi nước, rồi chạy đi đâu đó. Lát sau đã tất tả trở về cùng chị gái Cang. Người đàn bà với vẻ lam lũ thở hổn hển bước vào, trên tay là mớ bông băng từ quần áo cũ, lên tiếng trách cứ:
"Lại chi nữa mô, mi không chịu ở yên một ngày hở Cang?"
Ngó em trai đang gượng cười không đáp, chị chỉ còn biết thở dài não nề, lẳng lặng đi lấy chai rượu thuốc dắt trên mái tranh.
"Giờ mần răng?"
"Tối thui rồi đường sá khó đi, ra trạm xá chi giờ ni. Em băng bó tạm rứa đã, sáng mai tính tiếp!"
Rửa ráy sạch sẽ, Cang xối rượu lên vết chém ở tay, nghiến răng, xé chiếc áo cũ quấn chặt, dùng răng thắt nút. Nhanh và gọn, như quen tay làm cả trăm lần. Vết thương sâu sau bả vai không với được, đành giao cho chị gái. Suốt quá trình nhổm người rịt thuốc, băng bó, chị gái Cang dằn dỗi, chẳng hé răng nửa lời.
Người đàn ông ngồi co ro bên bếp lửa, khoác tạm bộ đồ cũ rộng thùng thình của Cang, tò mò nhìn quanh. Căn nhà ba gian tuềnh toàng chẳng có lấy một thứ giá trị. Bốn bức vách đất nứt nẻ dán mấy tờ báo cũ. Trên sợi dây thép vắt ngang góc bếp ám khói đen sì, là mấy bộ quần áo vá chằng vá đụp. Chiếc xe đạp gỉ sét dựng ở góc nhà, lốp sau cuốn chặt bằng cao su. Bát cơm mẹ Cang đặt vào tay ông, một đống khoai lang cõng dăm hạt cơm nứt nẻ thâm thâm.
Trân trối nhìn bát cơm hồi lâu, ông đặt xuống, mở chiếc túi da lấm bùn đất, lấy ra ba miếng vàng lá, đặt chồng lên nhau đẩy tới trước mặt Cang.
“Cảm tạ anh đã cứu mạng tôi!”
Cang liếc miếng mấy miếng vàng, ngẩng lên nhìn ông.
"Ông đưa tui cái ni làm chi?"
"Một chút tấm lòng thôi."
"Cảm ơn tôi nhận. Cái ni thì khỏi."
Ông trợn mắt nhìn Cang khó hiểu.
“Tui cứu ông chớ không bán mạng. Ông như rứa khác chi coi khinh tui!”
Hai ngón tay anh đẩy chúng trở lại phía ông ta, như đẩy một cái chén không.
Ngồi ở gian trong, mẹ và chị của Cang vẫn âm thầm quan sát qua ô cửa buồng. Hai người sững sờ nhìn nhau, bà mẹ khẽ lắc đầu quay mặt đi.
Người đàn ông ngồi im lặng. Đống lửa nổ lép bép, quăng những cái bóng chập chờn lên vách đất. Mãi sau ông mới cất vàng vào túi, run run nói:
"Tôi là Trần Bách Minh."
Cang gật đầu.
“Cứ gọi tui là Cang!”
Chừng như vừa thoát khỏi một trận thập tử nhất sinh, hay tấm lòng nghĩa hiệp của người thanh niên xa lạ khiến nỗi xúc động không ngừng trào dâng, Bách Minh nghẹn ngào thốt lên:
"Tôi năm nay đã năm mươi rồi." Ông ta cười, nụ cười méo xệch. "Người ta bằng tuổi tôi bắt đầu lo chuyện dưỡng già. Tôi thì suýt mất tất cả những gì mình có, thậm chí cả cái mạng này!"
Cang cời một thanh củi, gợi chuyện:
“Tui nghe tiếng ông như sống bên nớ, chớ không phải trong nước hỷ!”
“Vâng”
Ông bắt đầu kể, rời rạc, đứt quãng bằng thứ tiếng Việt lơ lớ chưa thành thạo, có lúc dừng một lúc như lựa từ ngữ thích hợp mới nói tiếp được. Cang nghe câu được câu chăng, nhưng cũng hiểu đại khái ông là Việt kiều sinh ra và lớn lên ở trời Tây, mới về nước làm ăn năm ngoái.
"Nhà chúng tôi từng rất đông người…" Ông trầm ngâm bảo.
Cang nghe ra ẩn ý, không vội ngắt lời.
“...Ngày trước lớn lắm, tứ đại đồng đường cùng sống dưới một mái nhà. Mỗi người lo một việc, người lo tiền, người lo hàng hóa, người lo quản lý. Anh em, chú bác ở gần nhau. Con cái lớn lên đến tuổi trưởng thành lại tiếp tục nối nghiệp.”
Gương mặt ông thoáng chốc rúm ró:
“Rồi xảy ra chuyến bay định mệnh, dịp nghỉ lễ ba năm trước ấy, cả nhà chúng tôi tụ tập đi gần đủ cả. Trước hôm bay, con trai tôi sốt cao. Vợ chồng tôi phải ở lại. Thế là ba người chúng tôi thoát nạn.”
Căn bếp lặng ngắt. Cang phần nào thấu hiểu cảm giác đó, khi xung quanh chẳng còn một ai. Anh khẽ nói:
"Xin lỗi!"
Người đàn ông lắc đầu, hít một hơi sâu kiềm chế cơn xúc động, ông kể tiếp:
“Những người chủ chốt trong nhà, lo liệu công việc mất sạch. Sau đó công ty rối tung. Kẻ còn sống tranh giành phần tự cho là của mình, đối tác hết tin tưởng cũng rút vốn bỏ đi. Chỉ qua hai năm thôi chẳng còn lại gì.”
Cúi đầu nhìn hai bàn tay mình, ông thở dài:
“Tôi gom được bao nhiêu thì gom, đưa vợ con về Việt Nam. Nghĩ bụng sắp tới mở cửa sẽ có nhiều cơ hội. Chỉ cần có vốn, lo liệu giấy tờ thủ tục là làm ăn được.”
Ông cười khan:
“Hóa ra tôi nghĩ quá đơn giản!”
Cời cời một thanh củi để nó bén đều, Cang ướm lời:
“Làm đâu lỗ đấy?”
“Ừ.”
Ông ta nhìn anh.
“Anh biết không, ở bên kia, giấy tờ thủ tục chuẩn là xong việc.”
Ngừng một nhịp, ông cay đắng:
“Về đây, có giấy tờ mới chỉ là bắt đầu.”
Hai người im lặng, một lát sau ông kể tiếp:
“Tôi nghe người quen mách trầm đang lên cơn sốt. Đài Loan, Hồng Kông, rồi Trung Quốc đại lục đang có nhu cầu rất lớn. Nhiều tay nghe nói đổi đời chỉ sau một chuyến đi rừng. Thế là tôi gom tiền đổi ra vàng cho tiện, vào Quảng Nam gom hàng, làm thử một chuyến buôn xem sao?”
Cang không nói gì, thêm thanh củi vào bếp. Đất Quảng Nam mấy năm nay rộ lên phong trào ngậm ngải tìm trầm, còn quý hiếm hơn vàng. Giàu sang phú quý ai cũng thấy, đâu ai biết máu đổ trong các cánh rừng nguyên sinh đâu có ít.
“Vụ đó dạo ni tui nghe hoài.”
“Anh cũng biết à?”
“Biết. Người quen rủ mấy bận mà tui chưa dám đi.”
"Không ngờ bọn chúng bắt tay dụ tôi vào tròng, nên mới có chuyện tối nay." Ông cay đắng bảo.
“Chuyện đó cũng không hề hiếm ở đất này!”
Hai người đều rơi vào im lặng, chăm chú nhìn ngọn lửa nhảy múa. Giọng ông Minh bỗng thay đổi, trở nên nhu hòa:
"Con trai tôi, thằng bé năm nay lên sáu!”
"Sáu tuổi?"
"Ừ. Tôi lấy vợ muộn!"
“Nếu hôm nay không có anh, tôi đã không thể trở về gặp nó rồi!”
Trần Bách Minh nhấn mạnh từng từ khi nói câu đó nhưng Cang chỉ nhếch miệng không tỏ vẻ gì.
Gà gáy canh hai. Mẹ anh trải xong chiếc chiếu manh ở buồng bên cạnh cho khách rồi tắt đèn đi ngủ. Chị gái anh đã về bên nhà chồng từ sớm. Chỉ còn hai người đàn ông ngồi bên bếp lửa đã tàn gần hết.
Nhìn bàn tay quấn vải rướm máu của Cang, ông cảm khái:
"Anh gan lớn, có tài. Cứ chết dí ở đây thì phí."
Cang không đáp.
"Nếu không chê, tới chỗ tôi đi. Anh thấy thế nào?"
Nói rành rọt từng chữ, ông ta nhìn Cang đăm đăm, không còn dáng vẻ ủ ê của kẻ vừa thoát chết, mà toát ra sự sắc bén của người từng đứng trên cao.
Cang cời than trong bếp. Mấy đốm lửa đỏ bay lên, tắt ngấm giữa chừng. Anh vẫn không trả lời.
Không hề thúc giục, ông Minh ngồi đó nhìn đống than hồng rất lâu, lâu đến mức Cang tưởng ông đã ngủ gật. Chợt ông lẩm bẩm, tựa hồ tự nói một mình:
"Con trai tôi, tên nó là Bách Khải."
***
“Đó là tất cả những gì tôi biết!”
Chú Cang thở hắt ra sau khi kết thúc câu chuyện.
Nhìn những giọt nước trên thành cốc lăn thành dòng, trôi tuột xuống. Mai Phương như còn chìm đắm trong dư âm câu chuyện chưa tan hết. Im lặng hồi lâu cô mới cảm khái thốt:
"Anh ấy chưa bao giờ kể với cháu chuyện đó!"
"Cậu ấy không có thói quen kể với ai đâu."
Đúng lúc ấy, một thằng bé chừng tám, chín tuổi nhảy chân sáo ngang qua tấm bạt xanh. Chiếc cặp sau lưng xóc lên xóc xuống theo từng nhịp bước. Mẹ nó chạy xe máy rà rà phía sau, sẵng giọng gọi mãi chẳng chịu leo lên. Nó cứ thế tung tăng, hai tay nắm chặt quai cặp, tỏ vẻ ương bướng.
Chú Cang nhìn theo, ánh mắt người lái xe già lộ vẻ trìu mến:
"Ngày bé, cậu Khải cũng thế đấy!"
Mai Phương tò mò quay sang.
"Hồi nhỏ cậu ấy nhất định không chịu ngồi yên trong xe, thích nhất là nắm tay mẹ tung tăng đi bộ từ cổng trường về nhà. Có hôm làm tôi cứ phải chạy xe rề rề theo sát phía sau cả đoạn đường dài."
Thằng bé ngoặt vào một con hẻm. Chiếc xe máy của người mẹ cũng vòng theo, thoáng cái khuất bóng.
Ông im lặng. Đá trong cốc chè đậu đã tan hết từ lâu, thành thứ nước nhạt thếch.
"Sau khi bà ấy đi... cậu ấy gần như không bao giờ rời xe, bước một mình nữa."
Cô nhìn đăm đăm vào con hẻm nhỏ, khẽ nói:
"Thế ạ, cháu cũng không biết chuyện này!"
Chú Cang không nói gì thêm, ba mươi năm lái xe cho nhà người ta, ông biết đâu là giới hạn của câu chuyện. Lát sau ông nói tiếp, mắt vẫn hướng vào dòng xe cộ hối hả:
"Dạo này tôi quay lại lái cho cậu ấy."
Mai Phương im lặng.
"Cậu Khải gầy đi nhiều."
Bà lão gọi với sang hỏi ai lấy thêm chè không, Mai Phương mỉm cười lắc đầu.
"Thường về khuya hơn trước."
Chiếc thìa nhựa trong tay Mai Phương khua vào thành cốc, vang lên tiếng lách cách lạc lõng, rồi thôi.
"Nhiều hôm ngồi trong xe lâu lắm mới chịu vào nhà."
Nói xong chú Cang bưng cốc chè, uống nốt ngụm chè đã nhạt toẹt. Ông không hề nhìn cô, như những đêm ngồi sau vô lăng chờ Bách Khải trước cổng sắt, chưa từng tò mò nhìn vào gương hậu.
Mặc những dư âm rục rịch trong lòng, cô hỏi nhẹ tênh:
"Chú định ở lại chơi mấy hôm?"
"Ba hôm. Thứ Năm tôi ra."
"Đầu đường có quán bún chả cá ngon lắm, sáng mai chú rảnh không cháu mời chú và bà nhé…"
Thế rồi cô lái sang đủ thứ chuyện. Chuyện thời tiết, chuyện hàng quán, chuyện cuộc sống ở Đà Nẵng, không câu nào liên quan đến Bách Khải.
Trên lan can tầng hai, một cậu thanh niên tóc ngắn thò đầu ra gọi vói xuống:
"Chị Phương ơi, bên Gia An muốn gặp chị!"
"Chị lên ngay."
Bà cụ đã xếp xong mười hai cốc chè vào hai túi nilon lớn, buộc quai cẩn thận. Mai Phương đứng dậy trả tiền. Chú Cang đứng dậy theo, như một thói quen cố hữu, ông lùi lại nửa bước.
"Trông cô khác trước nhiều lắm."
Mai Phương ngạc nhiên:
"Khác thế nào ạ?"
Ông thoáng suy tư, như tìm cách hình dung thích hợp. Ở bàn bên, mấy cô công nhân tan ca đang chụm đầu cười rúc rích. Mùi khói xe máy rồ ga khét lẹt, quẩn trong không khí.
"Ánh mắt cô…"
Chú Cang chậm rãi nói:
"...đã bắt đầu giống những người như ông chủ hay cậu Khải rồi!"
Mai Phương ngẩn ngơ, cảm giác như được tiếp thêm sức mạnh và tự tin. Cô nhoẻn miệng cười:
"Cháu lên đây. Chú ở lại thăm thú Đà Nẵng vui nhé."
"Vâng. Cô lên làm đi."
Cô quay bước. Chú Cang trở lại với chiếc ghế nhựa dưới bóng tấm bạt. Bà lão dúi vào tay ông chiếc khăn ướt, rồi làu bàu hỏi han gì đó về giờ bay.
***
Bước lên cầu thang, Mai Phương dẫm lên từng thềm gạch mòn vẹt lõm xuống ở giữa, lan can sắt rỉ sét còn vương hơi ấm của nắng chiều. Tiếng bà lão gọi khách, tiếng đá viên va lạo xạo vào thùng xốp, cả tiếng chú Cang đối đáp bằng giọng Quảng đặc sệt mà suốt bảy năm sống cùng trong căn biệt thự, cô chưa từng nghe thấy... Tất cả xa dần, rớt lại phía sau lưng.
Đến trước cửa văn phòng, cô đứng lại, nhắm mắt. Ký ức trôi về quá khứ.
Hành lang dài vắng lặng của căn biệt thự. Không một tấm ảnh gia đình nào trên tường.
“Ừm, không còn ai đâu.”
Giọng anh vang lên trong đầu cô, bình thản. Nhưng thật không ngờ, sau câu trả lời đơn giản ấy lại ẩn chứa nhiều câu chuyện đến thế. Quai túi nilon cứa vào lòng bàn tay nhoi nhói, kéo cô về thực tại. Mai Phương hít sâu một hơi, đẩy cửa bước vào.
Cửa vừa hé, tiếng quạt trần vù vù cùng tiếng gõ phím lách cách đập vào tai. Căn phòng bốn mươi mét vuông giờ kê thành hai dãy bàn, dây điện bó thành từng bó chạy dọc chân tường, lối đi hẹp đến mức hai người đi ngược chiều phải nghiêng vai. Duyên đang cúi xuống màn hình, chỉ cho cô thực tập sinh mới vào sau Tết cách đối soát một bảng tồn kho. Trên tấm bảng trắng cạnh cửa sổ, nét chữ của Thu Nga ghi một dòng nhỏ: Tân Vượng: gia hạn lần ba.
Trên bàn Mai Phương, ở góc trên bên trái, có một cốc thủy tinh dày. Nước trà vàng nhạt sóng sánh, mấy bông cúc khô nở bung trên mặt nước, tỏa hương dìu dịu.
Cô nhìn sang. Trọng Khoa vẫn ngồi trước màn hình, ngón tay không rời bàn phím. Từ ô cửa sổ cạnh bàn anh, nhìn xuống vừa khéo thấy mép tấm bạt xanh.
"Cảm ơn anh."
"Ừ."
Anh không tò mò hỏi cô vừa nói chuyện với ai dưới đó. Cô cũng không định kể. Kéo ghế ngồi xuống, hai bàn tay cô ôm lấy cốc trà. Vẫn còn ấm sực.
Di động để quên trên bàn rung lên.
Màn hình hiện một cái tên: Sophie - Ngọc Lan.
"Cô Phương, mai xuống kho được không? Tôi muốn bàn chuyện về các kho còn lại."
Cô chưa kịp gõ trả lời, dòng thứ hai đã hiện lên ngay bên dưới:
"Càng sớm càng tốt."
Thảo luận
Bình luận chương
0 bình luận
Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên bình luận chương này.