Sổ Tay Chuyển Mệnh: Nữ Phụ Không Rơi Lệ

Quyển 10: Khu Vườn Tro Tàn

Chương 11: Khoang Chứa Alpha-Zero

Đăng: 29/09/2026 13:48 3,191 từ 19 lượt đọc

Sương mù ban mai trên bờ đông Shinto đặc quánh vị khói than đá và hơi mặn ẩm từ cửa sông bốc lên, phủ một tấm màn xám tro nhờn nhẫn lên những khối nhà kho bê tông vuông vức.

Elise Vance nép mình dưới rãnh xả nước cạn khô chạy song song với tuyến đường ray chở hàng.

Toàn thân nàng phủ một lớp bạt dầu cũ nhặt được từ bãi rác cơ khí, lưng tựa chặt vào nền đất đầm lầy lạnh ngắt. Cơn đói sau ba ngày không có lấy một mẩu bánh mì đã chuyển từ trạng thái cào xé dữ dội sang một cơn đau thắt âm ỉ, lạnh buốt nơi đáy dạ dày. Mỗi lần hít vào, hai lá phổi như cọ xát vào những rảnh xương sườn nhô cao; nàng phải nhấp từng giọt nước mưa đọng lại trong chiếc bi-đông thiếc để lừa gạt cơn khát rát bỏng nơi cuống họng. Đốt sống C3 sau gáy cứng đờ, vảy máu khô bết chặt vào sợi vải khăn len, cảnh báo rằng bất kỳ chuyển động cơ học đột ngột nào cũng sẽ khiến vết rạch toác miệng trở lại.

Qua khe hở của tấm bạt dầu, đôi mắt đục ngầu sự cảnh giác của nàng găm chặt về phía cổng chính của phân khu kho F-07 cách đó bảy mươi bước chân.

Đó là một cánh cổng sắt đúc hai cánh sơn đen đã rỉ sét nham nhở, bên trên có giăng dây xích sắt dày bản. Đứng chắn trước cánh cổng là hai người đàn ông khoác áo choàng đen dài cài kín cổ — hai tu sĩ thuộc đội hành pháp của Giáo Hội. Dưới vạt áo của họ, phần chuôi bọc da thuộc của những thanh đoản kiếm bạc nhô ra rõ ràng; ánh mắt họ lạnh tanh, cảnh giác đảo qua từng toa xe chở than đang lăn bánh chậm chạp trên đường ray. Sau đợt rò rỉ ma lực đêm trước, nơi này đã trở thành một vị trí bị phong tỏa tuyệt đối.

Kim đồng hồ trên tháp nước đường sắt nhích dần về phía chín giờ sáng.

Đúng lúc tiếng còi tầm của khu công nghiệp rú lên một hồi dài chói gắt, tiếng vó ngựa nện lọc cọc trên mặt đường đá dăm ven kênh bắt đầu vang lên.

Một cỗ xe ngựa chở hàng bốn bánh tiến vào con đường dẫn tới cổng F-07. Đi đầu là hai viên chức địa chính người bản địa mặc âu phục sẫm màu, tay cầm cặp da và bảng vẽ kẹp tài liệu; phía sau là bốn người phu xe lực lưỡng khiêng theo những chiếc cọc tiêu sơn hai màu trắng đỏ và một cuộn thước dây kim loại to bằng chiếc bánh xe nhỏ.

Và đi song song với cỗ xe là một bóng người dong dỏng cao trong chiếc áo măng-tô dạ màu tro xám dài chấm bắp chân.

Arthur Pendelton.

Hắn cầm cây gậy mun bọc bạc trên tay phải, đầu gậy chạm từng nhịp đanh gọn xuống mặt đá. Chiếc mũ phớt xám hạ thấp che nửa vầng trán, cặp kính gọng kim loại mỏng lấp loáng dưới ánh sáng ban mai mù mịt. Phong thái của hắn điềm đạm, lạnh lùng và hoàn toàn tự nhiên của một quan chức đang tiến hành một cuộc kiểm tra công vụ thường nhật.

Hai tu sĩ Giáo Hội lập tức biến sắc, bước chéo một bước chặn đứng đầu cỗ xe, bàn tay đặt ngay lên mép áo khoác.

"Khu vực này đang trong thời gian xử lý sự cố kỹ thuật nội bộ," một tên tu sĩ lên tiếng, chất giọng gằn xuống đầy vẻ xua đuổi. "Không có lệnh của Thánh Đường, không ai được phép tiếp cận."

Arthur không hề dừng bước. Hắn dừng lại cách tên tu sĩ đúng năm bước chân, tháo găng tay da hươu đen, rút từ túi áo măng-tô ra một tập hồ sơ dập nổi con dấu chiếc cân ba nhánh của Ban Giám Sát và con dấu đỏ của Ty Địa chính thành phố.

"Theo điều lệ quản lý hành lang an toàn giao thông đường sắt năm 1892," giọng Arthur trầm thấp, khô khốc và đều đặn tựa như tiếng máy đánh chữ cơ học, vang lên rõ ràng giữa không gian tĩnh mịch: "Mốc đá ranh giới phía bắc của kho F-07 đang có dấu hiệu xê dịch mười lăm centimet về phía tim đường ray quặng sắt số 3. Một sai số mười lăm centimet nằm trong danh mục vi phạm cấp độ 2, đe dọa trực tiếp đến an toàn vận hành của các đoàn tàu hàng ngoại giao."

Tên tu sĩ gác cổng nhíu mày, ánh mắt tràn đầy sự nghi ngờ:

"Một mốc đá mười lăm centimet? Chuyện đó không thuộc thẩm quyền của Tháp Đồng Hồ!"

"Nó thuộc thẩm quyền giám sát liên ngành khi có công văn khiếu nại từ Ty Hỏa xa," Arthur điềm tĩnh ngắt lời, ngón tay gõ nhẹ lên tờ văn bản mộc xanh. "Và nếu các vị từ chối hợp tác đo đạc thực địa để xác lập biên bản hiện trạng... toàn bộ tuyến đường sắt qua phân khu F sẽ bị phong tỏa kỹ thuật trong vòng bốn mươi tám giờ tới. Mọi chi phí tổn thất do gián đoạn vận tải quặng sẽ được gửi thẳng về bàn làm việc của Đức Giám mục quản hạt."

Hai tên tu sĩ nhìn chằm chằm vào con dấu mộc xanh và gương mặt phẳng lặng không chút cảm xúc của Arthur. Trong mắt những kẻ thừa hành Giáo Hội, một cuộc đụng độ ma thuật có thể giải quyết bằng thanh gươm, nhưng một bản phong tỏa đường sắt có chữ ký liên ngành đồng nghĩa với việc kéo theo hàng tá thanh tra dân sự đổ xô về khu cảng — điều tối kỵ đối với một hiện trường vừa xảy ra rò rỉ Bí Ẩn.

Tên tu sĩ bên trái nghiến răng, hạ bàn tay khỏi chuôi kiếm:

"Các người muốn đo cái gì?"

"Điểm mốc số 0," Arthur vung nhẹ cây gậy mun chỉ xuống bãi sỏi dưới chân cổng sắt. "Để đảm bảo độ căng tuyệt đối của sợi thước dây thép năm mươi mét không bị ảnh hưởng bởi độ võng tự nhiên, ta cần hai người có thể lực tốt giữ chặt đầu mút kim loại áp sát vào chân mốc đá. Hai vị là nhân sự duy nhất tại hiện trường có đủ điều kiện pháp lý để chứng kiến."

Bốn người phu xe lập tức kéo căng cuộn thước dây thép sáng loáng. Hai tên tu sĩ nhìn nhau, nuốt cục nghẹn trong họng rồi miễn cưỡng bước xuống bậc thềm, quỳ một gối xuống bãi sỏi ẩm ướt, hai tay ghìm chặt đầu mút thước dây kim loại áp vào chân cột cổng theo sự chỉ đạo tỉ mỉ từng milimet của hai viên chức địa chính.

Sự chú ý của toàn bộ mặt tiền phân khu F-07 đã bị khóa chặt vào một mẩu đá dăm lấn chiếm mười lăm centimet.

Khoảng trống hành chính đã mở ra.

Dưới rãnh nước cạn, Elise không lãng phí dù chỉ một giây.

Nàng gạt tấm bạt dầu sang một bên, gập người lại ở tư thế thấp nhất, lướt đi thoăn thoắt trong bóng tối của bức tường gạch phía tây. Bàn chân quấn vải thô của nàng đặt xuống bùn nhão không phát ra nửa tiếng động, lẩn khuất sau những đống thùng rác và rãnh ống xả công nghiệp.

Vách tây của kho F-07 là một khối tường bê tông xám xịt không có cửa sổ, rêu đen đóng thành từng mảng trơn tuột sau những năm tháng bị hơi nước mặn cắn rỉa.

Elise ngẩng đầu lên. Ở độ cao cách mặt đất khoảng hai mét rưỡi, một ô cửa thông hơi hình chữ nhật rộng chừng hai gang tay kẹp giữa hai dầm thép chịu lực. Tấm lưới sắt bảo vệ bên ngoài đã bị hoen rỉ ăn mòn từng mảng lớn, các mắt lưới mục nát cong queo tựa như những chiếc xương sườn gãy.

Elise hít một hơi sâu, hai hàm răng cắn chặt vào môi dưới để chuẩn bị đón nhận cơn đau thể xác.

Nàng lùi lại nửa bước, dồn toàn bộ tàn lực vào đôi chân bầm dập, bật người nhảy lên!

Bàn tay phải khẳng khiu của nàng chộp chuẩn xác vào gờ sắt mục nát của ô thông gió. Cú giật cơ học đột ngột khiến đốt sống C3 sau gáy giật nảy lên một cơn đau buốt sắc lẹm, vết thương toác ra rỉ dịch nóng hổi xuống cổ áo len. Nhưng Elise không buông tay; nàng gồng cứng cơ cánh tay, dùng mũi chân tì vào khe nứt bê tông, dùng con dao rọc giấy bằng đồng cùn mép cạy bật hai thanh chấn song sắt đã mục ruỗng.

Khung thép bung ra. Elise thở dốc, ép dẹp khung xương sườn nhỏ thó của mình lách qua khe hẹp, trườn sâu vào bên trong đường ống thông gió bằng tôn rỉ sét.

Không gian bên trong đường ống tối đen như mực, sực nức mùi bụi kim loại lạnh ngắt và phân chuột khô khốc. Elise trườn bằng cùi chỏ và đầu gối dọc theo đường ống dốc đứng dẫn thẳng xuống lòng đất. Đi được khoảng mười mét, đường ống đâm sầm vào một khoảng không gian trống rỗng.

Nàng buông tay, trượt xuống mặt sàn bê tông ẩm ướt bên dưới.

Bộp.

Cú tiếp đất êm ru trong bóng tối tuyệt đối.

Elise quỳ trên sàn, lồng ngực phập phồng dồn dập. Nàng đưa tay lên cổ, ấn chặt miếng gạc để cầm máu sau gáy, rồi chớp mắt nhiều lần để đồng tử thích nghi với bóng tối dày đặc của tầng ngầm.

Ở đây không có một tia sáng mặt trời. Không khí lạnh buốt hơn trên mặt đất gấp nhiều lần, mang theo mùi ẩm mốc lưu cữu của bê tông ngâm nước ngầm, mùi giấm gỗ tẩy rửa đã biến tính qua hàng thập kỷ, và đặc biệt là một thứ mùi tanh nồng, ngai ngái quen thuộc đến rợn người — thứ mùi của dung dịch duy trì sinh học.

Đây chính là khoang ngầm Alpha-Zero.

Elise lần mò dọc theo bức tường đá ẩm ướt. Nàng rút chiếc hộp thiếc đựng mảnh gương vỡ ra, nhưng ở độ sâu này không có ánh sáng để phản xạ. Nàng buộc phải dựa hoàn toàn vào xúc giác của mười đầu ngón tay và thính giác nhạy bén của một kẻ sinh tồn.

Bàn chân quấn vải thô của nàng bước đi lạo xạo trên những mảnh thủy tinh vỡ vụn rải rác khắp mặt sàn.

Trước mặt nàng, sừng sững giữa gian phòng ngầm rộng lớn là ba chiếc bồn trụ khổng lồ bằng kính cường lực dày ba tấc, cao ngập đầu người, dựng trên những bệ đỡ bằng gang đúc đen sì.

Elise tiến lại gần, bàn tay run rẩy chạm vào bề mặt trơn lạnh của chiếc bồn thứ nhất.

Kính đã bị đập vỡ từ bên ngoài. Những mảnh vỡ sắc lẹm nhô ra nham nhở, bên trong lòng bồn rỗng không, chỉ còn lại những đoạn dây truyền dẫn cao su đã mủn nát buông thõng như những chiếc xúc tu chết.

Chiếc bồn thứ hai cũng trong tình trạng tương tự: Vỏ kính nứt toác một lỗ lớn bằng nắm tay, khung sắt hoen rỉ gãy gập dưới một lực va đập cơ học cực mạnh từ nhiều năm trước.

Chỉ có chiếc bồn thứ ba là còn tương đối nguyên vẹn.

Nắp đậy bằng đồng thau của chiếc bồn này đã bị mở toang, dịch lỏng duy trì bên trong đã bốc hơi cạn kiệt từ lâu. Nhưng dưới đáy bồn, bám chặt vào lớp gạch men và các rãnh thoát chất thải, một lớp cặn khoáng chất dày cộm màu lam nhạt vẫn còn đóng vảy khô quắt.

Dưới lớp bụi xám của thời gian, thứ cặn lam ấy ánh lên một sắc thái lạnh lẽo, ma quái — cùng một màu sắc và mùi thảo dược the nồng với thứ chất lỏng chứa trong hai ống nghiệm B-17 đang nằm áp sát lồng ngực nàng.

Cơ thể Elise bỗng nhiên co giật nhẹ. Các Ma thuật lộ tuyến dọc bả vai trái râm ran nhức buốt khi đứng gần chiếc bồn trụ.

Mối liên hệ đã rõ ràng: Chiếc bồn này từng là nơi ngâm ủ, duy trì và xử lý các mẫu vật sinh học bằng chính thứ dung dịch nền tạo ra B-17 trước khi chúng bị chuyển đi.

Nàng rời khỏi chiếc bồn trụ, tiến về phía chiếc bàn thao tác bằng đá hoa cương kê sát vách tường phía trong cùng.

Trên mặt bàn đá phủ đầy bụi xám và những ống nghiệm vỡ, có một chiếc hộp kim loại hình chữ nhật bằng đồng thau dập nổi hoa văn ba chiếc đinh gỉ — chiếc khóa ngậm ba nấc của khoang Alpha-Zero.

Elise thò tay vào áo choàng, rút chùm chìa khóa sắt đoạt được từ lão quản kho ra. Nàng dùng đầu ngón tay sờ nắn từng chiếc chìa trong bóng tối, chọn ra một chiếc chìa bằng thép mỏng có răng cưa hình tam giác.

Nàng cắm chìa vào ổ khóa hộp đồng, khẽ xoay cổ tay.

CẠCH... TÁCH.

Móc khóa ngậm bật ra sau gần hai thập kỷ im lìm dưới lòng đất.

Elise mở nắp hộp kim loại.

Bên trong đáy hộp lót một lớp vải nhung đen đã mủn nát vì ẩm mốc. Nằm gọn trong lòng hộp là hai vật thể còn sót lại sau cuộc thanh lý vội vã năm 1888:

Vật thứ nhất là một tấm thẻ kim loại mỏng bằng nhôm xám, cỡ hai ngón tay, mép thẻ được mài vát góc cẩn thận. Trên bề mặt kim loại, một dòng ký tự dập chìm sắc nét, không hề bị rỉ sét ăn mòn:

V — 09.

Phía dưới mã số là một ký hiệu hình thoi sơn đỏ thu nhỏ — giống hệt vệt sơn dưới chân cầu Fuyuki và dấu xăm méo mó sau gáy nàng.

Tấm thẻ danh tính gốc của tiêu bản.

Elise siết chặt tấm thẻ kim loại trong lòng bàn tay lạnh ngắt. Cạnh nhôm sắc bén cấn vào da thịt nàng nhức nhối, nhưng mang lại một sự xác nhận sắt đá: Cỗ máy sinh học này không phải là một sự tồn tại trừu tượng. Nó là một sản phẩm có số hiệu, được đăng ký, theo dõi và quản lý bởi một hệ thống thực thể tại chính căn hầm Alpha-Zero này.

Nàng thò tay lấy vật thể thứ hai trong hộp đồng.

Đó là một trang giấy da dầu gấp tư, rìa giấy bị cắt rời bằng dao mổ sắc lẹm, bên trên phủ một lớp sáp bảo quản chống ẩm. Elise mở phẳng trang giấy da dưới bóng tối mờ mờ lọt qua cửa thông hơi.

Đó là một trang nhật ký nghiên cứu viết tay bằng mực ma thuật màu đỏ sẫm, nét chữ gấp gáp và hỗn loạn của một người ghi chép trước giờ sơ tán:

‘...Dung dịch ức chế B-17 chỉ là một phương án trì hoãn cơ học. Nó có thể tạm thời hạ thấp áp lực bài xích của các Ma thuật lộ tuyến nhân tạo và phong bế sự sụp đổ của đốt sống C3 trong tối đa bốn mươi tám giờ mỗi liều... nhưng không phải là phương án điều trị tận gốc.’

‘...Độc tính thứ cấp của dung môi ma thảo sẽ tích tụ dần tại rễ thần kinh tủy sống. Khi số lượng B-17 cạn kiệt hoặc cơ thể đạt ngưỡng bão hòa, các mạch dẫn nhân tạo sẽ tự bốc cháy, thiêu rụi toàn bộ hệ thần kinh trung ương.’

‘...Cách duy nhất để vô hiệu hóa độc tính tích tụ và ổn định vĩnh viễn cấu trúc mạch dẫn V-09 là trung hòa nó bằng: Muối khoáng kết tinh loại B (Mineral Salt Type B). Nếu không có khoáng chất kết tinh này làm chất xúc tác kết tủa tạp chất... tiêu bản chắc chắn sẽ sụp đổ sau chu kỳ chín mươi ngày.’

Đồng tử Elise co rút lại trong bóng tối.

Dòng chữ như một nhát dao rạch toạc bức màn mù mịt đang treo lơ lửng trên đầu nàng.

B-17 không phải là chiếc phao cứu sinh vĩnh cửu. Nó chỉ là một chiếc đồng hồ đếm ngược. Hai ống nghiệm còn lại trong túi ngực nàng chỉ đủ để nàng duy trì mạng sống thêm vài ngày trước khi ngưỡng bão hòa độc tính biến cơ thể này thành một bó đuốc sống từ bên trong.

Chiếc chìa khóa thực sự để bẻ gãy bản án tử hình mang tên V-09 là thứ mang tên: Muối khoáng kết tinh loại B.

XOẠCH... RÍT!

Từ trên mặt đất vọng xuống, một âm thanh kim loại sắc lẹm bất thần xé toạc sự tĩnh mịch của căn hầm ngầm.

Tiếng cuộn thước dây thép năm mươi mét đang được thu hồi vào trục quay.

Tiếng bước chân lộp cộp trên bãi sỏi cổng chính và tiếng cảm ơn lạnh nhạt của Arthur Pendelton vọng lại qua đường ống thông khí:

"Biên bản hiện trạng sai số mười hai phẩy năm centimet đã hoàn tất. Cảm ơn sự hợp tác của quý vị."

Ba mươi phút của cuộc kiểm toán hành chính đã kết thúc. Toán lính gác Giáo Hội sắp sửa đứng dậy và quay trở lại vị trí quan sát.

Không còn thời gian để nấn ná.

Elise lập tức nhét tấm thẻ kim loại dập mã V-09 vào túi áo trong. Nàng dùng con dao rọc giấy bằng đồng cắt nhanh mép trang nhật ký da dầu, gấp nhỏ nhét sâu vào cạp quần cùng với nửa tờ biên bản Điều lệ 14 dập dấu sáp đỏ.

Hộp kim loại được nàng đóng sập nắp lại, đặt lại vị trí cũ trên bàn đá.

Elise lùi nhanh về phía chân tường bê tông, bám vào các bậc thang sắt rỉ mục của ống thông hơi vách tây, dùng sức mạnh của hai cánh tay khẳng khiu kéo toàn bộ thân hình trườn ngược trở lên. Cơn đau từ C3 lại giật buốt lên đỉnh đầu, nhưng nàng nghiến chặt răng, trườn qua khung thông gió vừa đúng lúc tiếng đế ủng da của hai tên tu sĩ bước cồm cộp trở lại bậc thềm cổng chính.

Nàng buông mình rơi êm ru xuống bờ kênh ngập bùn nhão phía sau bức tường kho, hòa tan vào làn sương mù ban mai đang tan dần trên mặt nước sông Shinto.

0
Ủng hộ tác giả Cương Vương Nếu bạn yêu thích tác phẩm, hãy ủng hộ mình ly cafe nhé <3