Chương 23: Menu Ba Cỡ, Khách Hiểu Bốn Kiểu
Nắng chiều quận 10 hắt những vệt màu vàng cam xiên khoai qua kẽ lá của cây khế nhà bà Sáu, rọi thẳng vào mặt tiền quán nước nhỏ của cô Mỹ trên đường Thành Thái. Tiếng còi xe từ đường lớn vọng vào hẻm nghe đều đều như tiếng mưa rào vách đất. Tôi đứng tựa lưng vào quầy pha chế bằng đá mài, tay cầm xấp thực đơn cũ của quán mà đầu óc vẫn chưa thoát khỏi mớ bòng bong của những con số.
Cô Mỹ bước ra từ gian bếp nhỏ phía sau, tay bưng một khay nhựa đựng ba ly nước thử nghiệm màu sắc sặc sỡ. Bà đặt mạnh khay xuống bàn, tiếng ly thủy tinh chạm mặt đá kêu lách cách:
- Đây, tụi bay coi giùm tao. Khách vô kêu một ly cỡ vừa, thằng Nam nó múc ly này. Khách khác vô kêu ly trung, nó lại múc ly kia. Rồi tới chừng khách đặt trên app gọi ly năm trăm mili, tụi nó đứng cãi lộn xem là cái ly nào trong ba cái này. Tao nhức đầu quá rồi.
Linh kéo chiếc ghế nhựa lại gần, cầm một tờ thực đơn bằng giấy khổ A4 đã cũ nát, các góc giấy quăn tít và bết dính những vệt siro màu đỏ dâu. Cô chỉ vào dòng chữ viết tay bằng bút mực xanh:
- Con hiểu rồi cô Mỹ. Quán mình đang bị tình trạng một món nhưng có tới bốn cách gọi tên khác nhau. Bảng treo trên tường thì ghi cỡ Nhỏ, Vừa, Lớn. Tờ rơi phát cho khách mang đi thì ghi S, M, L theo kiểu nước ngoài. Trên app giao hàng thì ghi dung tích năm trăm mili với bảy trăm mili. Còn thằng Nam pha chế dưới bếp thì cứ nhìn màu tem dán trên nắp ly để phân biệt. Khách vô kêu một ly trà sữa truyền thống cỡ vừa, nhân viên phải hỏi lại ba lần mới dám làm.
Công đứng bên cạnh, tay vẫn cầm chiếc nón bảo hiểm màu xanh lá, gật gù phụ họa:
- Đúng rồi cô Mỹ. Tụi shipper tụi con sợ nhất là ghé mấy quán ghi cỡ kiểu này. Nhiều khi khách đặt trên app ghi bảy trăm mili, tới nơi nhân viên đưa cái ly ghi chữ L, tụi con đứng cãi qua cãi lại mất hết năm phút giao hàng. Mà năm phút đó là đủ để tụi con bị trễ cuốc xe sau rồi.
Tôi mở chiếc laptop Asus cũ đặt trên bàn, khởi động phần mềm Excel và bắt đầu gõ những dòng dữ liệu đầu tiên. Với tư duy của một nhân viên văn phòng năm 2040 đã quen làm việc với các hệ thống quản lý kho bãi, tôi tin rằng mọi sự hỗn loạn đều có thể giải quyết bằng một bộ mã hóa chuẩn xác.
- Một món cần một tên chuẩn.
Tôi vừa gõ bàn phím vừa nói.
- Ví dụ như món Trà sữa truyền thống cỡ vừa, mình sẽ đặt mã là `SP-T12`. Cỡ lớn sẽ là `SP-T13`. Khi khách gọi món hoặc nhân viên nhập đơn vào sổ, chỉ cần ghi đúng mã này là xong. Thằng Nam nhìn mã dưới bếp cũng không bao giờ nhầm được. Vừa khoa học, vừa tiết kiệm diện tích trên phiếu in nhiệt.
Linh ghé mắt nhìn vào màn hình laptop của tôi. Cô im lặng khoảng ba giây, rồi thẳng tay nhấn tổ hợp phím chọn tất cả và xóa sạch những gì tôi vừa gõ. Tôi ngẩng lên nhìn cô, ngạc nhiên:
- Sao xóa của tôi?
Linh chống hai tay lên bàn, nhìn tôi bằng ánh mắt ái ngại:
- Anh Minh tỉnh lại giùm em cái đi. Không một ai đi mua nước lề đường Thành Thái mà đứng trước quầy bảo: "Cho em một ly SP-T12 thêm topping TP-03" cả. Người ta đi làm về mệt mỏi, muốn uống một ly nước ngọt mát để giải khát chứ đâu có muốn đọc mật mã quân sự. Anh bắt họ gọi món kiểu đó thì họ qua tiệm khác mua cho lẹ. Chuẩn hóa không có nghĩa là bắt khách hàng phải uống cái mã sản phẩm của anh.
Công chen vào, mặt hớn hở như vừa nghĩ ra một sáng kiến vĩ đại:
- Hay là mình thêm một cột gọi là "uống vô vui" đi hai đứa? Tài xế tụi em nhìn là hiểu tinh thần đơn hàng liền. Ví dụ trà sữa trân châu thì ghi chú là "uống vô vui vẻ", hồng trà tắc thì ghi "uống vô tỉnh táo". Khách đang cọc cằn mà thấy ly nước ghi chữ dễ thương vậy cũng bớt cằn nhằn tụi em giao trễ.
Tôi và Linh quay sang nhìn Công, đồng thanh đáp:
- Không được.
- Cái đó không đo lường được, mà cũng không giúp gì cho shipper kiểm túi hàng lúc vội hết ông ơi.
Tôi thở dài, tắt file Excel đi.
- Thôi được rồi, mình quay lại với nguyên tắc đơn giản nhất.
Chúng tôi dành ra một tiếng đồng hồ để thống nhất lại nguyên tắc thiết kế thực đơn mới. Linh dùng bút chì vẽ những nét phác thảo đầu tiên lên mặt sau của tờ giấy A4 cũ. Tên món ăn phải là thứ tiếng Việt dễ đọc, dễ hiểu nhất. Ba cỡ ly được thống nhất dùng một hệ chữ nhất quán trên mọi kênh bán hàng: Nhỏ, Vừa và Lớn. Ngay bên cạnh mỗi cỡ ly, chúng tôi ghi rõ dung tích tương ứng bằng số mili lít cụ thể: 350ml, 500ml và 700ml. Giá của phần nước nền được tách riêng biệt khỏi giá của các loại topping đi kèm. Mức đường và mức đá cũng được xếp theo một thứ tự cố định trên phiếu gọi món để nhân viên không phải hỏi đi hỏi lại. Mã nội bộ chỉ được in rất nhỏ ở góc dưới của phiếu bếp, đóng vai trò như một công cụ đối chiếu phụ cho nhân viên pha chế chứ không bắt khách hàng phải ghi nhớ.
Khi phần khung của thực đơn đã tạm ổn, Linh bắt đầu công việc chụp ảnh sản phẩm. Cô mượn một tấm bìa các-tông màu trắng lớn từ tiệm tạp hóa của bà Tư bên cạnh để làm tấm hắt sáng. Linh đặt chiếc bàn gỗ nhỏ sát bên khung cửa sổ của quán, nơi có ánh sáng tự nhiên dịu nhẹ của buổi chiều chiếu vào.
Cô xếp sáu món bán chạy nhất của quán lên bàn để chụp ảnh. Có trà sữa truyền thống, trà đào, hồng trà tắc, lục trà sữa, sâm bí đao và sữa tươi trân châu đường đen. Mỗi ly giữ đúng màu và phần topping quán đang bán.
Linh làm việc rất tỉ mỉ. Cô không dùng bất kỳ ứng dụng chỉnh sửa ảnh quá đà nào để làm thay đổi màu sắc thực tế của đồ uống. Cô cũng không thêm vào những loại thạch hay trân châu trang trí mà quán không thực sự phục vụ. Mùi trà ủ ấm áp hòa quyện với mùi siro trái cây ngọt lịm tỏa ra trong không gian nhỏ của quầy pha chế. Nước ngưng tụ từ các ly nước thử nghiệm chảy thành những vòng tròn ướt át trên mặt bàn gỗ, phản chiếu ánh sáng lấp lánh từ cửa sổ.
Cô Mỹ đứng bên cạnh, chăm chú theo dõi từng thao tác của Linh. Mỗi khi Linh chụp xong một tấm ảnh, cô lại đưa điện thoại cho cô Mỹ xem để duyệt:
- Cô coi màu nước trà đào lên hình như vầy được chưa cô? Con giữ nguyên màu trà tự nhiên chứ không chỉnh cho nó vàng rực lên đâu, để khách nhìn hình sao nhận nước ra y chang vậy cho đỡ hụt hẫng.
Cô Mỹ nheo mắt nhìn vào màn hình điện thoại, gương mặt lộ rõ vẻ ngạc nhiên xen lẫn hài lòng:
- Được đó con. Nhìn nó thật thà mà sạch sẽ. Để tao kêu thằng Nam vô coi thử. Nam ơi, ra coi hình ly sâm bí đao nè, nhìn ngon mắt chưa kìa.
Thằng Nam từ trong bếp chạy ra, nhìn vào màn hình rồi reo lên:
- Ồ, nhìn rõ ràng quá cô ơi. Mai mốt khách vô cứ chỉ thẳng vô hình này là con biết làm món nào liền, khỏi sợ giải thích dài dòng nữa.
Trong lúc Linh chụp ảnh, tôi ngồi ghi chép lại chính xác tên món và giá tiền theo đúng bảng giá đã được cô Mỹ ký xác nhận trước đó. Mọi số liệu phải khớp nhau từ bảng hiệu treo tường cho đến tờ thực đơn cầm tay.
Đến tối ngày 26 tháng 5, bản in thử đầu tiên của thực đơn mới đã hoàn thành. Để kiểm tra tính hiệu quả của thiết kế mới, tôi đề nghị thực hiện một buổi thử nghiệm giao nhận đơn giả định. Công lập tức đội chiếc nón bảo hiểm màu xanh lá vào đầu, cầm chiếc túi giữ nhiệt bước vào quán với điệu bộ của một shipper đang vội vã.
Công đứng trước quầy, đọc to một đơn hàng giả định từ điện thoại:
- Đơn hàng số không bốn. Một hồng trà tắc cỡ lớn, bảy mươi phần trăm đường, ít đá, thêm thạch nha đam.
Thằng Nam đứng phía sau quầy thu ngân lập tức nhìn lên bảng menu mới dán tạm trên tường. Tay cậu thoăn thoắt gõ phím trên máy tính tiền. Nhờ các thông tin về cỡ ly và mức đường đá được xếp theo đúng thứ tự từ trái qua phải, Nam chỉ mất chưa đầy mười giây để hoàn thành việc nhập đơn và in phiếu bếp. Tiếng máy in nhiệt kéo giấy kêu rẹt rẹt giòn giã trong không gian yên tĩnh của quán.
Công tiếp tục thử thách bằng cách đóng vai một vị khách khó tính gọi món theo thói quen cũ:
- Cho tôi một ly cỡ vừa màu xanh nha em.
Nam nhìn lên bảng menu mới, chỉ vào dòng chữ tương ứng rồi hỏi lại bằng một câu rất lịch sự:
- Dạ, cỡ vừa năm trăm mili màu xanh lá của quán tụi em là món Lục trà sữa đúng không anh? Hôm nay tụi em có ghi rõ tên món và dung tích trên bảng này nè.
Công gật đầu:
- Đúng rồi, Lục trà sữa đó em.
Việc xác nhận diễn ra nhanh chóng chỉ trong một câu hỏi ngắn, thay vì nhân viên phải đứng đoán mò hoặc làm ra hai ly khác nhau như trước đây. Tuy nhiên, đến đơn thử nghiệm thứ bảy, khi Công đọc nhanh: "Một lục trà sữa cỡ nhỏ và một hồng trà sữa cỡ nhỏ", Nam đã bấm nhầm hai món này với nhau.
Tôi đứng quan sát bên cạnh, lập tức chỉ ra lỗi:
- Ký tự viết tắt của hai món này trên phiếu bếp là LTS và HTS nhìn quá giống nhau khi in bằng mực nhiệt mờ. Nam rất dễ nhìn nhầm trong giờ cao điểm.
Linh gật đầu đồng ý, cô lấy bút chì đánh dấu lại trên bản in thử:
- Em sẽ sửa lại trên file thiết kế. Mình ghi rõ chữ "Lục" và "Hồng" ra luôn, không viết tắt kiểu đó nữa. Đồng thời em sẽ thêm một dòng mô tả ngắn về hương vị dưới mỗi tên món để nhân viên dễ phân biệt vị trà đậm hay thanh.
Buổi thử nghiệm kéo dài thêm nửa tiếng với nhiều tình huống giả định khác nhau. Chúng tôi cố gắng tìm ra mọi kẽ hở có thể gây ra sự nhầm lẫn giữa khách hàng và nhân viên. Sự kết hợp giữa con mắt mỹ thuật thực tế của Linh, kinh nghiệm chạy xe thực địa của Công và tư duy quản lý hệ thống của tôi đã giúp hoàn thiện bản thiết kế thực đơn một cách tối đa.
Sáng ngày 27 tháng 5, chúng tôi mang tới file thiết kế hoàn chỉnh, bộ ảnh chụp sáu món ăn chủ đạo và một bản menu in khổ lớn đã được ép plastic. Linh căn lại độ cao theo tầm mắt khách đứng gọi món, tôi giữ hai góc bảng, còn Công siết dây rút vào khung cũ để menu nằm chắc phía sau quầy. Sau khi Nam đứng ở vị trí pha chế đọc thử tên món và ba cỡ trên bản vừa lắp, chúng tôi mới chính thức bàn giao cho cô Mỹ.
Cô Mỹ nhận lấy bản menu mới, dùng ngón tay miết nhẹ lên lớp nhựa bảo quản. Bà nhìn tấm bảng hiệu rõ ràng, hiện đại hơn hẳn phiên bản loang lổ trước đó, rồi quay sang nhìn chúng tôi bằng ánh mắt nhẹ nhõm:
- Tụi bay làm việc có tâm và nhanh nhẹn quá. Đúng là sinh viên có học hành đàng hoàng có khác. Như đã hứa với thằng Minh, bây giờ tao sẽ cho tụi bay coi cuốn sổ đơn hàng cũ của tao.
Bà Mỹ đi đến bên chiếc tủ gỗ nhỏ đặt ở góc quầy, lôi từ trong hộc tủ ra một cuốn sổ đơn hàng cũ có bìa bằng da màu đen đã sờn rách ở các góc. Cuốn sổ tỏa ra mùi giấy cũ ẩm ướt đặc trưng của những cửa hàng nhỏ đã hoạt động lâu năm ở Sài Gòn.
Bà đặt cuốn sổ lên mặt bàn đá mài, lật mở từng trang giấy đã ngả sang màu vàng đục. Tôi nín thở, mắt không rời khỏi những ngón tay của cô Mỹ. Khi lật đến trang ghi ngày 11 tháng 5, bà Mỹ dùng một tờ giấy trắng khổ A4 che đi phần lớn các dòng chữ ở phía trên và phía dưới, chỉ để lộ duy nhất một dòng ghi chép nằm ở gần cuối trang.
Tôi cúi sát người xuống để nhìn cho rõ. Dòng chữ viết tay bằng bút bi màu xanh hiện ra dưới ánh đèn tuýp của quán:
`Minh Hạt Mây ghé xin phiếu trắng, tự ghi số 31 rồi gửi lại quầy. Không có khách nhận, không thu tiền.`
Cô Mỹ chỉ ngón tay vào dòng chữ đó, giọng bà trầm xuống:
- Tối hôm đó, khoảng hơn mười giờ đêm, thằng Minh đi bộ từ hướng đường Nguyễn Tri Phương qua đây. Mặt mũi nó nhìn ngơ ngơ như người mất hồn vậy đó. Nó không mua nước gì hết, chỉ vô xin thằng Nam một tờ phiếu in nhiệt còn trống. Thằng Nam đưa cho nó một tờ, rồi nó tự tay cầm bút viết số 31 lên đó. Thằng Nam hỏi nó ghi số đó làm gì để nhập vô máy tính tiền cho đúng sổ sách, nhưng thằng Minh bảo không cần, cứ để tờ giấy đó ở quầy rồi nó lấy điện thoại ra chụp hình lại. Xong xuôi nó để tờ phiếu lại trên bàn rồi đi mất tiêu.
Tôi cảm nhận được một luồng khí lạnh chạy dọc sống lưng. Lời kể của cô Mỹ hoàn toàn trùng khớp với bức ảnh chụp tờ phiếu in nhiệt có số 31 mà chúng tôi tìm thấy trong điện thoại của Minh. Nhưng đây vẫn là lời kể của người khác được đối chiếu qua sổ đơn hàng, chứ chưa phải là một bản ghi âm trực tiếp lời nói của Minh vào tối hôm đó.
Linh nhanh chóng lấy điện thoại của mình ra, đặt chiếc thước kẻ nhỏ bằng nhựa của cô bên cạnh dòng chữ trong sổ để làm mốc đối chiếu tỷ lệ, rồi chụp lại một tấm ảnh sắc nét. Cô quay sang hỏi cô Mỹ:
- Cô Mỹ ơi, tối hôm đó lúc anh Minh ghé quán là khoảng mấy giờ cụ thể cô có nhớ không ạ?
Cô Mỹ nhíu mày suy nghĩ một chút:
- Thằng Nam nó ghi sổ lúc chuẩn bị dọn hàng, tầm gần mười một giờ đêm. Lúc đó đường vắng hoe rồi nên nó mới nhớ rõ vậy.
Công mở điện thoại của mình ra, lướt ngón tay trên màn hình để đối chiếu với bảng lộ trình di chuyển của Minh mà anh ấy đã lập ra từ các dữ liệu trước đó:
- Đúng rồi Minh ơi. Lúc hai mươi hai giờ năm mươi hai phút ngày 11 tháng 5 là mày có mặt ở đoạn đường Thành Thái này. Mà hồi sáng tao có hỏi thằng Sang, cái thằng shipper hay đứng ôm cữ đầu hẻm bên kia đó. Nó nói tối hôm đó nó thấy mày rời Hạt Mây rồi dắt xe đứng lại một lúc ngay dưới cái biển hiệu số 23, xong mới chạy tiếp qua đây. Vậy là cụm từ "sau 23" trong ghi chú của mày có thể chính là mốc địa điểm này đây.
Tôi im lặng nhìn chằm chằm vào dòng chữ trong sổ. Bức ảnh trong điện thoại và dòng ghi trong sổ cùng đối chiếu một sự kiện tạo phiếu duy nhất: Minh đã chủ ý xin ghi số 31 rồi chụp lại nó sau khi rời quán trà sữa Hạt Mây. Chúng củng cố diễn biến ấy, nhưng không phải hai nguồn độc lập cho hai lần xuất hiện khác nhau của con số.
Tuy nhiên, tất cả những gì chúng tôi có được chỉ mới xác nhận rằng con số 31 có liên quan đến hành trình của Minh vào đêm hôm đó. Nó chưa thể chứng minh được số 31 sẽ đứng ở vị trí thứ mấy trong dãy số sáu chữ số mà tôi đang tìm kiếm.
Công hào hứng cầm bút định ghi chữ "số thứ năm" vào bảng phân tích của nhóm trên cuốn sổ tay, nhưng tôi lập tức giữ tay anh lại:
- Khoan đã Công. Mình chưa được phép kết luận như vậy. Trình tự di chuyển của tôi trên đường có thể trùng hợp với các con số, nhưng đó chưa phải là bằng chứng cho thấy số 31 đứng ở vị trí thứ năm trong dãy số độc đắc. Mình cần một dấu khác chỉ rõ vị trí của nó, chứ không thể đếm ảnh và dòng sổ của cùng một lần tạo phiếu thành hai sự kiện. Không được đoán mò.
Linh gật đầu đồng ý với tôi:
- Anh Minh nói đúng đó Công. Mình mới chỉ tìm thấy manh mối của số 31 chứ chưa khóa được vị trí của nó. Cứ ghi nhận dữ kiện này lại đã, rồi mình tính tiếp.
Cô Mỹ đứng bên cạnh nhìn ba đứa chúng tôi bàn bạc với nhau bằng những thuật ngữ kỳ lạ, vẻ mặt bà hiện lên sự tò mò nhưng bà không hỏi sâu thêm. Bà gấp cuốn sổ da đen, cất vào hộc tủ rồi quay sang tôi:
- Nè Minh, tụi bay làm việc nhanh mà có phương pháp. Tao có mối muốn giới thiệu cho tụi bay kiếm thêm tiền. Có chịu nhận không?
Tôi ngẩng đầu lên, hai tai như dựng đứng khi nghe đến từ "kiếm thêm tiền". Khoản nợ học phí của tôi vẫn còn thiếu 500.000 đồng mới đủ mức tối thiểu để nộp cho nhà trường nhằm duy trì trạng thái sinh viên. Hạn chót đóng tiền đang đến rất gần mà trong túi tôi lúc này chẳng còn bao nhiêu.
- Dạ mối gì vậy cô Mỹ? Cô chỉ giùm con với.
Tôi vội vàng hỏi.
Cô Mỹ tì hai tay lên quầy, nói với giọng nhỏ nhẹ hơn:
- Kế bên tuyến đường Bắc Hải có tiệm cơm tấm của bà Lan. Quán cơm đó bán ngon lắm, khách đông nghẹt, đặc biệt là giờ trưa tài xế shipper đứng chờ kín cả lối đi vào quán. Nhưng mà ngặt nỗi bà Lan bả quản lý kiểu cũ, bếp làm món chậm rì, đơn hàng cứ bị sót hoài làm tài xế cự cãi um sùm. Bả đang nhức đầu muốn chết vì vụ đó. Tao mới nói với bả là có mấy đứa sinh viên bên tao mới sửa xong cái menu nhìn gọn gàng lắm. Bả kêu tao hỏi thử coi tụi bay có chịu qua coi giùm bả cái quy trình làm đơn đó không.
Nói rồi, cô Mỹ không đợi tôi trả lời, bà lấy điện thoại ra bấm số gọi đi luôn. Chỉ sau hai tiếng tút dài, đầu dây bên kia đã bắt máy. Cô Mỹ bật loa ngoài để cả ba đứa chúng tôi cùng nghe.
Qua loa ngoài điện thoại, tiếng ồn ào đặc trưng của một quán cơm tấm bình dân vào giờ cao điểm vọng lại rất rõ. Tiếng dao thớt chặt thịt sườn vang lên chan chát trên mặt gỗ, tiếng người gọi món í ới xen lẫn tiếng còi xe ồn ã ngoài hẻm nhỏ.
Giọng một người phụ nữ trung niên thở hồng hộc vang lên trong điện thoại, đầy vẻ mệt mỏi và bực dọc:
- Alo Mỹ hả? Tao nghe nè. Bên tao đang lu bu quá, shipper nó đứng nghẹt trước cửa quán đòi đơn nãy giờ mà bếp làm không kịp, cứ bị sót đơn hoài hà. Tụi nhỏ bên mày biết sửa vụ này thiệt hả? Cho tụi nó qua coi thử một ca ngày mai đi. Nhưng mà nói trước nha, không được đụng vô tiền bạc của quán tao, với lại đừng có làm chậm thêm việc bán buôn của tao đó.
Tôi nhìn Linh và Công. Cả hai cùng gật đầu, nên tôi trả lời vào điện thoại:
- Dạ con chào cô Lan. Ngày mai tụi con sẽ qua quán cô để quan sát thử một ca làm việc ạ.
Thảo luận
Bình luận chương
0 bình luận
Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên bình luận chương này.