Chương 13: Sổ Đơn Dưới Đèn Bàn
Bà Tư đẩy cửa phòng trọ bằng cùi chỏ, hai tay bận bưng một cuốn sổ da màu xanh đen đã sờn gáy, mặt bìa loang lổ những vệt dầu mỡ khô cứng. Bà đặt mạnh nó xuống chiếc bàn gỗ ép, làm chiếc ly nhựa rỗng cắm đầy bút bi của Linh nảy lên một nhịp.
- Sổ đơn của tiệm cơm cô Lan dưới nhà đó. Bả nhờ tao kiếm đứa nào biết tính toán coi giùm cái đống bòng bong này. Tao thấy tụi bây suốt ngày ngồi vẽ vời với bấm máy tính, sẵn tay thì làm đi. Tao xuống đón bả lên nói chuyện cho rõ ràng.
Bà Tư dứt lời liền quay lưng đi ngay, đôi dép tổ ong lẹt xẹt trên hành lang gạch tàu.
Tôi nhìn cuốn sổ đang tỏa ra một mùi đặc trưng của các quán ăn bình dân, sự kết hợp giữa mùi nước mắm kho quẹt, mỡ hành hành phi và mùi giấy ẩm lâu ngày. Tôi lật trang đầu tiên. Những dòng chữ viết tay bằng bút bi xanh đỏ hiện ra, chen chúc, chồng chéo lên nhau như một trận đồ bát quái.
- Linh, phụ một tay đi.
Tôi gọi cô.
Linh đang ngồi bên góc bàn của cô, ngẩng đầu lên nhìn cuốn sổ với vẻ ái ngại. Tuy nhiên, cô vẫn đứng dậy, kéo chiếc ghế nhựa lại gần.
Tôi trải cuốn sổ ra ngay giữa nền gạch bông của phòng trọ. Để dễ theo dõi, tôi dùng kẹp giấy ghim ba tờ giấy A4 ghi danh sách món ăn, giá cả và khung giờ bán lên mặt tấm rèm vải hoa văn màu xanh úa. Tấm rèm này vốn là ranh giới chia đôi căn phòng trọ mười tám mét vuông thành hai thế giới riêng biệt, giờ tạm thời biến thành một chiếc bảng treo thông tin dự án. Tôi cẩn thận không làm xê dịch hay kéo lệch đường ranh giới nhạy cảm đó để tôn trọng không gian riêng của Linh.
Khi bắt đầu đối chiếu các trang giấy viết tay, tôi lập tức phát hiện ra vấn đề.
- Nhìn chỗ này đi.
Tôi chỉ ngón tay vào ba dòng khác nhau ở ba trang liên tiếp. Sau đó tôi nói tiếp:
- Cùng một món gà chiên nước mắm, nhưng trang thứ nhất cô Lan ghi là ‹Gà chiên mắm›, trang thứ hai ghi ‹Đùi gà mắm›, đến trang thứ ba lại thành ‹Cơm gà chiên›. Giá tiền cũng nhảy múa liên tục. Chỗ thì ghi ba mươi hai ngàn, chỗ lại ghi ba mươi lăm ngàn, có đơn khách quen lại tính ba mươi ngàn.
Linh cúi xuống nhìn, ngón tay thanh mảnh của cô lướt qua những dòng mực xanh đã bị nhòe bởi một giọt nước canh đổ vào. Cô gật đầu.
- Đúng rồi. Giá trên sổ lệch với giá ghi trên bảng mica treo trước tiệm từ hai ngàn đến năm ngàn đồng tùy món. Ghi chép kiểu này hèn chi mỗi lần có người gọi điện đặt từ năm hộp trở lên. Tôi lại thấy cô Lan đứng tần ngần trước điện thoại cả buổi để hỏi đi hỏi lại xem khách muốn ăn đùi hay cánh, rồi tính tiền bằng cách bấm máy tính Casio hai ba lần mới dám chốt.
Tiếng bước chân nặng nề từ cầu thang cắt ngang cuộc thảo luận của chúng tôi. Bà Tư đi trước, phía sau là cô Lan, chủ tiệm cơm mang tên chính mình nằm sâu trong con hẻm gần đường Bắc Hải, cách phòng trọ của chúng tôi khoảng một trăm tám mươi mét. Cô Lan mặc chiếc tạp dề màu đỏ đô in logo một hãng dầu ăn, gương mặt lấm tấm mồ hôi và hai tay vẫn còn dính chút bột mì.
Bà Tư bước vào phòng, chỉ tay về phía tôi, Linh và Công lúc này cũng vừa từ phòng bên cạnh ló đầu sang.
- Đó, cô Lan coi đi. Ba đứa này làm được việc lắm, mỗi tội nói hơi nhiều. Cô lựa phần nào tụi nó làm được mà thuê, chứ để cái sổ của cô cho mấy đứa giao hàng tự tính tiền là có ngày bán nhà bù lỗ.
Cô Lan cười xòa, ngồi xuống chiếc ghế đẩu mà Linh vừa kéo ra. Cô vuốt lại mái tóc búi cao, giọng rụt rè.
- Cô đâu có rành mấy cái máy tính này đâu con. Hồi trước con gái cô nó phụ, giờ nó đi làm trên quận 1 rồi, bỏ lại cho cô cái quán với đống đơn đặt hàng qua điện thoại. Mấy bữa nay sinh viên trường kế bên đặt cơm trưa đông quá, cô ghi không kịp, cứ lộn món này qua món kia hoài. Tụi con có cách nào làm cho nó gọn lại giùm cô không?
Tôi không vội vàng vẽ ra những kế hoạch lớn lao như thiết kế trang web, chạy quảng cáo hay cài đặt phần mềm quản lý bán hàng phức tạp. Những thứ đó quá xa vời và không thực tế với một tiệm cơm nằm sâu trong hẻm nhỏ quận 10. Tôi nhìn thẳng vào cô Lan, đưa ra một đề nghị ngắn gọn.
- Tụi con không làm ứng dụng hay quảng cáo gì lớn lao đâu cô. Con đề nghị gói công việc làm gọn trong vòng một ngày. Tụi con sẽ chuẩn hóa lại thực đơn của cô thành một danh sách thống nhất, chụp ảnh rõ ràng sáu món bán chạy nhất để cô gửi cho khách qua Zalo. Lập một bảng theo dõi đơn hàng theo các khung giờ cố định trong ngày, và để thằng Công chạy thử một tuyến giao hàng tối ưu quanh đây để cô biết đường đi nào nhanh nhất.
Cô Lan nghe vậy thì mắt sáng lên.
- Được vậy thì tốt quá. Rồi chi phí sao con? Cô không có nhiều tiền đâu nha.
Tôi lấy một tờ giấy tập học sinh, dùng bút bi viết nhanh các điều khoản thỏa thuận bằng chữ viết tay rõ ràng.
- Phí dịch vụ trọn gói cho phần việc này là ba trăm ngàn đồng. Tụi con sẽ bàn giao cho cô thực đơn có ảnh chụp, bảng thống kê khung giờ bán và bản đồ tuyến đường thử nghiệm. Sau ngày hôm nay, nếu cô thấy ổn và muốn tụi con tiếp tục phụ nhập đơn, sắp xếp danh sách khách hàng vào mỗi buổi tối thì cuối mỗi tuần cô trả thêm cho tụi con một trăm ngàn đồng nữa.
Cô Lan đọc kỹ tờ giấy, gật đầu đồng ý ngay lập tức. Cô ký tên vào góc dưới tờ giấy bằng cây bút mực đỏ của Linh. Tôi chụp lại bản thỏa thuận có chữ ký bằng điện thoại của mình để lưu trữ, rồi đưa bản chính cho cô Lan giữ. Mọi giao dịch tiền nong từ khách hàng, tiền nguyên liệu mua chợ mỗi sáng vẫn hoàn toàn do tiệm của cô quản lý. Nhóm chúng tôi tuyệt đối không đụng vào quỹ bán hàng của tiệm để tránh những rắc rối không đáng có.
Công việc lập tức được triển khai. Tôi kéo chiếc máy tính xách tay cũ của mình ra, bắt đầu nhập liệu. Tôi phải xử lý tổng cộng một trăm hai mươi sáu dòng đơn hàng được ghi chép lộn xộn trong vòng bảy ngày gần nhất từ cuốn sổ dính dầu của cô Lan. Tôi gộp các tên món ăn bị viết sai lệch về một danh xưng duy nhất, ví dụ như toàn bộ ‹đùi gà mắm›. ‹Gà chiên mắm› đều được quy chuẩn thành ‹Cơm đùi gà chiên nước mắm›, nhưng tôi tuyệt đối giữ nguyên số tiền thực thu ghi bên cạnh để không làm lệch sổ sách của tiệm.
Khi dữ liệu được số hóa và đưa vào bảng tính ngoại tuyến, các con số bắt đầu tự nói lên câu chuyện của chúng. Tôi chia các đơn hàng thành bốn khung giờ chính trong ngày.
- Nhìn biểu đồ này đi.
Tôi chỉ vào màn hình cho Linh và Công xem.
- Khung giờ từ mười một giờ trưa đến mười hai giờ ba mươi phút chiếm hơn sáu mươi phần trăm đơn hàng trong ngày. Món đùi gà chiên nước mắm luôn hết trước mười hai giờ. Những đơn gọi sau đó đa số phải đổi món hoặc bị hủy. Cô Lan đang mất doanh thu vì phân bổ nguyên liệu không đều từ đầu ngày.
Trong lúc tôi phân tích số liệu, Linh bắt đầu chuẩn bị cho phần việc của cô. Góc phòng trọ chật chội bỗng chốc biến thành một studio ảnh dã chiến. Linh tận dụng chiếc đèn bàn học có ánh sáng vàng của tôi, dựng một tờ bìa các-tông trắng làm tấm hắt sáng, và dùng mặt sau của một tấm lịch treo tường cũ khổ lớn để làm phông nền màu trắng sữa.
- Ông giữ giùm tôi cái chao đèn đi.
Linh loay hoay chỉnh máy ảnh trên điện thoại.
- Cái kẹp của nó bị lỏng lò xo rồi, cứ buông tay ra là nó gục xuống đất.
Tôi với tay lấy chiếc cán chổi quét nhà bằng nhựa nằm ở góc cửa trọ. Dùng đầu cán chổi đỡ lấy phần thân đèn bàn để giữ cho luồng ánh sáng vàng tập trung đúng vào đĩa cơm sườn bì chả mà cô Lan vừa mang lên. Căn phòng trọ nhỏ hẹp trở nên nóng bức dưới sức nóng tỏa ra từ bóng đèn dây tóc công suất lớn. Chưa kể, chiếc tủ lạnh cũ ở góc phòng cứ thỉnh thoảng lại lên cơn rung bần bật, phát ra những tiếng rè rè chói tai đúng lúc Linh chuẩn bị bấm máy.
- Chờ chút, đợi cái tủ lạnh nó ngắt điện đã.
Linh nhíu mày, ngón tay dừng trên màn hình cảm ứng.
- Rung thế này là nhòe hình hết.
Chúng tôi im lặng đứng chờ khoảng mười giây cho đến khi tiếng block máy tủ lạnh dịu xuống. Linh nhanh tay bấm máy liên tục từ ba góc độ khác nhau.
Sau khi chụp xong món thứ nhất, Linh ngồi xuống kiểm tra lại ảnh trên máy tính. Cô dùng phần mềm chỉnh sửa ảnh cơ bản để cân bằng lại sắc trắng, giúp hạt cơm nhìn rõ độ dẻo và không bị xám xịt dưới ánh đèn phòng trọ. Tôi nhìn vào màn hình, đề xuất.
- Hay là cô kéo cho miếng sườn nhìn to hơn một chút đi, nhìn cho nó hấp dẫn.
Linh quay sang nhìn tôi bằng ánh mắt sắc lẹm.
- Tôi chỉ chỉnh màu cho đúng thực tế và nhìn sạch sẽ thôi. Miếng thịt ngoài đời nhỏ thế nào thì lên hình phải đúng như vậy. Ông muốn miếng thịt lớn hơn thì xuống nói cô Lan cắt miếng thịt to ra, đừng có bắt tôi vẽ thêm trên hình. Khách mua về thấy không giống hình chụp là họ chửi tiệm cơm chứ không chửi tôi đâu.
Tôi im lặng gật đầu. Sự nghiêm túc của Linh trong việc giữ độ chân thực của hình ảnh là một điểm tựa tốt để xây dựng lòng tin lâu dài cho tiệm cơm.
Ở góc bên kia, Công cũng đang hoàn thành nhiệm vụ của mình. Cậu vừa chạy xe máy trở về sau khi thực hiện chuyến đi khảo sát thực tế qua ba điểm giao hàng quen thuộc của tiệm cơm trong bán kính hai cây số. Công cầm một cuốn sổ tay nhỏ, trên đó ghi chép chi tiết thời gian di chuyển bằng bút bi.
- Đây nè, tao ghi rõ rồi. Tuyến đường thứ nhất chạy theo thói quen cũ của tao, tức là cứ đi đường lớn rồi rẽ vào hẻm, mất tổng cộng ba mươi tám phút vì kẹt xe ngay ngã tư Thành Thái. Còn tuyến đường thứ hai chạy theo bản đồ ông vẽ trên máy tính thì mất ba mươi mốt phút. Nhưng mà ông vẽ thiếu một chi tiết quan trọng.
Công chỉ ngón tay đầy dầu mỡ vào bản đồ của tôi.
- Bản đồ của ông không biết cái hẻm nhỏ cắt ngang từ đường Bắc Hải qua hẻm này né được hai cái xe gác là tới liền. Tao biết lối đó vì tao từng bị mắc kẹt giữa hai cái xe gác ở đó cả buổi trưa rồi. Đi lối đó rút ngắn thêm được bốn phút nữa mà hoàn toàn không phải chạy ngược chiều nguy hiểm.
Tôi ghi nhận ý kiến của Công, điều chỉnh lại tuyến đường tối ưu trên bản đồ số. Sự kết hợp giữa lý thuyết bản đồ và kinh nghiệm thực địa của một shipper chạy xe hàng ngày đã tạo ra một lộ trình giao hàng thực sự hiệu quả cho tiệm cơm.
Đến khoảng ba giờ chiều, khi công việc chuẩn hóa số liệu tạm lắng, tôi ngồi lại bên bàn học để thực hiện một việc riêng. Tôi cần dựng lại mẫu sổ đơn dùng chung cho nhóm để quản lý các công việc sau này. Tôi cầm chiếc điện thoại cũ của Minh lên, dùng dấu vân tay của cơ thể hiện tại để mở khóa màn hình.
Tôi mở ứng dụng giao hàng mà Minh từng đăng ký tài khoản chạy thêm trước đây. Phiên đăng nhập vẫn còn nguyên vẹn. Tôi vào mục lịch sử giao hàng để trích xuất dữ liệu địa chỉ cũ nhằm mục đích học cách ghi chép lộ trình của Minh. Để bảo mật thông tin cá nhân, tôi cẩn thận dùng công cụ bôi đen để xóa sạch tên khách hàng và số điện thoại của họ. Chỉ xuất ra ba thông tin chính: thời gian nhận đơn, địa điểm nhận hàng và khu vực trả hàng.
Khi lướt qua danh sách các đơn hàng từ cuối tháng tư đến đầu tháng năm, mắt tôi dừng lại ở ba cụm đơn hàng bất thường. Tôi mở cổng thông tin sinh viên của trường đại học trên một tab trình duyệt khác, đối chiếu với lịch học của Minh.
Kết quả hiện ra rõ ràng trên màn hình. Ba buổi học mà Minh bị hệ thống của trường đánh dấu vắng mặt không lý do đều rơi vào chiều thứ Tư. Việc đầu tiên tôi làm là loại trừ khả năng đơn giản nhất. Chị Hạnh từng nói Minh có ca làm chiều thứ Ba và thứ Tư ở Hạt Mây, nên một buổi chiều thứ Tư vắng học hoàn toàn có thể chỉ là chuyện cậu ta bỏ tiết đi làm kiếm tiền. Tôi mở bảng phân ca của quán mà chị Hạnh gửi kèm trong tệp dữ liệu hôm trước ra đối chiếu. Ca chiều thứ Tư của Minh bắt đầu lúc mười lăm giờ ba mươi. Nhưng ba cụm đơn hàng kia lại được tài khoản của cậu nhận trong khoảng từ mười ba giờ bốn mươi phút đến mười lăm giờ mười phút, tức là nằm gọn trong phần thời gian trước giờ vào ca, phần mà ca làm ở Hạt Mây không giải thích được. Và điểm nhận hàng của toàn bộ số đơn này đều nằm trong bán kính vài trăm mét xung quanh quán trà sữa Hạt Mây trên đường Nguyễn Tri Phương.
Tôi ngồi lặng đi trước màn hình máy tính.
Linh từ phía sau bước tới, tay cầm ly nước lọc. Cô nhìn vào hai bảng dữ liệu đang được đặt song song trên màn hình của tôi, rồi khẽ hỏi.
- Ông thấy gì rồi đúng không?
Tôi chỉ vào các mốc thời gian được tô màu vàng nhạt trên bảng tính.
- Ba lần trùng khớp. Trừ ca làm ở Hạt Mây ra rồi mà phần thời gian còn lại vẫn kín đặc. Cả ba buổi chiều bị đánh dấu vắng mặt, tài khoản của cậu ấy đều chạy liên tục quanh khu vực quán trà sữa từ trước giờ vào ca.
Linh đặt ly nước xuống bàn, nét mặt cô trở nên đăm chiêu. Cô nhắc lại chi tiết từ biên bản làm việc hôm trước.
- Chiếc tai nghe đứt jack cắm tìm thấy trong cái hộp nhựa trên kệ tối qua cũng có những vệt nhiễu tương tự tần số ghi âm. Ông nghĩ sao?
Tôi lắc đầu, cố giữ cho mình một cái đầu lạnh của người đã trải qua nhiều năm va vấp ngoài xã hội.
- Ba lần trùng giờ là lý do để chúng ta kiểm tra tiếp, chưa phải lý do để buộc tội hay đưa ra kết luận cuối cùng cho bất kỳ ai. Cổng trường chỉ chứng minh Minh không có mặt ở lớp học. Ứng dụng giao hàng chỉ chứng minh tài khoản của Minh đã nhận và hoàn thành đơn hàng. Bản đồ định vị cũng chỉ giới hạn điểm nhận trong một bán kính nhất định quanh quán trà sữa chứ không chỉ đích danh Minh đã đứng ở đâu trong quán. Chúng ta chưa có bằng chứng trực tiếp nào kết nối những việc này lại với nhau thành một câu chuyện hoàn chỉnh.
Linh gật đầu đồng ý với sự cẩn trọng của tôi. Cô không lấy chiếc túi khóa kéo chứa chiếc tai nghe đứt ra khỏi ngăn kéo chung. Chiếc tai nghe vẫn nằm nguyên vị trí cũ của nó từ tối hôm qua, đóng vai trò là một vật chứng kỹ thuật chưa được kiểm chứng đầy đủ.
Tôi thực hiện thao tác lưu toàn bộ ảnh chụp màn hình lịch sử giao hàng đã được che thông tin khách vào một thư mục chung trên máy tính của tôi, đặt tên thư mục theo định dạng ngày tháng: `Data_GiaoHang_18052026`. Bản gốc của các dữ liệu này vẫn nằm an toàn trên điện thoại của Minh dưới lớp bảo mật sinh trắc học mà chỉ có cơ thể này mới mở được.
Linh lấy cuốn sổ kiểm chứng của cô ra, dùng bút bi ghi lại nguồn gốc và thời gian sao chép dữ liệu: ‹Trích xuất lịch sử giao hàng từ tài khoản Minh ngày 18/05/2026 lúc 15:30›.
Khoảng bốn giờ chiều, Linh nhắc tôi món còn nợ từ hôm trước. Chúng tôi đi bộ ra tiệm photocopy ở góc ngã tư. Con trai chú Hùng đã xuất sẵn đoạn từ mười chín giờ ba mươi sáu đến mười chín giờ bốn mươi hai tối ngày mười một vào chiếc USB màu xanh của Công, bản gốc vẫn nằm nguyên trên đầu ghi của tiệm. Linh mở laptop ngay tại quầy, chạy lệnh tính mã băm của tệp vừa nhận rồi chép nguyên chuỗi ký tự đó vào cuốn sổ kiểm chứng, ghi kèm giờ nhận và tên người giao. Chú Hùng ký nháy vào dòng ghi đó, tôi ký bên cạnh. Chúng tôi chưa mở tệp ra xem, chỉ cất chiếc USB vào ngăn kéo chung cùng túi khóa kéo đựng tai nghe.
Chúng tôi cũng thống nhất khoan quay lại quán trà sữa Hạt Mây để hỏi xin thêm camera an ninh. Lý do rất đơn giản: chúng tôi chưa xác định được chính xác đoạn camera cần xin thuộc ngày nào và khung giờ nào cụ thể, trong khi đầu ghi của quán chỉ khóa lại từng mục sự kiện rời rạc chứ không giữ nguyên cả một buổi chiều. Hơn nữa, chỉ trong vòng một tuần tôi đã nhờ chị Hạnh mở camera hai lần rồi. Hỏi tới lần thứ ba mà trong tay chưa có nổi một khung giờ cụ thể thì chỉ tổ làm chị đâm ra nghi ngờ chính đứa nhân viên bán thời gian của mình.
Đến năm giờ chiều, công việc cho tiệm cơm cô Lan hoàn tất. Chúng tôi đi xuống nhà, bàn giao lại cho cô Lan cuốn sổ đơn đã được sắp xếp khoa học. Một bảng thực đơn mới in trên giấy cứng có kèm ảnh chụp sáu món ăn sắc nét của Linh, và một tờ hướng dẫn phân bổ nhân sự giao hàng theo khung giờ của tôi.
Cô Lan cầm tập tài liệu, cười hớn hở. Cô rút từ trong túi tạp dề ra ba tờ tiền mệnh giá một trăm ngàn đồng còn mới, vuốt thẳng thớm rồi đưa cho tôi.
- Tiền công của tụi con đây. Làm ăn kỹ lưỡng vậy cô ưng bụng lắm.
Tôi nhận tiền, gửi lời cảm ơn cô rồi cùng Linh và Công đi bộ về lại phòng trọ. Tôi mở cuốn sổ quỹ chung của nhóm ra, dùng bút mực đen ghi chép cẩn thận các khoản tiền.
Tôi đánh dấu ba khoản chi cần thiết trong những ngày tới. Hai trăm mười ngàn đồng dành cho tiền ăn tối thiểu ba ngày của riêng tôi. Sáu mươi ngàn đồng hỗ trợ xăng xe cho Công chạy việc. Ba mươi ngàn đồng còn lại để in nhãn dán mới nếu phát sinh đơn hàng. Cả ba khoản mới chỉ nằm trong mục dự trù, chưa thực chi và vẫn ở nguyên trong quỹ tiền mặt của nhóm.
Tôi thực hiện việc đối soát toàn bộ tiền mặt đã nhập quỹ từ trước đến nay để cập nhật số dư chính xác. Nguyên tắc tôi đặt ra cho cuốn sổ này rất đơn giản: chỉ những đồng nào đang thực sự nằm trong hộp tiền mới được ghi vào cột tiền mặt. Cuốn sổ ghi nhận năm nguồn tiền mặt đã nhập quỹ:
Một là năm ngàn đồng, phần còn lại của bảy mươi hai ngàn tiền mặt tôi có lúc tỉnh dậy. Sáu mươi bảy ngàn kia đã tiêu sạch cho xe buýt và cơm căn-tin trong hai ngày đầu.
Hai là ba mươi sáu ngàn đồng tiền mặt ròng của ca chạy xe ngày 14/05.
Ba là ba trăm mười ngàn đồng còn lại từ khoản tiền công bốn trăm năm mươi ngàn tại quán trà sữa Hạt Mây, sau khi tôi trả một trăm bốn mươi ngàn tiền nợ cũ cho Linh.
Bốn là một triệu không trăm mười ba ngàn đồng phí cuốc xe ròng từ các ca chạy từ ngày 15/05 đến ngày 18/05 đã được đối soát và rút về tiền mặt đầy đủ.
Năm là ba trăm ngàn đồng tiền công vừa nhận từ gói dịch vụ của tiệm Cơm Cô Lan.
Bên dưới, tôi kẻ riêng một dòng mang tên ‹phải thu› cho những khoản không được phép đụng tới. Chín mươi hai ngàn đồng phí cuốc xe ngày 14/05 vẫn nằm trong ví ứng dụng chờ đối soát, còn tám mươi hai ngàn đồng trong ví điện tử cá nhân của Minh thì không thuộc quỹ chung. Cả hai khoản này đều không được cộng vào số dư.
Tổng cộng số tiền mặt hiện có trong quỹ của chúng tôi là một triệu sáu trăm sáu mươi bốn ngàn đồng. Con số này tuy nhỏ nhưng là kết quả của sự lao động nghiêm túc và minh bạch của cả ba đứa trong suốt những ngày qua.
Vừa lúc tôi chuẩn bị khép cuốn sổ quỹ lại thì điện thoại của tôi rung lên. Đó là tin nhắn chuyển tiếp từ cô Lan.
Tôi mở tin nhắn ra xem. Cô Lan viết: ‹Minh ơi, có đứa bên Ban chấp hành Đoàn trường đại học kế bên mới nhắn tin cho cô. Trưa mai họ có cái hội chợ việc làm cuối học kỳ hay gì đó, muốn đặt một trăm hai mươi hộp cơm trưa. Họ hỏi cô kham nổi không để họ chuyển cọc. Cô lo quá, một trăm hai mươi hộp nấu thì kịp mà giao một lượt trước mười một giờ hai mươi trưa cô làm không nổi. Con coi có phụ cô được vụ này không?›
Kèm theo tin nhắn của cô Lan là ảnh chụp màn hình yêu cầu của khách hàng. Phía câu lạc bộ sinh viên đưa ra mức phí trọn gói cho việc chuẩn bị và giao hàng là một triệu tám trăm ngàn đồng. Trong đó, có một điều khoản ghi rõ: nếu toàn bộ một trăm hai mươi hộp cơm được giao đến đúng địa điểm trước mười một giờ hai mươi phút trưa ngày 19/05. Bên mua sẽ thanh toán thêm khoản tiền thưởng đúng hạn trị giá sáu trăm ngàn đồng. Nếu trễ hẹn quá mười lăm phút, khoản thưởng này sẽ bị hủy bỏ hoàn toàn.
Tôi nhìn con số sáu trăm ngàn tiền thưởng hiển thị trên màn hình điện thoại.
Tôi quay sang nhìn Linh và Công đang ngồi trên chiếu. Tôi hít sâu rồi nói.
- Cô Lan vừa nhắn có đơn đặt một trăm hai mươi hộp cơm cho trưa mai. Nếu giao đúng giờ trước mười một giờ hai mươi, tụi mình được thưởng thêm sáu trăm ngàn. Cô Lan hỏi tụi mình có nhận điều phối và giao hàng không.
Công nhảy dựng lên khỏi chiếu, hai mắt sáng rỡ.
- Nhận chứ! Một trăm hai mươi hộp là chuyện nhỏ với một shipper chuyên nghiệp như tao. Để tao lo phần chạy xe cho.
Linh nhìn tôi, giọng cô trầm xuống nhưng đầy kiên quyết.
- Khoản tiền này cộng với số tiền hiện có trong quỹ sẽ giúp ông tiến rất gần đến mức tiền học phí tối thiểu phải đóng cho trường để không bị khóa tài khoản sinh viên. Đây là cơ hội tốt nhất của chúng ta từ đầu tuần đến giờ.
Tôi gật đầu, ngón tay gõ nhanh lên bàn phím điện thoại để gửi tin nhắn xác nhận cho cô Lan sau khi đã gọi điện hỏi nhanh xem cô có đủ nguyên liệu. Và nhân lực đứng bếp để nấu kịp số lượng cơm đó trong buổi sáng mai hay không. Đầu dây bên kia, cô Lan khẳng định chỉ cần nhóm lo phần chia hộp, dán nhãn và vận chuyển đúng giờ. Phần bếp núc cô và hai người phụ việc ở tiệm hoàn toàn có thể hoàn thành trước mười giờ ba mươi sáng.
Tôi cất điện thoại vào túi, nhìn hai người cộng sự của mình dưới ánh đèn bàn vàng vọt của căn phòng trọ.
Chúng tôi chỉ còn một buổi tối duy nhất để lên phương án chia tuyến đường chi tiết. Chuẩn bị nhãn dán phân loại món ăn cho một trăm hai mươi hộp cơm và tìm thêm người hỗ trợ giao hàng để kịp tiến độ giao trước mười một giờ hai mươi trưa mai. Một công việc đòi hỏi sự chính xác đến từng phút mà chỉ cần một chiếc xe máy gặp sự cố dọc đường hoặc một địa chỉ bị tìm sai, toàn bộ nỗ lực của cả nhóm sẽ đổ sông đổ biển.
Thảo luận
Bình luận chương
0 bình luận
Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên bình luận chương này.